Chủ Nhật, 29 tháng 6, 2008

Ngũ Hành - Tinh Hoa Văn Hoá Việt Nam (2)

CHƯƠNG II.
CÁC NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG NGŨ HÀNH

2.1.SỰ KIỆT SỨC CỦA NÔNG THÔN VIỆT NAM TRONG HỘI NHẬP
2.1.1.Làng cổ truyền hình tròn, nơi quần tụ các giá trị vật chất và phi vật chất của dân tộc Việt nam

Vấn đề tam nông, (nông dân, nông nghiệp, nông thôn) là một vấn đề lớn của nước ta. Vì hơn 70% dân Việt đang sống ở nông thôn, làm nghề nông hoặc ít nhiều dính dáng đến nghề nông. Không những thế vấn đề tam nông còn cực kỳ phức tạp, vì nó quan hệ đến mọi lãnh vực khác trong xã hội, đặc biệt là việc xây dựng một chiến lược phát triển bền vững.

Muốn xây dựng một chiến lược phát triển cho vấn đề tam nông cần có bức phác họa khái quát, không rườm rà, mà lại chứa đựng được những xu thế vận động cốt yếu đang vận hành trong lòng nông thôn, trong nông nghiệp và cả trong lòng người nông dân nữa.

Trước hết, ta hãy nhìn vào lịch sử. Phác họa về nông thôn vài trăm năm trước là: “Nông thôn ngày xưa được đặc trưng bởi làng. Làng có lũy tre xanh bao bọc. Vào làng phải qua cổng. Gần cổng làng thường có cây đa, rồi giếng nước. Tại trung tâm làng nhất định có đình làng, thờ Thành Hoàng và các bậc tiên nho. Đâu đó trong làng có vài ngôi đền, ngôi chùa. Trong làng có vài tộc họ. Sinh sống thì bằng làm ruộng là chủ yếu, có con trâu trên đồng, vợ đi cấy chồng đi cầy. Trong làng thường có các cụ đồ nho, lúc thường thì dạy học, lúc vui buồn thì ngâm vịnh, đọc thơ. Những người ra khỏi làng thì thường bảo vệ cái danh dự của làng, nếu có mang về điều gì thì phải là điều danh giá. Nếu làm ô nhục làng thì thà chết tha phương không về làng nữa. Sống trong làng thì thương yêu đùm bọc nhau. Có giận nhau thì cũng tìm cách hòa hoãn mà giải quyết. Đa phần các làng đều có hương ước, là “bộ luật dân sự” qui định cách ứng xử của dân làng với nhau”

Ta hãy phân tích cấu trúc làng xưa của nông thôn Việt nam. Lũy tre để bảo vệ hữu hình về đất đai và an ninh. Giếng nước để cung cấp nhu cầu thiết yếu hàng ngày. Cánh đồng để lao động. Đời sống văn hóa thì xảy ra nơi đình chùa miếu mạo. Vậy làng là một xã hội nhỏ, bao quát những nhu cầu quan trọng nhất về cuộc sống vật chất và phi vật chất.

Làng đã tồn tại bền vững trên đất Việt hàng ngàn năm qua và là hạt nhân cho sự trường tồn của dân tộc ta qua bao biến cố. Làng sở dĩ là hạt nhân trường tồn, vì trong làng có đủ những yếu tố từ đơn giản nhất đến yếu tố cao cấp nhất của xã hội đương thời. Yếu tố đơn giản là lao động làm ra hạt lúa, bó rau, con gà, con lợn,... Yếu tố cao cấp nhất là cái nôi học tập để duy trì và bồi dưỡng văn hiến quốc gia, như sản sinh ra các điệu hò vè, các phương pháp chữa bệnh, các làn điệu dân ca, các nghệ thuật điêu khắc, các vị sĩ phu... Làng là đơn vị hành chính nhỏ nhất trong lịch sử, nhưng lại chứa đựng toàn bộ những yếu tố cấu thành của xã hội Việt cổ. Đặc biệt, trường làng ngày xưa có thể đào tạo những người đi thi một bước, đỗ tam nguyên, thành trạng nguyên tiến sĩ, tức là làng còn là tàng thư văn hóa cấp cao nhất của xã hội nữa. Lao động trong làng nhằm đáp ứng nhu cầu của cuộc sống vật chất, đôi phần được trao đổi ra ngoài. Tinh hoa cuộc sống tinh thần được tạo ra trong làng và rồi ở lại để bồi đắp truyền thống của làng. Cái phát tiết ra khỏi làng phần lớn các các giá trị phi vật thể, và được xem như tài sản chung của xã hội. Vậy nông thôn xưa chính là cái nơi quần tụ, bồi đắp và phát triển những yếu tố đặc trưng nhất về vật thể và phi vật thể của cả xã hội.

Cho nên chỉ cần nhìn bức tranh cổ mà phác họa nên bức tranh mới, so sánh phân tích là chúng ta thấy những biến động nào đang làm cho nông thôn Việt nam đi lên, những biến động nào đang làm cho nông thôn tụt hậu. Dưới đây tập trung phân tích những phác họa về nông thôn Việt nam hiện nay theo quan điểm Ngũ Hành.(1)

2.1.2.Bức tranh về làng dọc trục thời hiện đại.
Ngày nay, làng không còn là đơn vị hành chính cấp nhỏ nhất, mà là xã. Trong xã cũng có đầy đủ các yếu tố điện đường trường trạm, có UBND, HĐND, có nhà văn hóa, có trường học cấp I và cấp II. Nhưng một lượng lớn lao động trong xã đã bươn trải ra ngoài địa bàn địa lý của xã để kiếm sống. Phần lớn thanh niên trai tráng đều đi học và đi làm xa. Họ ít có điều kiện ở lại để hấp thu các giá trị tinh thần cổ truyền, rồi thêm các giá trị hiện đại vào để biến thành các giá trị phi vật thể mới, bồi đắp cho nông thôn. Cũng như thế, một cô gái đẹp lớn lên trong xã ít có cơ may còn ở lại nông thôn trở thành các hiền mẫu nuôi dưỡng con cái trong nhà, bảo tồn các giá trị ngoài xã, mà ngược lại phần nhiều phải lên thành thị, trở thành phu nhân các đại gia, hoặc giả đi làm vợ xa của người Hàn quốc, người Đài loan, thậm chí cả người Mã lai nữa.

Đời sống tâm linh nơi làng xã bây giờ có phần nhạt. Người ta chủ yếu cúng bái vớ vẩn. Đình làng không còn cái vẻ uy nghi của nơi lưu trữ và truyền bá văn hiến. Trường làng không còn là nơi bồi đắp các kiến thức cao nhất đương thời. Nhà văn hóa không phải là nơi cung cấp thông tin sống động và thiết thực. Người dân trong làng bây giờ phần lớn lo kiếm tiền nuôi con, con học hành xong thì ra thành phố làm việc. Vậy có thể đưa ra nét thứ nhất của bức phác họa về nông thôn đương đại là: Nông thôn không còn là nơi tàng trữ và phát huy văn hiến mà đang vắt sức nuôi thành thị.

Bây giờ nông thôn chủ yếu phát triển theo dọc trục giao thông. Người ta thích mặt đường, mặt ngõ. Mọi thứ đều bám vào dọc trục mà sinh sôi phát triển, từ cửa hàng bán vật tư nông nghiệp đến tiệm làm đầu…Hình ảnh này như một cái xương cá có bám lơ thơ vài mẩu thịt. Các mẩu thịt ngày càng dày đặc lên, rồi lại làm cho sự lưu thông dọc trục bị ùn tắc. Tai nạn giao thông, các vấn đề về giải phóng mặt bằng và nhiều vấn nạn khác cũng bám theo dọc trục mà phát triển. Sự phát triển theo dọc trục không những chỉ ở nông thôn mà còn cả ở các thành phố cỡ trung và cỡ lớn, chẳng hạn như Thanh Hóa, Ninh Bình,… Sự phát triển dọc trục làm các dòng chảy thông tin, dòng chảy vật chất dễ đến mà cũng dễ đi. Có thể nói rộng ra là nông thôn bây giờ không còn là nơi quần tụ của các yếu tố vật chất và tinh thần chủ yếu của xã hội theo kiểu tích lũy mà đang bị chảy dọc trục. Chính vì sự phát triển nông thôn không dựa trên nền tảng của sự tích lũy, cho nên có thể đoán nó đang đi đến trạng thái hụt hơi, kiễng chân. Vậy đường nét thứ hai của bức tranh nông thôn là: vắt sức nuôi thành thị ngày càng nhiều mà sự bổ sung nội tại cho tiềm lực nông thôn ngày càng hụt.

Do vậy, bức phác họa đơn giản về nông thôn Việt nam thời nay là:

- Phố quê dạng dài dọc trục đang thay dần làng hình tròn bao bọc bởi lũy tre và cánh đồng,
- Quá trình vắt sức nông thôn để cung cấp cho thành thị ngày càng mạnh, quá trình bồi đắp các giá trị văn hóa và tinh thần ngày càng giảm.

Hai nhận định trên cho phép chúng ta nhìn thấy quá trình kiệt sức nông thôn đang ngày càng xảy ra mãnh liệt. Khoảng cách giầu nghèo ngày càng giãn rộng chỉ là hình thức bề ngoài của sự kiệt sức đó. Muốn tìm một con đương phát triển bền vững, luôn luôn có một quá trình bồi đắp ngược từ thành thị về nông thôn cần phải có một cơ sở lý luận. Cơ sở ấy phải thỏa mãn đúng một cách phổ quát cho mọi quá trình vận động phát triển, mà sự phát triển nông thôn Việt nam trong giai đoạn hiện tại chỉ là trường hợp riêng.

Vì vậy, chúng tôi tìm về học thuyết Âm dương – Ngũ hành, để nghiên cứu căn cơ của vận động và phát triển. Hy vọng học thuyết ấy có thể cung cấp một cách nhìn khác so với các phân tích hiện nay.

2.1.3 Vấn đề nông dân, nông nghiệp và nông thôn theo Ngũ hành

Lịch sử dân tộc ta là lịch sử đấu tranh chống giặc ngoại xâm. Sức lực cơ bản để dân tộc Việt nam tồn tại và đấu tranh được tích lũy từ nông thôn. Tất cả những gì chúng ta mang ra chống giặc, giữ nước đều lấy từ nông thôn (trừ giai đoạn kháng chiến 30 năm chống Pháp và chống Mỹ là có sự viện trợ quốc tế). Nông thôn đã tích lũy tất cả các giá trị vật chất và tinh thần cho dân tộc ta trong cuộc đấu tranh lâu dài dựng nước và giữ nước ngàn năm.

Cái làng hình tròn trong nông thôn xưa là thuộc hành KIM. Bây giờ nông thôn đã bị cấu trúc xương cá dọc trục giao thông làm biến dạng. Cấu trúc ấy không phù hợp cho sự tích lũy. Cấu trúc ấy chỉ phù hợp cho hành THỦY và hành HỎA. Hành Thủy thì thu vào sau đó tản ra ngay mà không có chế biến. Hành Hỏa thì lúc nào cũng bừng bừng như ngọn lửa, khi hết năng lượng thì trở thành tro tàn nguội lạnh.

Như trên đã phân tích nguồn lực mà nông thôn ngày nay tích lũy được thì phần lớn chảy ngay ra thành thị. Nguồn nhân lực sung mãn nhất không có điều kiện ở lại để xây dựng nông thôn, họ cũng không có điều kiện để tích lũy được thật nhiều (tri thức và tiền của) ngay trong lòng nông thôn. Như lý thuyết Ngũ hành đã phân tích, nguồn gốc của mọi sự phát triển phải là tích KIM. Muốn nông thôn có thể tích KIM được cần phải làm những việc sau:

a. Qui hoạch không gian hình dạng
Theo Ngũ hành thì hình xương cá không phải là hình thể thuận lợi cho việc tu tích. Phải qui hoạch lại các cụm dân cư nông thôn theo dạng hình tròn hoặc gần tròn. Mô hình mẫu về làng mới có thể như sau. Giữa làng là một quảng trường, có các công trình văn hóa, tâm linh, có trụ sở internet, có thể thao,… Xung quanh quảng trường là nhà dân và UBND, các cơ quan chính quyền, các cơ sở thương mại. Xa hơn nữa là trường học, các doanh nghiệp sản xuất nhỏ, các cơ sở chế biến nông sản, ngoài cùng là cánh đồng. Một mẫu làng hình tròn như vậy để đảm bảo cho việc tích Kim vật thể và tích Kim phi vật thể. Việc qui hoạch nông thôn thành nhiều cụm hình tròn phải được tính toán kỹ càng, để các vòng xoáy chuyển động của các dòng vật chất và thông tin chậm lại trong phần trung tâm, sao cho các dòng ấy có cơ hội tích lắng.

b.Tích Kim từ qui mô nhỏ
Biến đổi một khu dân cư từ dạng xương cá thành dạng tròn không dễ dàng, vì vấn đề sở hữu đất đai, vì quĩ đất có hạn. Cho nên phải qui hoạch các mẫu làng kiểu mới từ qui mô rất nhỏ. Mỗi tỉnh chỉ nên chọn một vùng thuận tiện để qui hoạch một đô thị nông thôn cỡ 1000 dân, trên qui mô vài hecta. Cụm dân cư làng mới có thể được chọn từ những miền đất không phải là cánh đồng. Trong vùng mới này nhất thiết phải chọn các cán bộ mới, trẻ, có năng lực, có tâm huyết làm cốt lõi. Sau khi qui hoạch vùng thì chỉ lựa chọn những cư dân có tay nghề cao về sinh sống. Họ vừa làm nghề nông, nhưng lại vừa xây dựng văn hóa của khu mới, họ có thể làm thêm các nghề thủ công khác nữa. Cũng có thể lấy một công nghệ mới làm trung tâm cho vùng đó. Ví dụ nghề trồng hoa lan, trồng rau sạch, hoặc chế biến đồ hộp cho các siêu thị. Dần dần khi mô hình đó được thử thách, được bổ sung điều chỉnh, thì mở rộng ra thành nhiều làng mới trong tỉnh, trong nước.

c.Gạt bỏ cản trở xã hội
Tỉnh Phú Yên có chính sách đãi ngộ trí thức về tỉnh công tác. Chính sách đó không thu hút được nhiều nhân tài, mặc dù rất cởi mở. Vì khi các trí thức về tỉnh bị xếp đan xen vào hệ thống tầng tầng lớp lớp cán bộ cũ. Cái cũ đã làm hòa tan cái mới. Cán bộ mới không trở thành các nhân tinh thể (crystal) khởi mần cho tich KIM (Crystal Growing). Cán bộ mới không phát huy tác dụng, họ chán nản. Cho nên khi xây dựng mô hình tích KIM mới, thì phải tạo điều kiện để các cán bộ có tâm và tài tự nguyện về làng và phát huy tối đa năng lực sáng tạo của họ. Điều đó có nghĩa là trong làng mới, “đô thị làng” thì hệ thống cán bộ phải hoàn toàn mới, được tuyển chọn cẩn thận. Làng mới đó không qua cấp hành chính trung gian, mà phải trực thuộc thẳng cấp tỉnh.

d.Dân chủ theo làng cổ
Làng cổ có hội đồng làng xã, gồm các vị đương chức, các vị cao niên, các hưu trí, các trí thức. Các quyết sách của làng được thảo luận dân chủ ở đình làng. Đó chính là tinh hoa văn hóa làng của dân tộc ta. Ngày nay chúng ta đang xây dựng dân chủ cở sở. Tuy chúng ta có nhiều nỗ lực phát huy dân chủ cơ sở, nhưng dân chủ cở sở ngày nay vẫn bị các dòng họ lớn trong làng thao túng. Vì vậy, trong làng mới cần phát huy cao độ dân chủ ngay từ lúc lập mới, phải có chính sách đặc biệt cho làng mới để dân chủ không bị bóp méo. Chế độ bầu cử phải là phổ thông tuyệt đối và trực tiếp. Dần dần các tác phong dân chủ đó lan rộng ra các làng xương cá khác. Dân chủ trong làng mới sẽ là tấm gương để cải tạo dần các hủ tục trong nông thôn hiện nay, nâng dần dân trí và mức độ dân chủ trong toàn xã hội.

e.Tích Kim công nghệ cho nông thôn
Theo lý thuyết Ngũ hành, việc tích lũy hành KIM chủ yếu là tích lũy các giá trị phi vật thể. Trong giai đoạn trước mắt, Kim phi vật thể là công nghệ. Nông thôn muốn phát triển không chỉ dựa vào cây lúa và con lợn. Muốn có các sản phẩm khác, phải có các giá trị công nghệ và tri thức mới. Ví dụ kinh nghiệm nuôi ba ba, nuôi tôm, trồng hoa phong lan, trồng rau sạch, làm gốm, nấu thép, làm đồ mỹ nghệ, đồ gỗ xuất khẩu…Tuy vậy, các giá trị công nghệ đến được tay nông dân là một việc khó khăn. Để công nghệ được phổ biến rộng rãi phải có một quĩ công nghệ ở cấp Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, tập hợp thành cơ sở dữ liệu, thành các băng hình, các hồ sơ công nghệ chi tiết. Nhà nước bỏ tiền ra mua công nghệ đó, rồi bán rẻ lại cho nông dân theo giá giảm dần. Khi các làng mới được thành lập, thì nhất thiết phải là một làng không thuần nông, phải là một làng công nghệ, thậm chí trồng lúa và nuôi lợn cũng phải ứng dụng công nghệ cao. Trong làng phải có ít nhất một vài gia đình (hoặc liên hộ) hoạt động công nghệ theo hình thức doanh nghiệp, để triển khai công nghệ mới. Các làng mới trong cả nước phải được nối mạng với nhau để trao đổi công nghệ, trao đổi thông tin nghề nghiệp, và thương mại.

Quĩ công nghệ nông nghiệp là một hình thức tích Kim ở qui mô quốc gia. Quĩ quốc gia này cỡ 1000 tỉ đồng. Nhà nước bỏ ra số tiền ban đầu ấy, mua lại của các nhà khoa học, của những người nông dân làm ăn giỏi, thậm chí của nông dân nước ngoài như Thái Lan, Trung quốc... Nhưng để tạo điều kiện cho công nghệ đến tay người nông dân, còn phải có đối tượng tiếp thu. Do đó trong các làng mới cần có trường nghề. Trường nghề là khâu quan trọng trong quá trình chuyển giao công nghệ. Nếu mỗi tỉnh có một làng mới (hình tròn, tích Kim), mỗi làng mới có một trường nghề qui mô nhỏ, thì chúng ta sẽ có trong tay 64 trường dạy nghề qui chuẩn. Các trường nghề đó dạy cho thanh niên (có thể cả người lớn nữa) các công nghệ thích hợp với đặc điểm từng vùng miền. Các trường nghề chỉ dạy thực hành, liên tục mở theo yêu cầu, nặng về thực tế mà không chú trọng bằng cấp. Tính năng động của trường nghề cấp “đô thị làng” phải đạt mức linh động như các trung tâm ngoại ngữ hiện nay. Tuy vậy bằng cấp mà trường đó phát ra phải có nhiều chủng loại. Nếu bạn chỉ học qua vài tuần để biết hàn, tiện, trồng hoa, nuôi cá,… thì được cấp giấy chứng chỉ. Nếu bạn làm luận án tốt nghiệp trên cơ sở các dự án thực tế để mở mang doanh nghiệp nông thôn thì được cấp bằng tốt nghiệp trường nghề cấp quốc gia. Cao hơn nữa bạn có thể thực hiện các đề tài nghiên cứu ứng dụng công nghệ mới qui mô quốc gia, bằng cách liên kết với các hệ thống Trường và Viện nghiên cứu trong cả nước.

Các trường nghề trong “đô thị làng” chính là một hình thức tích Kim phi vật thể cho nông thôn một cách nhanh chóng và hiệu quả nhất. Nó sẽ thay thế các trường làng xưa của các cụ đồ nho và các vị sỹ phu.

Ngoài ra, việc tích KIM công nghệ cho “đô thị làng” còn phải kể đến internet. Mỗi đô thị làng phải là một trung tâm internet. Internet phải được bảo trì và nâng cấp thường xuyên, để nó thực sự là nơi cung cấp thông tin công nghệ nhanh và đầy đủ nhất cho chính “đô thị làng” đó và các vùng nông thôn phụ cận.

Các “đô thị làng“ là nơi mà chúng ta có thể bỏ dần một hoặc hai chữ nông trong tam nông, thay vì “nông thôn, nông nghiệp và nông dân” sẽ là “nông thôn, công nghiệp và trí thức áo nâu”. Phép xây dựng các “đô thị làng” chính là tích Kim để đô thị hóa nông thôn. Trong một hai năm đầu chúng ta có 64 “đô thị làng” nhưng sau 4-5 năm thì con số đó sẽ trở thành hàng ngàn.

f.Tích Kim tự phát trong nông nghiệp và nông thôn
Phần trên đã trình bày một số ý tưởng về tích Kim trong nông nghiệp và nông thôn. Các ý tưởng đó có thể được chấp nhận hay không còn tùy thuộc vào nhiều yếu tố và chắc chắn phải qua rất nhiều thảo luận. Vì các ý tưởng đó đều mang mầu sắc ý chí chủ quan. Tuy vậy thực tế cuộc sống rất sinh động, nhiều khi chưa cần qui hoạch của chính phủ, thì trong nông thôn đã có các hình thức tích Kim tự phát rất thành công. Ví dụ công trình tích Kim các làng nghề cổ truyền trong khu vực Mạo Khê do Bà chủ Gốm sứ Nguyễn Thị Vinh khởi xướng. Cách đây 10 năm bà thuê một khu đất lớn trên cung đường Hà nội – Hạ long. Tại đó bà xây dựng các khu làng nghề, rồi mời các nghệ nhân làng nghề gốm Bát tràng, lụa Hà Đông, mây tre đan đến tập trung làm việc và giao thương tại đó. Bây giờ thêm Internet và các dịch vụ xuất nhập khẩu trực tiếp khu bảo tồn làng nghề Mạo Khê đã phát triển nhanh chóng và tạo một đầu ra xuất khẩu lớn không chỉ cho làng gốm mà còn nhiều làng nghề thủ công khác.

Các phố cổ Hà nội, mang tên Hàng Bút, Hàng Đồng, Hàng Lọng,… đều là các ví dụ về tích Kim tự phát. Sự phát triển của các phố Hàng đó bền vững vài trăm năm. Chỉ từ sau khi nước ta bị Pháp xâm lược thì các phố Hàng mới lụi dần.

Tuy vậy sự tích Kim tự phát thiếu qui hoạch sẽ gây tình trạng quá nóng. Ví dụ phong trào nuôi tôm, nuôi cá lồng là những ví dụ về tích Kim quá nóng. Sự tích tụ mật độ quá lớn nên gây mất cân bằng sinh thái và dẫn đến nhiều hậu quả xấu về môi trường, về sản phẩm đầu ra,…

Vì vậy, ở qui mô quốc gia cần phải có qui hoạch tích Kim cho nông thôn theo hướng tập trung những thành tựu cao nhất về quản lý đô thị, về qui hoạch nghề, về giáo dục, văn hóa, chuyển giao công nghệ… để các đô thị làng thực sự trở thành vùng tích Kim kiểu mẫu bền vững.

g.Tản Thủy, Sinh Mộc và Hoàn thiện Hỏa
Các phần trên tập trung nghiên cứu vấn đề tích Kim cho nông thôn. Một khi đã có các “đô thị làng” hành Kim thì sự vận động của các vòng Ngũ hành sẽ dần dần đi vào quĩ đạo tự nhiên. Nông thôn sẽ dần dần đổi mới. Tuy vậy, trong thời gian hình thành nhân tố mới, (các đô thị làng) thì còn rất nhiều vấn đề riêng lẻ trong khu vực kinh tế xã hội ở thôn thôn cần phải giải quyết. Khi giải quyết các vấn đề đó cần ứng dụng các nguyên lý vận động Ngũ hành để đánh giá hiện trạng, tìm nguyên nhân, và dự báo hướng phát triển. Cuối cùng vẫn phải đặt các vấn đề riêng biệt đó vào bối cảnh chung của cả vòng Ngũ hành rộng hơn, bao trùm hơn. Chẳng hạn, vấn đề chế biến sau thu hoạch. Đây là vấn đề tích Kim ở qui mô nhỏ, qui mô các nghiên cứu triển khai. Phải làm chủ được các công nghệ sau thu hoạch. Có thể được giải quyết bằng Quĩ công nghệ, cũng có thể được giải quyết bằng các đề tài nghiên cứu độc lập. Vấn đề xây dựng thương hiệu sản phẩm nông nghiệp, thương mại hóa sản phẩm ở qui mô khu vực hoặc quốc tế chính là bài toán hoàn thiện hành Hỏa. Chẳng hạn, một sản phẩm tiềm năng như “nước mắm Phú Quốc”, nếu xét theo Ngũ hành, thì đương trong quá trình vận hành qua hành Hỏa, cần phải hoàn thiện về mọi mặt để nó giữ vững thương hiệu. Giống lúa lai “bất dục đực trên cơ sở thời gian cảm quang thay đổi” đã được sinh thành do tích Kim bền bỉ của các nhà nghiên cứu giống, nay đã đi vào hành Mộc, cần phải có chiến lược để thúc đẩy nó nhân rộng. Điều đó chính là đưa giống lúa lai mới ấy vào hành Hỏa, phải cấp đủ năng lượng để duy trì Hỏa của giống lai, bằng một hệ thống chính sách,… Tóm lại dưới quan điểm mọi vận động đều theo ngũ hành, chúng ta có thể phân tích, đánh giá, lường trước các động thái, để ý chí chủ quan không đi ngược lại qui trình vận động tự nhiên. Bằng cách đó chúng ta có thể tìm ra hệ thống chính sách cho sự phát triển nông thôn.


2.1.4.Kết luận về Ngũ hành trong nông nghiệp
Điểm xuất phát của chúng tôi trong nghiên cứu này là cái nhìn lịch sử. Làng hình tròn ngày xưa, nơi tích tụ và hun đúc các giá trị vật chất và phi vật chất cốt lõi nhất của nước Việt đang bị thay dần bởi các phố quê hình xương cá. Theo Ngũ hành thì làng hình tròn thuộc hành KIM, còn làng xương cá thuộc hành THỦY. Hành thủy sẽ vắt kiệt quệ tiềm lực của nông thôn ra thành thị. Vậy phải tích Kim chủ động cho nông thôn bằng những nỗ lực tập trung của Chính phủ. Cụ thể:

-Xây dựng các “đô thị làng” để đô thị hóa nông thôn từ các làng hành KIM nhỏ, mới, tích tụ công nghệ chính là giải pháp hiệu quả nhất, chủ động nhất.
-Xây dựng Quĩ Công nghệ quốc gia cho nông thôn,
-Xây dựng các trường nghề đặc biệt cho nông thôn.
-Liên kết công tác qui hoạch chiến lược giữa các bộ Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn, Bộ Giáo dục & Đào tạo, Tổng cục dạy nghề, Đoàn Thanh niên CS HCM, các UBND Tỉnh để xây dựng một chính sách nhất quán tạo đường ray và hành lang pháp lý cho sự tích Kim đô thị làng.
...(Còn tiếp)...

Nguyễn Thế Hùng (Tiến sĩ Vật Lý, Viện Khoa học và Công nghệ VN )

Thứ Tư, 25 tháng 6, 2008

Ngũ Hành - Tinh Hoa Văn Hoá Việt Nam

NGŨ HÀNH - TINH HOA VĂN HOÁ BẬC NHẤT CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM(HAY TẠI SAO BÀN TAY CON NGƯỜI CÓ 5 NGÓN)
Bàn chân của nhiều loài chim có 4 ngón, và một vuốt. Các con vật quanh ta như gà, vịt, ngan ngỗng cũng thế. Người ta bảo, cái vuốt chính là ngón cái bị thoái hóa. Các loài thú cũng vậy, con thì 4 ngón, con thì 5 ngón. Riêng con người thì bàn chân và bàn tay có 5 ngón. Tại sao như vậy? Ngoài các công dụng thông thường của các ngón tay là để cầm nắm giữ, để thực hiện các thao tác từ đơn giản đến tinh tế, thì các ngón tay còn có tác dụng tinh thần to lớn. Thông tin từ các ngón tay nhanh chóng được chuyển vào bộ óc bằng phép đếm. Các nhà tử vi, bói toán còn dùng các lóng ngón tay để bấm độn và dự doán một cách vô cùng tài tình.
Để trả lời băn khoăn “vì sao 5 ngón” chúng tôi trình bày dưới đây một luận thuyết mang tính tham khảo.

CHƯƠNG I.
LÝ THUYẾT NGŨ HÀNH
1.1. TẠI SAO CÁI GÌ CŨNG ĐƯỢC GẮN VỚI NGŨ HÀNH
Có 5 từ trong môn Ngũ hành gọi là: Kim, Thủy, Mộc, Hỏa, Thổ. Không có một thứ gì mà không được gắn với một trong 5 từ ấy. Sao trên trời thì có Sao Kim, sao Thủy, Sao Mộc, Sao Hỏa, Sao Thổ,… Phương hướng cũng vậy: Phương tây thuộc Kim, bắc Thủy, Nam Hỏa, Đông là Mộc. Các bộ phận trong cơ thể cũng có Kim là phổi, Thận là Thủy,… Thậm chí ngày giờ có ngày Kim ngày Mộc, ngày Hỏa. Bàn tay ta có gò Mộc tinh, gò Kim tinh. Lưỡi có thể nhận biết được vị của thực phẩm: vị cay là Kim, vị mặn là Thủy, vị chua là Mộc…. Tâm trạng con người cũng được phân theo Ngũ hành: Buồn là Kim, sợ là Thủy, giận là Mộc. Giọng nói con người cũng được qui về Ngũ hành: Khóc là Kim, Rên là Thủy,….

Một cách tự nhiên nhất và khoa học nhất chúng ta có thể hỏi: Tại sao cổ nhân cứ qui các vật, các khái niệm trên đời này về Ngũ hành? Tại sao phép gán đó lại có thể là chỗ dựa cho các tư duy? Tại sao thầy thuốc dùng Ngũ hành lại có thể chẩn bệnh chính xác, chữa bệnh hiệu quả?

Thật rắc rối và thần bí.

Nhưng ta thử cố gắng xem sao?

Để trả lời các câu hỏi trên chúng ta trước hết hãy bắt đầu từ lập luận: cái có tên giống nhau thì ắt phải có cái gì chung.

Chẳng hạn, hành Kim được gắn cho sao Kim, phương Tây, nỗi buồn, vị cay, mầu trắng, lá phổi, … Vậy cái gì là chung nhất cho các đại lượng trên. Tại sao nỗi buồn của một cô gái lại có chung tên gọi là Kim với vùng đất phía tây, với màu trắng trên lá cờ của nước Pháp hoặc với ngôi sao Kim xa xôi trong vũ trụ bao la? Cái gì là chung cho những thứ vô cùng khác biệt, xa cách nhau như vậy.

Đêm hôm thứ ba vừa rồi một chuyên gia chiến lược đang trầm ngâm đọc bản kết quả phân tích dự báo về trữ lượng dầu mỏ trên thềm lục địa phía Nam đảo Phú Quốc bỗng giận sôi lên vì số liệu bị xóa ở chỗ quan trọng nhất. Sáng hôm sau ông lại bị một chị bán hàng ngoài chợ Hôm ở trung tâm Hà nội đốt vía vì mới tám giờ đến hỏi giá định mua hai cân cam sành rồi lại không mua? Nỗi bực tức của ông và nỗi giận của cô bán hàng đều được gọi là hành Mộc. Nhưng tại sao lại là Mộc. Tại sao cái giận học thuật cao siêu của ông lại bị xếp chung ngăn với hành vi vô văn hóa kia?

Hay người xưa cứ bịa đặt bừa phứa cho các đại lượng ấy một cái tên là Ngũ hành, Kim-Thủy-Mộc-Hỏa-Thổ, mà bây giờ khoa học hiện đại đã quăng sọt rác hết. Nhưng, nếu vậy thì tại sao môn Ngũ hành lại bền vững đến tận bây giờ sau hàng ngàn năm thử thách.

Không, ngũ hành không bịa đặt. Ngũ hành thật đơn giản. Ngũ hành chính là biểu tượng của quá trình vận động. Bởi vì sự vận động chính là cái chung nhất của mọi sự vật trên thế gian này.

Những sự vật khác nhau mà có đặc tính vận động giống nhau, hình thức vận động giống nhau, kết quả vận động giống nhau,… sẽ được qui về cùng một hành. Chữ hành ở đây xuất phát từ Hán tự chính là hành trình, quá trình, hành tiến, hành động,…

Mà trên thế gian này mọi sự vật chỉ có 5 kiểu cách vận động mà thôi. Năm phương thức vận động ấy khoác năm biểu tượng Kim-Thủy-Mộc-Hỏa-Thổ làm áo, vừa lộng lẫy vừa huyền bí. Cái áo Ngũ hành đó là thành quả dệt may hàng ngàn năm qua của những bộ óc siêu việt nhất. Ngũ hành cũng chính là di sản văn hóa quí báu nhất của tổ tiên chúng ta.

2. NGHIÊN CỨU VỀ THỞ
Con người ta ai cũng thở. Khi nào ngưng thở là chết. Vậy thở là một hoạt động quan trọng bậc nhất trong cuộc sống của chúng ta. Thở không đơn thuần chỉ có 2 pha: hít vào và thải ra. Thở là một chuỗi các hành động cực kỳ phức tạp, nó là sự mở đầu của 5 quá trình.

Quá trình 1: Thu vào
Trong quá trình thu vào ta mang vào phổi đủ thứ khí, ôxy (dưỡng khí), nitơ, các chất mùi, các hạt bụi bặm. Trong suốt quá trình thu vào, có một hoạt động khác rất quan trọng kèm theo, đó là sự lựa chọn để cho thông qua và loại bỏ. Tại các phế nang li ti trong phổi chỉ còn lại oxy. Phần lớn các thứ khí và bụi bặm khác không cần thiết cho các quá trình sống tiếp sau đó đều bị thải loại. Vậy quá trình thu vào luôn đi kèm với quá trình lựa chọn.

Quá trình 2: Tản ra.
Tản ra không phải là pha thở ra, sự thải thán khí qua mũi hoặc miệng. Sự thải loại thán khí ra chỉ là hành động chuẩn bị cho sự hít vào kế tiếp, nó là một phần tất yếu của quá trình 1. Tản ra ở đây chính là phân tán cái sản phẩm cuối cùng của quá trình 1, quá trình tích lũy của ôxy tại phổi, đến các tế bào. Trong quá trình 2 này, các phân tử ôxy được hồng cầu mang đến từng tế bào, cùng với chất dịnh dưỡng được cung cấp từ dạ dày, để duy trì và phát triển sự sống của cơ thể.

Quá trình 3: Sinh mới.
Tại tế bào các phân tử ôxy mới được tản ra trong quá trình 2, tiến hành các phản ứng hóa sinh, cung cấp năng lượng cho các hoạt động khác của cơ thể. Quá trình sinh ra năng lượng mới được gọi là quá trình sinh mới bậc nhất. Quá trình sinh mới bậc nhất này bảo đảm sự hoạt động bền vững của cơ thể, mà ta gọi là sự sống. Nếu quá trình bậc nhất đó không được duy trì thì cơ thể sẽ chết. Các tế tào nhờ sự tản ra của ôxy từ phổi và sự tản ra của thực phẩm từ dạ dày sẽ được nuôi sống và phát triển. Các tế bào (trừ các neuron thần kinh) sẽ sống một cuộc đời không dài lắm, đủ độ chín thì chúng sẽ phân đôi, tạo ra một tế bào mới. Quá trình tạo thành tế bào mới gọi là quá trình sinh mới bậc hai. Cơ thể còn một quá trình sinh mới bậc ba nữa, chính là sinh ra con cái thuộc thế hệ sau. Ba quá trính sinh mới đó được gọi chung là sinh mới. Cả ba quá trình sinh mới này đều là hệ quả trực tiếp của hai quá trình trên: thu vào và tản ra.

Quá trình 4: Hoàn thiện

Đối với cơ thể sản phẩm của cả ba quá trình sinh mới đề cập ở trên đều dần dần hoàn thiện. Hoàn thiện bậc nhất là tập trung và gom góp năng lượng từ tất cả các tế bào để duy trì thân nhiệt, để sinh công cho các hoạt động cơ bắp thông thường. Hoàn thiện bậc hai là sự lớn lên của các tế bào non, từ chỗ mềm yếu thành các tế bào trưởng thành. Hoàn thiện bậc ba là duy trì và hoàn tất các khả năng sinh lý của quá trình sinh con. Đối với phụ nữ, đó là quá trình đều đặn bổ sung năng lượng để nuôi trứng lớn dần lên và chuẩn bị cho các chu kỳ kinh nguyệt từ lúc dậy thì cho đến khoảng 40-60 tuổi. Đối với nam giới thì quá trình hoàn thiện là liên tục sản suất tinh trùng cho đến khoảng trên dưới 70 tuổi.

Quá trình 5: Suy tàn.
Sự suy tàn là không tránh khỏi đối với tất cả các thực thể mà chúng ta đã biết trên thế gian này. Từ đời sống ngắn ngủi của con bọ chệp (một loại bọ, sáng được sinh ra, chiều đã chết), đến sự kéo dài hơn 15 tỉ năm qua của vũ trụ. Tất cả các đối tượng trong vũ trụ đều sẽ bị suy tàn. Cơ thể con người cũng suy tàn dần khi mà khả năng phân đôi của tế bào kém dần, giãn cách giữa hai lần sinh đôi ngắn lại, hoặc tại một số khu vực sự sinh sôi tế bào xảy ra nhanh đến mức không kìm hãm được (ung thư). Quá trình dẫn đến cái chết dần dần xảy ra, nhưng ta thấy không rõ lắm. Toàn bộ quá trình ấy đều được gọi là quá trình thứ 5, quá trình suy tàn, được kết thúc bởi cái chết mà ta gọi là sự trở về với cát bụi.

Năm quá trình trên của sự sống bắt đầu tự sự tích lũy ôxy trong phổi. Khi nào không thể tích ôxy được nữa thì chết. Năm quá trình ấy sẽ là cơ sở cho sự phân tích tiếp theo về các quá trình có thể qui về 5.

3.KHÁI QUÁT HÓA MỘT SỐ ĐẶC TÍNH CỦA NGŨ HÀNH
3.1.Năm bước của vận động hay Ngũ hành
Ba bước đầu của sự vận động là thu vào, tản ra và sinh mới. Ba bước ấy biến từ không thành có. Hai bước sau là sự trở lui của vận động bao gồm hoàn thiện và suy tàn. Tổng cộng sự vận động có năm bước, hay năm hành trình. Năm bước ấy biến đổi sự vật từ nhỏ bé thành phương trưởng, từ âm nhu thành dương cương, từ vô hình thành hữu hình, rồi lại tiếp tục biến đổi sự vật từ đỉnh cao về nhỏ bé, từ dương về âm, từ hữu hình về lại vô hình, để rồi lại tiếp tục một chu trình vận động mới. Quá trình vận động đó trùng trùng, điệp điệp, lớp này tiếp lớp kia, xen kẽ đan chéo nhau, thúc đẩy kìm hãm nhau.

Nếu nhìn vỏ ngoài của sự vận động vô cùng và bất tận đó, ta thấy mọi sự thật phức tạp. Nhưng nếu qui lại thành Ngũ hành ta thấy vấn đề trở nên thực đơn giản. Chính vì vậy Lão tử mở đầu trước tác của ông bởi câu: “Đạo khả đạo phi thường đạo” (3). Viết câu đó ra, Lão tử có ý rằng cái khả dĩ được gọi là đạo bao trùm cho mọi sự vật và quá trình trong trời đất phải là đạo phi thường. Đạo phi thường đó chính là qui trình vận động theo 5 bước, mà người xưa gọi là Ngũ hành.

Vận động trong vũ trụ là vô biên và vĩnh hằng. Hình thức của sự vận động không phải là một đường thẳng kéo dài mãi mãi, mà luôn khúc khuỷu quanh co. Quan sát thực tế cổ nhân đã nhận thấy các bước quanh co ấy chung qui chỉ có 5 giai đoạn. Giai đoạn 1 là tụ sinh, giai đoạn 2 là khởi phát, giai đoạn 3 là đột phá, giai đoạn 4 là hoàn thiện, giai đoạn 5 là suy tàn. Sau đó lại bắt đầu sự khởi sinh một vòng mới với những bước quanh co giống như trước, nhưng ở trình độ và qui mô khác. Năm bước của sự vận động đó, người xưa đã biểu tượng hóa thành Ngũ hành. Tức là 5 hành trình, lộ trình, hay giai đoạn. Ngũ hành không phải là các biểu tượng tĩnh tại như Kim là sắt thép, Thủy là nước, Mộc là cây cỏ, Hỏa là lửa, Thổ là đất. Ngũ hành chính là 5 phép chuyển hóa (chứ không phải 72 phép biến hóa như của Tôn Ngộ Không). Mọi sự vận động trong tự nhiên và xã hội không thể ra ngoài 5 phép chuyển hóa đó. Vậy Kim, Thủy, Mộc, Hỏa, Thổ chính là 5 biểu diễn toán học mô tả 5 phép chuyển hóa đó. Các phép chuyển hóa ấy có quan hệ chặt chẽ với nhau theo một thứ tự nhất định. Sự vận động nào đi đúng trật tự trên thì thuận tự nhiên, đi trật thì gọi là ngược tự nhiên. Cho nên, người ta nói “con tạo xoay vần” với hàm nghĩa là tạo hóa thì “xoay” theo chiều thuận, còn con người có thể vì ý chí chủ quan mà “vần ngược” hoặc “vần thuận.”

Khi phân tích về sự thở chúng ta đã gán cho Ngũ hành một số đặc tính cơ bản. Cụ thể như sau:

-Kim là tích tụ có chọn lọc,
-Thủy là phân tán và thử sai,
-Mộc là sáng tạo, đột phá, trong những điều kiện nhất định,
-Hỏa là hoàn thiện cái mới được sáng tạo, sao chép mô hình, nhân rộng cải tiến mô hình,
-Thổ là sự suy kiệt, khi năng lượng dành cho sự nỗ lực phát hỏa đã hết. Lúc đó theo các nguyên lý của khoa học tự nhiên (hóa học, vật lý, sinh học) chính là quá trình chuyển đổi trạng thái của vật thể. Trong lòng của sự suy kiệt và rời rã lại dần dần có sự tích tụ năng lượng, khối lượng, vật chất, tinh thần,…để chuẩn bị cho một chu trình phát triển biến hóa sau nữa, dưới dạng thức khác. Chính vì thể cổ nhân bảo Thổ có tính nuôi dưỡng. Thổ trong phép bấn độn, trong tử vi, trong định phương hướng,… nằm ở khu vực trung tâm chính là vì nó có tính nuôi dưỡng. Thổ theo ngôn ngữ mới là môi trường cho sự tìm tòi của tích Kim vòng mới.

Năm phép chuyển hóa, năm biểu tượng Ngũ hành, lẽ ra có thể được thay thế bởi các ký hiệu toán học, các nét chấm như trên Hà đồ Lạc thư, hoặc các vạch liền hay vạch đứt như trong Kinh dịch, nhưng nếu biểu diện như thế thì ta lại làm cho Ngũ hành thêm thần bí. Vì vậy chúng tôi dùng những từ ngữ nôm na để giải mã như sau.

Giai đoạn 1 tụ sinh, biểu tượng là hành KIM, chính là quá trình tụ vào, thu vào, tích lũy, hay còn gọi là tích KIM. Mọi quá trình mang tính thu vào, tích lũy đều là KIM. Bất kể là tích vàng bạc, kim loại hay tích nước, tích gỗ, tích đức, tích kiến thức, hay hít không khí vào phổi… đều thuộc về hành KIM. Hành Kim là khởi đầu của mọi quá trình vận động phát triển.

Giai đoạn 2 khởi phát, biểu tượng là hành THỦY. Sự tích lũy đến mức nào đó sẽ dẫn đến tản ra, phân tán ra, tất nhiên trong tích lũy đã có chế biến, và chọn lọc. Ví dụ phổi tích không khí, gồm có nitơ, ôxy, nhưng chỉ chọn lọc ôxy để tản ra trong các mạch máu và tế bào. Vậy hành THỦY là tản ra, như ta đổ cốc nước xuống đất thì nước tản ra xung quanh và thấm dần vào lòng đất. Sự tản ra là khởi phát cho quá trình phát triển.

Giai đoạn 3 đột phá, biểu tượng là hành MỘC. Sự tản ra của các yếu tố nhất định làm sinh mới một cái gì đó. Cho nên sau THỦY ắt đến MỘC, Ví dụ sự tản ra của dưỡng chất và ôxy vào tế bào làm sinh sôi các tế bào mới; sự tản ra của phân gio, nước, ánh sáng và hạt giống làm sinh mới cây cỏ. Hành Mộc là biểu tượng của cái mới sinh thành, cho nên người xưa ví giai đoạn này nhự sự nảy chồi của cây cối, do đó gán cho giai đoạn này cái tên là Mộc. Hành Mộc cũng chính là quá trình sáng tạo. Những thành tựu lớn lao mà nhân loại đã đạt được trong suốt quá trình tiến hóa chính là lớp lớp các hành Mộc của bao thế hệ đã qua.

Giai đoạn 4 hoàn thiện, biểu tượng là hành HỎA. Đó là quá trình hoàn thiện của cái mới sinh trong giai đoạn MỘC. Sự hoàn thiện mô hình cho thích ứng với thực tế. Khi mô hình đã hoàn thiện mỹ mãn thì tiếp tục nhân rộng ra. Ví dụ mô hình nuôi tôm nước lợ sau khi đã được thử nghiệm tốt, đã được chứng tỏ có hiệu kinh tế ở qui mô gia đình, qui mô doanh nghiệp tại một địa phương thì nó được nhân rộng ào ào như phong trào. Sự ào ào bừng bừng ấy mang sắc thái của lửa. Cho nên cái gì mang tính chất nhanh gấp, ào ào, bừng bừng là thuộc về hành HỎA. Một người nóng tính làm gì cũng mạnh mẽ, nhanh gấp người ta bảo rằng anh ấy có tính HỎA.

Giai đoạn 5 suy tàn, biểu tượng là hành THỔ. Đó là giai đoạn nghỉ ngơi sau những cố gắng ào ào của hành hỏa, giống như củi cháy hết thì còn lại tro. Trong trạng thái THỔ, các phần tử của hệ thống rời rạc, ít liên hệ mật thiết, ít có tương tác với nhau. Người ta ví Thổ như mặt đất, vì nó là chỗ chứa đựng mọi phụ phẩm của các quá trình phát hỏa. Hình 1 mô tả biểu tượng cổ về Ngũ Hành.

3.2.Tương sinh và tương khắc
Càng ngẫm nghĩ kỹ lưỡng chúng ta càng thấy rõ nét sự tương sinh và tương khắc của năm quá trình trên.

Sơ đồ truyền thống diễn tả Ngũ hành như hình 1 (có trong tất cả các sách nói về Ngũ Hành).

Hình 1. Sơ đồ truyền thống diễn tả Ngũ hành.
Trong sơ đồ hình 1 ta thấy nét liền và nét nứt. Nét liền là tương sinh, nét đứt là tương khắc. Theo các định nghĩa Ngũ hành như là các quá trình ta thấy rõ ràng các hành có tương sinh và tương khắc nhau. Ví dụ, Kim là tích tụ tất sinh Thủy là phát tán. Nhưng Kim lại khắc Mộc, vì quá trình tích tụ làm kìm hãm (làm chậm) năng lượng cho đột phát và sinh mới. Nói theo ngôn ngữ dân gian Kim (tích tụ) là Ông của Mộc (sinh mới). Khi đó Kim là tiền đề xa của Mộc, cản trở và điều chỉnh các đặc tính của sự sinh mới. Ví dụ quá trình tích tụ ở phổi toàn dưỡng khí trong lành thì các tế bào sinh mới sẽ tươi tốt. Ngược lại có bụi silic thì sẽ sinh ung thư.

Trong khi đó chính Kim lại bị Hỏa khắc. Bởi vì quá trình Hỏa mang tính sao chép mô hình, rất nhanh, ào ào, mang tính phong trào,… Quá trình ấy không thích hợp cho các quá trình tích lũy. Cho nên người xưa nói “sự yên tĩnh có lợi cho việc tu dưỡng tâm hồn”.

Sự tương sinh tương khắc trong Ngũ hành được chiêm nghiệm bởi kinh nghiệm sống của mỗi cá nhân. Cơ sở lý luận của tương sinh tương khắc là học thuyết âm dương. Chúng tôi sẽ trở lại chủ đề này trong một dịp khác.

3.3.Vài ví dụ về Ngũ hành
Ví dụ 1: Thánh Gióng
Truyền thuyết Thánh Gióng chính là một ví dụ tuyệt vời của dân Việt nam về Ngũ hành. Thánh đẻ ra ba năm không nói cười, nhưng khi có lệnh vua, thì cả làng tích gạo cho Thánh ăn, thợ thì rèn áo giáp sắt, ngựa sắt, và gậy sắt. Đó chính là lúc cả cộng đồng tích lũy cho một đối tượng: đó là hành Kim.

Khi mọi thứ đã đầy đủ Thánh vươn vai từ đứa bé con ba tuổi trở thành lực sỹ, nhẩy lên ngựa, phi ra trận địa. Mấy hành động đó là Thủy

Hành Mộc chính là lúc ngựa phun ra lửa, Thánh dùng gậy sắt đánh dẹp quân thù. Mô hình đánh giặc được xây dựng xong (công nghệ cao nhất đương thời, sức mạnh tập trung nhất)

Hành Hỏa là lúc các động tác đánh giặc được nhân lên, mở rộng mô hình. Vũ khí được hoàn thiện, hỏng gậy sắt dùng gậy tre. Nó đủ cứng, đủ dẻo dai hơn gậy thép, mà lại dễ làm, ai cũng có thể chế tạo được. Và chắc là lúc đó ngoài một người một ngựa của Thánh còn ngàn vạn người dân người lính khác nữa chứ. Khối tâm của ngàn người lúc đó được tập trung lại thành sức mạnh lớn.

Cuối cùng hành Thổ là sự tan rã, sự kết thúc của toàn bộ quá trình. Thánh về trời: Cái lãng mạn tuyệt vời của dân Việt: Thổ không phải luôn luôn là thổ địa.

Ví dụ 2. Đời người
Vòng đời của một con người là một ví dụ khác về Ngũ Hành. Kể từ lúc mới sinh ra đó là thời của Kim. Cha mẹ cho anh ta ăn uống, nuôi dưỡng cho lớn, cho học hành là quá trình tích luỹ năng lượng, quá trình hình thành một đối tượng mang tính Kim. Học được thành tài, anh ta bắt đầu vào đời, đó là trạng thái Thuỷ. Làm được một việc gì đó là Mộc. Nhân rộng nó ra là Hoả. Qua công việc đó anh ta có tiền bạc địa vi, có danh tiếng, đó là lúc bừng lên của Hoả. Nếu không khéo thì anh ta đi ngay vào Thổ, thân bại danh liệt, đời anh ta thành tro tàn im lặng. Nhiều người gặp vận Thổ vẫn vùng lên vì tích luỹ được yếu tố Kim ngay trong thất bại Thổ. Như vậy một đời người có thể phân thành nhiều vòng Ngũ hành.

Ví dụ 3. Công ty Sony
Năm 1946 trong tro tàn của chiến tranh tại vùng Nihonbashi, Tokyo, Nhật bản, hai Ông Ibuka và Morita đã tích 190.000 yên, cộng với tri thức về điện và lòng quyết tâm vô bờ để mở một công ty nhỏ trên một quả đồi ngoại ô. Lúc đó thuộc hành KIM. Sau đó họ nghiên cứu chế tạo nồi cơm điện và máy radiô bán dẫn, rồi đưa các sản phẩm ấy len lỏi vào thị trường. Họ đã làm tản ra cái mà họ đã chế tạo được bằng lượng KIM ít ỏi đầu tiên kia. Lúc đó thuộc hành THỦY. Năm 1957, sau gần 10 năm gây dựng hai ông đã đủ lực và họ quyết định gây dựng một công ty mạnh tên là SONY. Lúc đó thuộc hành MỘC. Một công ty mới chưa hề có tên trên thế giới đã được sinh thành, được sáng tạo ra. Sau đó công ty ngày càng hoàn thiện cả về tổ chức, công nghệ, và nhiều sản phẩm mới. SONY lúc đó vào hành HỎA. Nhiều công ty khác đã bắt chước họ làm nồi cơm điện, đài bán dẫn, máy nghe nhạc, máy ảnh,…

Nếu lúc ở HỎA mà họ không tiếp tục tích KIM để nghiên cứu phát triển sản phẩm (công tác R&D) mới thì bây giờ SONY đã về THỔ một cách điêu tàn với rất nhiều sản phẩm lỗi thời. Quá trình phát triển của SONY là quá trình tích KIM liên tục để tạo sản phẩm mới. Mỗi sản phẩm mới là một vòng Ngũ hành con trong tổng thể chiến lược phát triển của công ty.

Các công ty khác cũng phát triển như vậy, từ Microsofl, Google, đến FPT, Lilama,… Những công ty nào đi chệch con đường phát triển tích cực ấy (không liên tục tích KIM) thì sẽ về Thổ, như hãng xe hơi nổi tiếng Renault của Pháp.

Ví dụ 4. Phóng điện sét
Sự hình thành của phóng điện sét là một ví dụ về Ngũ Hành tự nhiên. Nắng nóng làm hơi nước bốc lên tạo thành mây. Các điều kiện nhiệt độ, độ ẩm, gió làm cho các phần tử hơi nước nhỏ bé trong đám mây cọ sát nhau, tạo thành các điện tích. Lúc đó, là quá trình tích tụ điện tích của đám mây- hành Kim. Khi Kim (điện tích đám mây) đã tích tụ đủ lớn thì có sự cảm ứng điện tích trái dấu đáng kể ở mặt đất bên dưới đám mây. Các tia tiên đạo phóng điện nhỏ lẻ dần dần hình thành và vươn dài ra, tản ra về phía dưới- hành Thủy. Khi các tia tiên đạo từ đám mây đi xuống và từ mặt đất đi lên vươn ra đủ gần nhau thì có sự phóng điện nối liền hai kênh dẫn điện đó. Ta nghe thấy tiếng sét nổ - hành Mộc hình thành. Đó là lúc một kênh dẫn điện mới từ đám mây xuống đất đã được sáng tạo (tạo lập). Nếu sự bảo vệ chống sét không tốt, cú sét đánh lại rơi trúng vào một mái nhà gỗ, thì căn nhà sẽ bốc lửa cháy. Đó là hành Hỏa. Giả sử căn nhà bị cháy rụi hoàn toàn ta có ngay hành Thổ. Tro tàn sẽ sinh ra từ Hỏa.

Ví dụ 5. Nước Việt
Nước Việt Nam vào hồi đầu thế kỷ 20 thuộc hành Thổ. Lúc ấy các phong trào kháng Pháp đã bị dập tắt. Cả nước gần như im lặng chịu sự khai phá thuộc địa. Khoảng năm 1925 có phong trào thanh niên cách mạng đồng chí hội. Hành Kim đang dần dà được khởi động. Đó là trạng thái của quá trình thu luyện năng lượng, tìm tòi phương pháp đấu tranh mới. Lúc đó, có sự tích tụ âm thầm các cá nhân yêu nước thành các tổ chức đấu tranh mới. Tiếp theo, là hành Thuỷ, khi mà các chi bộ dần dần phát triển, cấy sâu vào các khu vực, các vùng nông thôn và thành thị. Khi các chi bộ đã lớn dần thì tạo thành mạng lưới, các khu uỷ, các vùng an toàn khu, dần dần có các lực lượng vũ trang nhỏ (Ba tơ, Bắc Sơn, Tuyên Quang,…). Lúc đó là thời của Mộc. Lực lượng cách mạng ngày càng mạnh tức Mộc ngày phát triển. Cách mạng 1945 là thời của Hoả, thời của một trạng thái bừng bừng, sôi động. Trạng thái Hỏa của nước Việt duy trì mãi đến sau năm 1975. Trong mấy chục năm đó, người người bừng bừng ra trận, náo nức tham gia các phong trào kiến quốc và cứu nước như ba sẵn sàng, ba đảm đang,…

Các ví dụ khác về sự vận động của lịch sử Việt nam đều là các minh họa về Ngũ hành rất sống động, chẳng hạn các giai đoạn tụ nghĩa của Khúc Hạo, Trần Thủ Độ, Lê Lợi, Nguyễn Hoàng là hành Kim. Các giai đoạn phát triển sau đó đều diễn ra đúng trình tự Khai Thủy, Sinh Mộc, hoàn thiện Hỏa rồi về Thổ. Lịch sử cũng chỉ ra rằng đối với các triều đại kể trên khi về Thổ thì rất điêu tàn và trong lòng Thổ lại tụ sinh tích Kim các nhân tố mới cho các quá trình lịch sử tiếp theo.

Ví dụ 6. Thiền Trúc lâm Yên tử
Vua Trần Thái Tông thay thế Nhà Lý, chấn hưng đất nước, trau dồi nhân phẩm, học thông Nho, Lão, Phật, đánh giặc Nguyên Mông lần thứ nhất, tích lũy tri thức đầy đủ, quá trình đó gọi là tích Kim. Về già nhà Vua nhường ngôi cho con, viết Khóa hư lục, khai mở xu hướng tĩnh Tâm bằng thiền. Đó gọi là khai Thủy. Sau đó, vua Trân Nhân Tông lại tiếp tục dòng suy tư Khóa hư lục của vua cha, lúc toàn thắng giặc Nguyên Ngài đã về hẳn Yên Tử mở ra trường phái Thiền Trúc Lâm Yên tử. Đó gọi là sinh Mộc. Các vị sau đó như Pháp Loa, Huyền Trang đã hoàn thiện tư tưởng của Thiền Trúc lâm Yên tử. Đó gọi là Hỏa. Sau đó là giai đoạn Thổ, Núi Yên Tử dần thành di tích đến ngày nay, nhưng Thiền phái Thiền Trúc Lâm vẫn sống trong lòng người để rồi lại dần dần tụ sinh các vòng Ngũ hành mới.

Các ví dụ trên đủ cho ta nhận thức được về sự vận động theo Ngũ hành. Trong đó giai đoạn này nối tiếp giai đoạn kia. Không thể dùng ý chí chủ quan mà đi tắt, mà đốt cháy lịch sử, đặc biệt muốn cho sự phát triển của Hỏa được bền vững thì luôn luôn phải tích KIM. Tích KIM là cơ sở quan trong bậc nhất cho mọi sự phát triển, và cũng là điểm khởi đầu của mọi sự phát triển. Hình 2 mô tả các vòng Ngũ hành liên tiếp theo lý thuyết mới. Ngẫm nghĩ kỹ càng chúng ta sẽ thấy không có một sự vận động nào trong vũ trụ đi ra ngoài năm bước vận động Ngũ hành này được.


Hình 2. Năm giai đoạn của phát triển. Tích Kim là điểm khởi đầu của vòng phát triển. Thu vào (Kim), tản ra (Thủy) và sinh mới (Mộc) là ba giai đoạn phát triển đi lên. Hỏa là sự hoàn thiện. Tại hành Hỏa có lối rẽ, hoặc là đi vào vòng mới, hoặc là trở lui về tro tàn của hành Thổ. Tích Kim liên tục sẽ tạo nên sự phát triển bền vững. Nhưng trong tro tàn của Thổ cũng sẽ có tích Kim, nhưng thụ động và khó khăn.
Tóm lại lý thuyết Ngũ hành cho chúng ta một cái nhìn động về sự vận động và phát triển. Mọi sự phát triển đều có điểm gốc là tích Kim. Hành Kim tích được càng nhiều, càng bền vững thì các bước phát triển tiếp theo càng bền vững. Đặc biệt khi đã đạt đến trạng thái Hỏa thì nhất định phải tìm kế để tích Kim các vòng mới. Vì nếu không sẽ lâm vào trạng thái Thổ.

Có thể tóm tắt lý thuyết Ngũ hành mới thành các định đề sau:

1.Tất cả các sự vật trong tự nhiên và xã hội đều vận động theo Ngũ hành, và mọi sự vận động đều bắt đầu từ hành Kim.
2.Ngũ hành chỉ là 5 biểu tượng về 5 giai đoạn biến đổi của sự vật. Năm giai đoạn đó gọi là 5 phép biến hóa của tự nhiên. Không có một quá trình vận động nào ra khỏi 5 phép biến đổi ấy.
3.Tinh hoa văn hóa cốt lõi nhất, tiêu biểu nhất của dân tộc Việt nam là Ngũ hành và kỹ năng ứng dụng Ngũ hành vào thực tế.

Trên cơ sở của lý thuyết Ngũ hành mới này chúng ta sẽ phân tích nhiều về vấn đề đang nổi cộm trong đời sống xã hội Việt nam hiện tại.
...(Còn tiếp)...

Nguyễn Thế Hùng (Tiến sĩ Vật Lý, Viện Khoa học và Công nghệ VN )
Nguồn: dunglac.org

Thứ Bảy, 21 tháng 6, 2008

Hào Quang Mặt Trời Tại Linh Địa La Vang








Ảnh: tổng hợp




VietCatholic News (Thứ Sáu 20/06/2008 15:31)
Lời chứng tại chỗ về “Sự Lạ La Vang” lúc 09 giờ 40 phút ngày 13/6/2008 HUẾ

- Tôi là linh mục Emmanuen Nguyễn Vinh Gioang, thuộc Tổng Giáo Phận Huế, hiện đang làm quản xứ giáo xứ Diên Sanh, cách La Vang tám cây số về hướng Nam. Tôi đã từng coi sóc Thánh Địa La Vang từ năm 1975 đến năm 1995.

Tôi xin tường thuật “Sự Lạ La Vang” với tất cả sự thành thật của tôi trước mặt Thiên Chúa và trước mặt Đức Mẹ Maria La Vang.

Lúc đó là 09 giờ 40 phút, sáng ngày 13 tháng 6 năm 2008, tại Thánh Địa La Vang, tôi đang ngồi ngay sau Linh Đài Đức Mẹ La Vang (sau Ba Cây Đa) để ghi tốc ký những gì Đức ông Pietro Parolin đang nói trong Thánh Lễ ở Linh Đài.

Trong khi đang cúi đầu ghi câu “gió mát hài hoà…”, tôi nghe xôn xao rộn ràng quanh tôi và trước mặt tôi. Tôi nghe từ phía Linh Đài có tiếng nói: “Ai thả bong bóng lên trời vậy?”Tôi vội ngước mắt nhìn lên vì lúc đó tôi đang cúi đầu viết…

Tôi sửng sốt vì thấy mọi người không còn nghe Đức ông Parolin giảng, mà ai ai cũng lấy tay che mắt để nhìn lên trời cao cho rõ.

Tôi nhìn các linh mục đồng tế: các ngài cũng đang nhìn lên trời cao.

Tôi nhìn các nam nữ tu sĩ đang có mặt ở bên hữu Linh Đài: họ cũng đang nhìn lên trời cao.

Tôi nhìn các thành viên trong Hội Hát đang đứng bên tả Linh Đài: họ cũng đang nhìn lên trời cao.

Nhìn xuống, tôi thấy toàn thể giáo dân hành hương cũng đang nhìn lên trời cao.

Tôi nghe rõ những tiếng rộn ràng vang lên khắp nơi trong Thánh Địa La Vang: nào là: “Sự lạ! Sự lạ!”, nào là “Lạy Mẹ, Lạy Mẹ!”, nào là “Đẹp quá! đẹp quá!” Linh tính cho tôi biết rằng đang có một “sự lạ” xảy ra.Nhìn lên trời cao, tôi thấy mặt trời đang được bao quanh bằng một vòng tròn quá lạ và quá đẹp. Tôi vội đưa ngay máy chụp hình hướng lên thẳng mặt trời và chụp bốn lần.

Tôi di chuyển đến gần những người đang nhìn lên mặt trời và chụp những bộ mặt sửng sốt và vui sướng của họ. Nhìn lên Linh Đài, nơi đang cử hành Thánh Lễ, tôi cũng thấy Đức Giám Mục chủ tế và các Đức ông đang nhìn lên trời cao…

Trong vòng năm phút sau, mọi người được yêu cầu đừng xôn xao, và Thánh lễ được tiếp tục.Vì chăm chú vào Thánh Lễ, tôi không để ý đến hiện tượng nầy chấm dứt thế nào.

Thánh Lễ xong, tôi vội tháp tùng Phái đoàn để ra gặp Chính Quyền Tỉnh Quảng Trị.

Ngồi trong xe cùng với Đức Giám Mục Phụ Tá Tổng Giáo Phận Huế và Đức ông Vụ trưởng Bộ Truyền Giảng Phúc Âm cho các dân tộc, tôi cũng trao đổi với quý ngài về “sự lạ” nầy.

Sau khi về lại giáo xứ tại Diên Sanh, tôi gặp những người có đi La Vang trong ngày 13 nầy, và biết được ai ai cũng hân hoan vì Đức Mẹ đã cho họ chứng kiến một biến cố lạ tại La Vang.

Tôi điều tra kỹ để xem những ai không đi La Vang trong ngày hôm đó, hoặc lúc đó đang ở xa La Vang, chẳng hạn như ở Thừa Thiên Huế, ở những vùng tại Quảng Trị nhưng xa La Vang, trong lúc “sự lạ” xảy ra tại La Vang, thì được những câu trả lời giống nhau: họ không thấy sự gì lạ trên bầu trời dẫu lúc đó họ được những người thân ở La Vang gọi điện thoại di động đến để nói hãy ra xem bầu trời có dấu lạ, nhưng họ trả lời ngay la không thấy gì khác thường trên bầu trời lúc đó.

Vi thế, tôi có thể kết luận rằng: “sự lạ” chỉ xảy ra trên bầu trời La Vang, và chỉ có những ai ở La Vang lúc đó mới thấy được “sự lạ” nầy.

Lòng tôi tự nhiên suy nghĩ rằng: ngày 13 là ngày nhắc nhở đến sự lạ mặt trời xảy ra tại Fatima. Thế là trí tôi liên tưởng ngay đến “sự lạ Fatima” và “sự lạ La Vang”: hai sự lạ nầy có điểm giống nhau vì hai sự lạ nầy đều có liên quan đến mặt trời.

Hiện nay, theo chủ quan của tôi, tôi nghĩ rằng tôi được Đức Mẹ La Vang cho tôi nghĩ đến một điều mà tôi cảm nghiệm đúng với lòng tôi mong ước….

Nhưng điều quan trọng nhất hiện nay của tôi, cũng như của tất cả mọi người con của Chúa và của Mẹ Maria La Vang, là lo ăn năn đền tội, lo cải thiện đời sống, chuyên cần chạy đến với Chúa Giêsu Thánh Thể và đặt hết lòng tin tưởng vào tình yêu mẫu tử vô bờ vô bến của Đức Mẹ đối với tất cả mọi người nói chung, và đặc biệt nói riêng, đối với đồng bào Việt Nam yêu quý của chúng ta tại Quê Nhà cũng như đang sống ở Hải Ngoại, trên khắp năm châu bốn bể.

Diên Sanh, ngày 17 tháng 6 năm 2008(một trong những người chứng kiến “Sự Lạ La Vang” tại chỗ, vào lúc 09 giờ 40 phút ngày thứ sáu, 13 tháng 6 năm 2006)

LM Nguyễn Vinh Gioang

Thứ Sáu, 20 tháng 6, 2008

Gia đình Nguyễn Hoàng Thiện - Nguyễn Thị Hoa


Vợ chồng Thiện - Hoa cùng với hai con là
Nguyễn Hoàng Bảo và Nguyễn Thị Hoàng Anh.
(Nguyễn Hoàng Thiện là con trai út của
Ông Nguyễn Bính - Bà Phạm Thị Có)

Thứ Bảy, 17 tháng 5, 2008

Cuộc Đời, Cái Chết và Ơn Gọi

Ảnh chụp tại An Hạ 01.2008


(Bài của nữ tu Anna Nguyễn Thị Thanh viết dâng thân phụ là ông Phêrô Nguyễn Văn Bửu)


Người đi qua và dừng lại bên giường ba, thật-ngắn-ngủi. Nhưng thật sự thời gian dài vô kể, dài bằng cả cuộc đời 59 năm chuẩn bị của ba…


● GHI LẠI CUỘC ĐỜI VÀ CÁI CHẾT CỦA BA


Con cắn bút và gục đầu xuống. Một phút linh thiêng, dường như ba hiện diện trước mặt con. Hai năm rồi ba nhỉ, con thầm bấm đốt ngón tay. Ôi dài vô kể. Bây giờ là Mùa Chay, Mùa Chay thứ hai trong những ngày đời vắng bóng ba.

Con không biết ba trước khi con sinh ra, song ba đã vui mừng chờ đón ngày con chào đời. Ba mạ đón nhận con trong hạnh phúc tràn ngập. Khi sự sống của con bị đe dọa bởi bào thai sinh non, ba đã bằng lòng hiến dâng con để chuộc lấy sự sống thần linh. Từ đó, ba hằng ấp ủ con trong quỹ đạo yêu thương và Lời Hứa. Ba hiện diện luôn luôn bên cạnh con như linh cảm trước ba sẽ xa lìa con. Con không nhớ là tuổi thơ của con đã phải xa ba mấy bước nhỉ? Ngày con khôn lớn, ba thường nhìn con ái ngại vì Lời Hứa kia. Con thì không nghĩ thế.

Rồi cái gì sẽ đến, phải đến - cơn đau của mạ - sự ra đi của mạ. Khởi điểm ơn gọi của con. Bắt đầu bằng sự hy sinh của ba. Trong thư ba viết cho con rằng: “Từ hôm đưa con ra bến xe Quảng Trị, và sau đó mấy tuần lễ, không ăn bỏ ngủ, vì nhớ con còn thơ dại mà đành hy sinh cho con xa lìa ba!”. Ba buồn, thương nhớ con. Con, con lại chẳng nhớ đến ba, vì mối tình siêu linh đang chớm nở trong lòng con. Con như bắt gặp trúng tần số. Cuộc sống mới làm con mê say, thu hút cả sinh lực và trí nhớ của con hướng về Ngài. Ba vẫn âm thầm… không dám quậy phá cuộc tình con. Hằng năm, ba sung sướng đón con trong những ngày hè, xuân và những dịp lễ lớn. Con vẫn hững hờ, mong ngày tựu trường chóng đến. Ba tiếp tục hy sinh cho con, không dám thư nhiều, sợ phải đánh thức con trong cuộc tình Ngài.

Ngày con chợt tỉnh, Ngài gọi con bước tới ngưỡng cửa Tập viện. Ôi, bỏ ba sao đành! Con bắt đầu bỏ ngủ biếng ăn vì tiếng gọi siêu linh như thúc giục con: “Hãy quên dân tộc và nhà thân phụ để ĐỨC VUA NGƯỜI SỦNG ÁI DUNG NHAN. HÃY ĐẾN PHỤC VỤ NGÀI…”! Bây giờ đến lượt con hy sinh. Con đã thấu hiểu. Con chợt nhớ đến câu Kinh Thánh: “Ta đến không phải để mang lại hòa bình nhưng là chia rẽ. Con trai với cha, con gái với mẹ, nàng dâu với mẹ chồng…”. Vâng, Ngài đã đến chia rẽ con với ba bằng một biến cố chính trị: Ngày gia đình chạy loạn. Ngài đưa ba ra khỏi Đại-Lộ-Kinh-Hoàng. Con đành bỏ ba một mình trong cơn đại họa.

Ba nhường bước để Ngài lớn lên,
Ba chịu mục nát để sự sống Ngài tăng triển trong con...

Bằng con đường Thập Giá: Trại cải tạo! Chúa cần sự hy sinh và cộng tác của ba như ngày con tượng sinh trong tình yêu ba mạ. Cuộc sống của ba gắn liền với ơn gọi của con. Thời gian học tập của ba trên rừng vắng khai mở cho con những ngày hồng ân. Ba chịu đắng cay đển con được uống sữa linh thiêng:

“Chúa ơi ! Nhà Chúa muôn năm
Là nơi thánh đức thiên ân dồi dào”.

Con bước vào niềm hoan lạc của đời tu. Ngày con được sinh ra trong bộ áo nhà tu cũng là ngày ba bắt đầu khoác áo tù binh. Ba âm thầm bấm đốt ngón tay tính ra ngày vui của con. Một mảnh giấy nguệch ngoạc được dấu kín từ trại-tập-trung gởi về làm quà cho con trong ngày đó. Con bắt đầu khóc… Ba vẫn mãi mãi là của con, nhưng con không thuộc về ba nữa: Bởi con đã thuộc về Thiên Chúa của ba. Ba thấy đó nhưng hầu như xa cách bởi sự chia lìa kia. Con đã thấy buồn hơn trước: Những giờ kinh chiều con dành riêng cho ba và thầm mơ một lần gặp lại. Nhưng sao được Chúa nhỉ? Vì đây là thời gian giáo luật của con và cũng là những ngày tù của ba, con vẫn âm thầm khấn nguyện…

Và Chúa đã nhận lời: Xuân 1976, con mãn năm giáo luật. Và ba cũng mãn hạn tù binh. Hai cha con gặp nhau trên triền núi Thuận Hải. Ngôi nhà tuy thô sơ nhưng ấm cúng bởi sự hiện diện của ba. Ba đón con trong nụ cười khập khễnh! Con gọi ba là “Ba sún”. Lúc ấy, con dâu trưởng của ba vừa cho ra đời một cháu bé thật kháu – đứa cháu-đích-tôn của ba. Ba nghiễm nhiên làm ông nội. Trông ba thật đáng kính. Mãn phép con trở lại dòng. Chị và cháu cũng trở về Saigon. Chị Bình đi dạy ở Bình Tuy. Chỉ còn út Tịnh và anh Thông ở lại với ba. Ai hiểu được nỗi cô đơn của ba lúc nầy nhỉ? Ba vẫn thản nhiên chấp nhận cuộc sống với nhiều sự thiếu thốn vật chất cũng như tinh thần. Bởi ba hằng tín thác và cậy trông nơi Chúa… Cuộc sống của con trong những năm nầy bị chi phối rất nhiều vì mối bận tâm lo lắng về ba…

Rồi một biến cố nữa lại đến, đánh dấu một khúc quanh trong đời con… Ngày xưa, Chúa đòi ba phải hy sinh cho con, bây giờ Ngài dùng chính sự đau khổ của con để ban cho ba một đặc ân trong 18 tháng trước khi thật sự xa con vĩnh viễn. Nào ai am tường được Chúa, ai thấu suốt đường lối Ngài?... Con được về với gia đình… trong cơn khủng hoảng của cộng đoàn… Con có ngờ đâu Chúa đã dùng chính những lý do không mấy tốt đẹp đó để bù đắp phần nào sự quảng đại dâng con cho Chúa của ba. Lúc nầy đây ba cũng muốn ở gần con, muốn có con bên cạnh. Chúa yêu sách với ba thật nhiều để rồi trả lại cho ba thật xứng đáng. Con hiện diện lúc nầy đây trong gia đình thật là phải lý. Với bầu không khí yêu thương, con quên hết ưu phiền đời con để đón nhận tất cả sỉ nhục đời tu… hàng xóm láng giềng xúi con ở lại đây với ba luôn. Con sắp phải ra đi ư? Con lo sợ! Không biết ba có khấn nguyện với Chúa không mà con lại trở về với ba một lần nữa qua quyết định của Mẹ bề trên. Nhưng lần nay con tạm ở lại Saigon. Cảm tạ Chúa quan phòng đã chuẩn bị cho con, để khi ba lâm bệnh, con phải đảm đương hết mọi sự cho ba.

Đã gần 6 tháng trời không về thăm ba, con quyết phen nầy đưa ba lên ở với chúng con. Anh Thông cũng đồng ý như vậy. Con cố sức làm việc để có phần dư dả hầu cha con mình tiêu dùng và nhất là để làm lại bộ răng cho ba. Được tin con sắp về, ba nôn nóng. Ba mong chờ con về với mâm xôi và con gà luộc mà ba đã dọn sẵn, sợ con về bất ưng. Từ ngày vắng mạ, ba lại cẩn thận và tỉ mỉ hơn trước để vừa là cha vừa là mẹ. Chúa ơi! Con hiểu thế nào nữa về tình yêu của Chúa dành cho con? Con không thể hiểu nỗi với trí khôn hạn hẹp của mình. Song con vẫn xác tín rằng Chúa còn thương yêu con nhiều hơn ba vô cùng, vì ba chỉ đáp ứng các điều trước mắt, còn Chúa, Ngài quyền năng và thấu suốt mọi sự thì lẽ gì mà con còn sợ hãi trước viễn tượng của cuộc đời đã được Ngài xếp đặt? Cảm tạ chúa ! Cảm tạ Ngài muôn nghìn lần đã ban cho con một người cha đã dạy cho con hiểu tình-yêu-hiền-phụ của Ngài vượt quá giới hạn con người.


I. BỐN THÁNG TRƯỚC KHI BA MẤT


Con về thật đúng lúc khi sức khỏe của ba suy giảm nhiều. Em Tịnh đã lo lắng ngày đêm đến nỗi có lần em đã kể cho con rằng: mỗi chiều đi làm về, em không dám vào nhà, không biết có còn ba không? Ai xui khiến 3 hôm sau con lại quyết định đưa ba lên ngay, thay vì trước đây con có ý định ở lại chơi một tuần lễ. Con hỏi ý ba, ba bằng lòng. Thế là ba cha con thu xếp hành lý. Sáng nay ba ra xe, ba khỏe hẳn trông ba vui hơn thường. Ai biết được chỉ ngày hôm đó ba tự đi được một mình. Ra đi từ tảng sáng, lên đến Saigon đã 9 giờ đêm. Ngồi trên tàu, ba còn bảo: “Về Saigon, ba dẫn con đi ăn các món ngày xưa còn trẻ ba vẫn thích. Con hứa sẽ đưa ba đi thăm bà con. Cha-con-ông-cháu gặp nhau thật vui. Đêm hôm đó, con lại nghĩ đến em Tịnh ở nhà một mình mà thương quá. Ba cũng vậy, và lại thấy nhớ nó. Sáng hôm sau ba chỉ vào thăm nhà ông bà sui, kỷ niệm cách đây mấy năm trước, cũng ngày hôm nay, ba đi hỏi vợ cho anh Thông, con trai cả của ba, và ba nằm xuống từ đó…

Ba bắt đầu mệt. Hai chị em con lo quá. Con vừa làm việc, vừa chạy chữa thuốc men cho ba. Song không thấy chi khả quan. Sau một tháng bỏ dạy để theo ba, chị Bình được lệnh trường gọi về. Chi bịn rịn không muốn đi song ba bảo: “Thôi con về đi, mai mốt ba về sau”. Chị có ngờ đâu đó là câu nói cuối cùng ba gửi lại cho chị.

Em Tịnh lên. Hai chị em tiếp tục đưa ba đi từ bệnh viện nay sang nhà thương kia. Ban đầu, ba còn dựa vào Tịnh để đi. Sau nầy, em phải cõng ba lên xuống cầu thang. Thấy ba càng lúc càng yếu dần, con rất ái ngại. Bác sĩ Tú nói: “Phổi ba nát, gan ba khô, đường tiêu hóa của ba bị rối loạn. Thêm vào đó, ba bị kiệt sức nhiều. Cũng còn hy vọng chữa lành, song cô có đủ khả năng theo các toa thuốc của tôi trong suốt 3 năm liền, cả đến thức ăn cũng vậy không?”. Con ra về, lòng mang nặng nỗi sầu đau… Lấy tiền đâu ra để chạy thuốc cho ba khi con vẫn còn bám víu vào hồng ân của Chúa? Ngài nuôi sống con từng ngày, không phải do công lao của con, nhưng là bởi tình thương của Ngài. Chúng con đã chua xót ngậm ngùi. Anh Thông buồn nhiều hơn cả vì nỗi bất lực nầy. Chúa định cho con được lãnh phần thay anh. Chúa trả cho ba gấp trăm, vì Ngài đã cướp mất con gái của ba. Chưa chịu thua, con xoay chiều khác: đưa ba đi châm cứu. Đến nơi, thầy bảo hết châm được vì ông già quá yếu. Hai viên thuốc to bằng ngón tay ông bảo đưa về cho ba uống. Có phần hy vọng. Con liền chạy xuống cầu cứu cha Bảo Toàn. Ngài có tiếng về khoa chữa bệnh bằng đức tin. Cha bảo đưa ba xuống, con thất vọng. Làm sao ba đi được, khi ba đã quá yếu? Con đành trở lại Saigon.


II. BA MƯƠI NGÀY TRƯỚC KHI CHẾT


Sáng nay thức dậy, ba kể cho con giấc mơ hôm qua: Ba đi lạc vào rừng, ba gặp một ông lão mặt mũi phương phi, tóc và râu dài bằng nhau. Ba đến hỏi về cổ quan và thiêu xác hết bao nhiêu. Ông bảo: “Một ngàn đồng”. Ba kêu: “Mắc quá, con tôi không đủ tiền”. Ông ra chiều suy nghĩ và bảo: “Thôi già bớt cho 500 đồng, giá chót là 500 đồng, không bớt được nữa đâu”. Ba bằng lòng. Kể xong, ba tiếp: “Ba thấy chắc chẳng còn bao lâu nữa, giờ của Chúa đã gần, con đi lo cho ba đất đai, con lên cha sở hỏi trước, ba trông cậy vào con”. Và ba an ủi con nhiều. Con kêu: “Ba nói chuyện chi mô, ba sắp khỏe rồi”. Con lật mí mắt ba lên và reo to: “Ồ, gân máu ở mắt ba có nhiều, chắc ba sắp lành bệnh. Sắc mặt ba cũng hồng hơn trước. Con mừng thật mừng !”.

Nào ai có ngờ đâu, chỉ là sự bùng lên của ngọn nến sắp tắt! Nhưng tự nhiên con nghĩ đến chuyện xức dầu. Con sợ ba buồn, không dám nói… Sáng nay, cha Lộc và bác sĩ Hoa sang thăm. Bác sĩ lắc đầu, nước mắt con vòng quanh chảy. “Ba bị cancer”, bác sĩ Hoa bảo vậy.


III. TUẦN LỄ CUỐI CÙNG CỦA BA


Ba nhắc nhiều đến mạ. Lúc nào nằm mơ cũng thấy mạ con về. Đó là câu chuyện mỗi bữa sáng ba vẫn kể cho con nghe. Con thấy bồn chồn quá… chiều nay con sang nhà xứ, cha Lãm đi vắng. Con mời cha phó Đức sang cho ba lãnh phép bí tích xức dầu. Chiều hôm ấy con buồn vô kể. Từ hôm nay, ba xin đừng tập cho ba đi nữa. Con cũng muốn lắm, sợ làm ba mệt. Nhưng anh Thông không chịu vì bác sĩ bảo thế. Sau nầy, khi ba chết, anh hối hận quá, vì đã bắt ba đi mỗi ngày một vòng.

Ôi ngày xưa còn bé, ba đã bồng ẵm, tập cho chúng con đi và đút cho chúng con ăn. Bây giờ đây, đến lượt chúng con, chúng con làm các sự ấy cho ba. Mỗi lần đi, ba mệt lã người. Con còn nhớ những giọt mồ hôi từ mặt ba nhỏ xuống sàn nhà. Dẫu vậy, ba vẫn vui lòng để chúng con tập cho ba đi mỗi ngày… Bây giờ, ba đau nhiều hơn trước. Nhất là về đêm, ba trằn trọc, ba hay đổi thế nằm luôn, nên chúng con phải thay nhau ngồi cạnh ba suốt đêm.

Mấy hôm nay, ba nhắc chị Bình sao chưa thấy lên. Con nói để an ủi ba rằng: “Còn ít nữa là Phục Sinh, con nhắn chị lên cho ba kẻo ‘bi chừ’ các em đang thi học kỳ cuối năm, chị phải ở lại trường cho các em thi”. Ba làm thinh. Con cứ tưởng rằng ba nhớ chị và nhắc vậy thôi…

Ai ngờ, sáng thứ năm, con đỡ ba sang ghế nằm. Ba khó thở, ba thở dốc mãi và đầu cứ ngắc ngoải bên trái rồi qua phải, tay chân ba rũ rượi. Chúa ôi! Con cứ tưởng ba chỉ mệt như mọi lần thôi, con tiếp tục dọn dẹp. Ba gọi con. Chị Hồng đến… 19 giờ con còn xay cho ba 1 ly sinh tố. Con nhìn ba ngắc ngoải mà lòng ruột đau xót… con khóc… Chị Hồng đành đút cho ba ăn. Chị cố nài ba: “Thôi cố ăn thêm một muỗng nữa kẻo con Thanh nó khóc kìa”. Ba lại há miệng cho chị Hồng đút. Ba ơi! Con biết ba thương con thật nhiều, nhiều vô kể. Anh Hai ngồi đó… lặng nhìn ba trong cơn đau đớn. Anh làm hiệu biểu chị Hồng đừng ép ba ăn nữa. Con hỏi ba: “Ba có thấy gì không? Có khách đến thăm ba nè!”. Ba bảo ba thấy một người to và cao lắm. Ba còn bảo con lấy áo chemise mặc vào cho ba kẻo bất lịch sự. Ba thật tế nhị... Chị Hồng và con cười. Anh ở lại mãi quá trưa mới về. Con tiễn anh và chị Hồng xuống nhà. Anh dặn và an ủi con nhiều điều. Con không ngờ chỉ còn mấy tiếng đồng hồ nữa thôi, ba mãi mãi bỏ chúng con mồ côi.

Con đỡ ba sang giường. Ba mở to hai mắt nhìn con như muốn thu lấy hình ảnh đứa con gái ba thương nhất vào lòng. Con nghĩ bụng, chiều nay đi lễ sẽ ghé qua mời cô Hai ở đường 3/4 đến xem mạch cho ba. Bốn giờ chiều, con chuẩn bị đi lễ. Thầy Huy đến hỏi thăm ba có khỏe không? Com mời lên nhà. Thầy bảo vội về cho kịp kẻo tối. Thầy còn dặn hễ ba có hề chi thì qua nhà thương tin cho thầy. Ba thấy không: Chúa vẫn sai Thiên thần đến với cha con mình. Con dặn dò em Tịnh vài điều rồi đi lễ. Ba còn cười với con một lần cuối. Tan lễ, con đi lấy hàng và ghé nhà cô Hai năn nĩ mãi, cô bảo con sáng mai 6 giờ đến đón cô… Cô có ngờ đâu giờ của Chúa đã đến!

Con về. Bây giờ là 20 giờ tối thứ năm trước tuần Chịu Nạn… Chuông bấm vừa reo, anh Thông đã vội vã hớt hơ hớt hãi từ trên nhà chạy xuống: “Thanh ơi, đi mời cha mau lên, ba hấp hối rồi”. Con chạy bay sang bên nhà xứ. Cha Đức bảo con về với ba đi, ba đã chịu đầy đủ các phép. Con lên nhà, ba nằm đó bất động… “Ba ơi”, con gào thét nhưng ba vẫn nằm im, hai mắt mở ra. Chúng con có mặt cả, thiếu chị Bình. Tịnh làm hô hấp nhân tạo cho ba. Con làm mấy tác động nhẹ: Đưa tay lên rồi bỏ xuống, cứ như thế may ra ba tỉnh lại… Nữa giờ sau, không có kết quả gì, con lo sợ: “Ba đi thật rồi ư?”. Không, ba vẫn mở mắt ra nhìn con. Con không muốn nghĩ rằng ba đã chết, dẫu cái chết thực sự đã đến với ba. Tịnh và con ngừng tay. Chúng con không khóc được, vẫn cứ hy vọng ba chỉ ngất đi thôi. Mãi đến lúc ông ngoại cháu bé Linh bảo rằng “Ba đi rồi “, con chợt hiểu. Cả mấy anh em oà lên khóc. Ba đi thật nhẹ nhàng, con cứ tưởng ba ngủ. Thật ra, ba đã ngủ giấc ngủ nghìn thu. Giấc ngủ đã đưa ba vĩnh viễn ra khỏi trần gian để bước vào vĩnh cữu, nơi không còn đau khổ nữa.

Chúng con vẫn ngồi bất động bên xác ba, không ai nói một lời. Chúng con như đang mơ… 22 giờ quá, con và em Tịnh rửa xác ba. Con còn hỏi em: “Tịnh ơi, ba chết thật rồi hả?”. Rồi hai chị em sụt sùi khóc, không biết lúc đó ba có đau đớn không nhỉ? Cơn bệnh đã cướp mất vẻ đẹp ngày ba còn sống, thân xác ba giờ đây chỉ còn là nắm xương sau làn da bọc. Con chợt nghĩ đến hình ảnh Chúa Chịu Nạn. Con nhớ lại những lời ba nói với con ban sáng về cuộc tử nạn của Chúa. “Thanh ơi ! Con có biết ba đau đớn lắm không?”. Ba hỏi con vậy, con thưa rằng: “Ba ơi, con biết, con biết ba đau lắm chứ, con muốn chia sẻ cơn đau của ba, song con bất lực quá”. “ Con thật đáng thương với sự bất lực nầy”, rồi ba tiếp: “Chắc con không hiểu thấu sự đau đớn của ba. Nhưng vẫn chưa thấm vào đâu so với cuộc khổ nạn của Chúa đâu con ạ!”. Ôi, từ đây, con ghi nhớ lời nầy. Đây là gia bảo thiêng liêng ba để lại cho con. Chắc hẳn tâm hồn ba lúc ấy đang cảm thông với Chúa Kitô trên thập giá, đang hướng về Ngài và dõi theo cuộc tử nạn, cơn hấp hối của Chúa ngay trên thân xác mình. Con liên tưởng đến Isaia, đoạn nói về Người tôi tớ của Đấng Gia vê: “Người không còn sắc thanh diện đẹp đẽ để người ta ưa thích.”. Quả thật, giờ đây ba cũng trở nên nghèo nàn như chính cuộc sống của ba. Ba đã trở về với cái ‘hư vô’ phận người…

Viết đến đây, con không muốn gì nữa ngoài Chúa Kitô, cùng đích của đời con. Con đã cảm nếm sự mau qua của đời tạm cục-diện-thế-giới và chính bản thân con. Sự chết đã làm cho mọi chuyện mất đi cái vẻ hấp dẫn của chúng. Chỉ có cái chết của CON NGƯỜI TRÊN THẬP GIÁ mới khiến cho mọi sự đáng yêu và đáng theo đuổi.

4 giờ 30 chiều thứ sáu trước Tuần Chịu Nạn, giờ tẩm liệm ba. Chiếc khăn tang lần thứ hai được quấn vào cổ con. Mọi người đều ngậm ngùi thương cảm ba. Con đứng đó bất động, lặng nhìn xác ba một lần cuối - chỉ có vài người trong đám quen biết đến dự - thật lặng lẽ như chính cuộc sống của ba. Chị Bình giờ này vẫn chưa thấy lên. Bây giờ con mới cảm thấy sự chết chia lìa cha con mình bởi cái cỗ quan và hương nến, tuy nắp quan vẫn mở chờ chị Bình về. Sốt ruột quá, con thẫn thờ chạy lo công chuyện lễ đám cho ba, quên cả khóc. Nhưng hình ảnh ba vẫn hiện diện trong con. Mọi chuyện đã tạm yên…

Sáng nay, thứ bảy mồng 8 tháng 4, không thể để lâu hơn nữa, chúng con đành phải đóng nắp quan lại. Thế là vĩnh viễn mất ba. Tám giờ tối hôm ấy, chị Bình mới về tới Saigon. Chị khóc quá đỗi. Con ôm lấy chị mà khóc và an ủi chị thật nhiều. Chị thức với ba suốt đêm ấy. Con còn phải lên nhà lo việc ngày mai cho ba với một vài người bạn của em Tịnh, chúng con phân công. Chị Hồng gíup con ở nhà nấu nướng cho khách ngày mai. Ôi, Chúa thật tế nhị. Con cảm tạ Chúa đã quan phòng xếp đặt cho mọi sự được vuông tròn.

Sáng chúa nhật lễ Lá. Mười giờ mới cử hành lễ an táng cho ba. Tuy là chết ở xứ người, song nhờ sự ân cần lo lắng của cha xứ họ Hòa Hưng và các đoàn thể trong xứ đạo nên đám tang ba cũng bớt phần tẻ lạnh. Con cảm được tình Cha trên trời. Vâng, chỉ có tình yêu Chúa mới làm cho những người xa lạ thành quen thuộc, chứ ở giữa cái thành phố nầy, các gia đình sống cạnh nhau mà vẫn không biết nhau.

Một thánh lễ đồng tế được cử hành do cha chánh xứ Hòa Hưng, cha Văn Quy chủ tế, quý cha Nguyễn Văn Lộc - cựu giáo sư tiểu chủng viện Hoan Thiện, Cha Đức - phó xứ Hòa Hưng, Cha Ngô Phục - bạn học của anh Thông, và cha Chu Quang Đương - Giám Tập dòng Đa Minh, người có người bà con nằm chung bệnh viện với ba, Chúa đã quan phòng xếp đặt để các vị lo lắng các việc cho ba và đưa ba ra tận nơi an nghỉ cuối cùng. Ngày xưa ba vẫn thầm mơ điều đó khi cho em Tịnh đi chủng viện, thì hôm nay, dẫu chưa đạt được ước nguyện đó, Chúa cũng dành cho ba một đặc ân mà con lấy làm an ủi và cảm tạ Chúa vô cùng.

Mất ba rồi con đã mất tất cả để chỉ còn Chúa Giêsu là gia nghiệp. Con cúi lạy ba lần cuối. Nấm mồ, nơi yên nghỉ của hết mọi người… Con đã trọn tình hiếu thảo với ba nhưng con chưa trọn nghĩa với Chúa. Bây giờ, ba càng gần gũi và biết con đang nghĩ gì. Con tin chắc khi ba còn sống ba đã hết lòng thương và lo lắng cho con, thì nay ba càng có lý do để lo cho con hơn nữa. Và nhất là để Của-Lễ-Hiến-Dâng của ba được trọn vẹn thì xin ba nguyện giúp để con mãi mãi bền đỗ và trung thành với ơn gọi Chúa đã ban cho con.



Kính dâng hương hồn ba.

Anna Nguyễn Thị Thanh
Con của ba
- 1983 -

Thứ Năm, 15 tháng 5, 2008

Thư Cho Con





(Thư của ông Phêrô Nguyễn Văn Bửu gởi cho con là nữ tu Anna Nguyễn Thị Thanh)

I. Thời tao loạn





● Láng Gòn, ngày 15-4-74

Con yêu thương,

Vào đến Bình Tuy hôm nay đã là ngày thứ 13, mới rãnh rỗi để biên thư cho con, chắc con đã sốt ruột rồi hay là hơn nữa đã khóc rồi đó.

Bây giờ ba kể lại cuộc hành trình đến đất hứa cho con hay :

Sáng ngày 30-3 xe đến chở ra Hòa Khánh, nhà mình được đi chiếc thứ 2, lên đồ đạc xong là 10 giờ, chạy ra đó và đổ xuống là 12 giờ 30. Dọc đường ba có gặp ông Tốn và nhờ ông tin cho con hay ba đã rời trại 4. Ở lại Hòa Khánh cho tới chiều 2-4 mới có được 8 xe tải chở đồ, mình cũng nhờ phúc đức ai không biết, được lên xe thứ 4 và sáng 3-4 xe tải chạy lúc 9giờ, có Tịnh làm áp tải viên. Qua 9 giờ 50 có đoàn xe car tới 40 chiếc, song đồng bào làm reo không lên xe vì đa số chưa có xe lên đồ đạc. Sau 3 tiếng đồng hồ cãi vã, nhà chức trách phải mời ủy ban liên bộ tại Đà Nẵng đến hòa giải. Cuối cùng gần 12 giờ đồng bào mới chịu lên xe và xe bắt đầu rời Hòa Khánh lúc đó. Chạy từ đó vào Quy Nhơn thì xe car ba đi đuổi kịp xe tải. Trời ngày đó mưa tầm tả từ Hòa Khánh vào Quy Nhơn. Sau xe car vượt qua, đến gần Vạn Giả tức là quận hành chánh của tỉnh Khánh Hòa ở mé đèo Cả, cách Nha Trang 55km, xe định vào Nha trang nghỉ đêm nhưng vì đã 19 giờ hơn nên họ không mở cổng, đành nghỉ đêm tại Vạn Giả, nơi có nhiều thắng cảnh và núi non biển cả thật là đẹp. Xe tải chậm hơn nên phải ở lại Tuy Hòa.

Qua ngày hôm sau, lúc 5 giờ xe bắt đầu lăn bánh, mãi cho tới 11 giờ 30 xe tới Bình Tuy. Lẽ ra xe ba đi ăn giải 1 nhưng vì cậu tài xế lạ đường nên xe chạy tuốt về Cam Lộ đến Gio Linh sau mới de lại về địa điểm Đông Hà lúc 12giờ 30 ăn nhì. Xuống khỏi xe là có cán bộ hướng dẫn vào túp lều lý tưởng ngay. Túp lều dài độ 25x5m, nhà lợp lá, che lá, toàn là lá nhưng cao ráo mát mẻ, mỗi lều ở 8 gia đình. Gia đình mình với gia đình anh Sinh ở thì cũng rộng rãi như ở trại 4.

Nhận lều xong, mọi người lo dọn dẹp xong trải chiếu ra đánh một giấc thật là thần tiên vì đã 2 ngày ngồi cứng trên xe. Ngủ dậy ba lang thang bách bộ dọc theo các lều tìm Thông và anh Sinh, thì ra cả 2 đã về đó 4, 5 ngày nay và đã được thiếu tá quận trưởng Đông Hà ưu tiên cho một lều ngay cạnh đường Quốc lộ 1. Hai chàng đã dọn dẹp đàng hoàng, làm thêm nhà bếp, nhà tắm. Thế là lại 1 lần ôm gói đi nhà khác cách nhà kia 5 lô. Như vậy vấn đề nhà ở đã được hoàn toàn toại nguyện.

Đến thể lệ nhập trại, kê khai gia đình, kiểm kê thì sau khi các gia đình đã vào đầy đủ cả người lẫn vật dụng, qua ngày thứ 6 có 1 cuộc họp toàn toán 4 do nhà chức trách Bình Tuy triệu tập để lập tờ khai, thông qua các thể lệ và khởi sự kiểm kê dân số. Việc kiểm kê sơ khởi tại đây không như ở Đà Nẵng mà chỉ làm sơ sơ căn cứ theo sổ gia đình và đơn xin khẩn hoang lập ấp. Hy vọng một vài ngày nữa sẽ phát thực phẩm, cũng 0,5kg gạo cho mỗi đầu người, phát 15 ngày 1 đợt còn tiền thì 20$ mỗi người, tháng phát 1 kỳ.

Ở đây vấn đề nước có hơi khan vì chỉ có 30 giếng không đủ cung cấp cho 20.000 người, trong nay mai 2 giếng máy làm xong thì sẽ có đầy đủ hơn.

Về giá sinh hoạt tuy không được rẻ như trước vì người vào quá đông nhưng cũng dễ thở hơn Đà Nẵng nhiều: 1 con vịt ăn thịt giá 400$, gà giò 500$, khoai từ 60 đến 80$/1kg, sắn 45-60$/kg, gạo ngon 1.000$ được 23 loon sữa bò hơi toộng đáy, còn các đồ gia dụng khác thì chỉ bằng 1/2 hay 2/3 giá Đà Nẵng.

Khí hậu nước non xem ra hiền lành vì vào đây ai ai cũng công nhận là ngủ ngon, ăn được nhiều. Từ 12 giờ đến 8 giờ sáng hôm sau có gió biển thổi riu riu dễ chịu lắm, còn ban trưa tuy trời nắng nhưng đi đầu dầu vẫn thấy khoái, chắc khỏi phải tốn mũ, nón, ô hằng năm rồi đó.

Về tinh thần, có đôi chút trở ngại vì giữa cha Etcharren và cha Viên có một vài điểm bất đồng về cách tổ chức giáo quyền nhưng hy vọng 1 vài ngày Chúa Thánh Linh sẽ dung hòa 2 vị.

Anh Thông con cứ thứ 7 ra nhưng ba bảo từ nay 1 tháng ra 1 hay 2 lần kẻo tốn kém, vì mỗi đợt vào ra gần 2.000$. Còn Bình thì ba đã xin giấy chứng nhận để xin thuyên chuyển, lâu mau chưa biết. Bác có biên thư bảo Thông nói với ba là ý ông muốn ba lên trên đó gấp nhưng ba chưa trả lời. Bác mở thêm đại lý đại bài gạo cho toàn tỉnh Pleiku. Vào đây bà con hay tin đã tấp nập tìm về thăm và cho ăn trái cây u ê.

Ba khoẻ hơn ở Đà Nẵng nhiều, e 1/2kg gạo ăn không đủ, hy vọng sẽ lên cân liền.

Thôi đã khá dài lời, còn sót gì thư sau ba sẽ nói thêm. Con cầu nguyện cho gia đình và cho công cuộc của các vị lãnh đạo tinh thần đem đến kết quả tốt. Lúc nào nhớ nhà con chạy ngay đến trái tim Chúa sẽ gặp lại gia đình liền.

Ba của con



● Láng Gòn ngày 2-5-74

Thăm con,

Đây là lá thư thứ 2 ba biên cho con từ khu Khẩn hoang lập ấp Bình Tuy. Chắc thư trước đã đến tay con và con cũng tạm tưởng tượng được cảnh Bình Tuy rồi. Mới đó mà đã giáp 1 tháng ngày đoàn di dân rời Hòa Khánh đi Bình Tuy (2-4-74). Ba từ hôm đó tới nay vẫn thường, ăn ngủ đều đều và ngày ngày cũng làm đôi công việc lai rai thôi, chứ vào rừng đốn cây chặt lá thì chưa làm nổi.

Nay đến giai đoạn mọi người lo ráp nhà chuẩn bị cho ngày ra khu gia cư. Riêng mình thì anh Sinh đã làm cho 1 liếp nhà, đợi vài bữa nữa anh Khuyên bỏ giống xong trong rẫy ảnh sẽ ra ráp nhà cho. Như vậy là vấn đề nhà ở tạm giải quyết xong. Việc quan trọng sắp tới là nhận đất và canh tác, trồng hoa màu. Trong này lúc này là chính lúc làm mùa vì bắt đầu mùa mưa và chỉ có 2 mùa phân biệt, mỗi mùa 6 tháng nắng và 6 tháng mưa. Sáu tháng mưa mà không làm được hoa màu là năm đó ngồi bó tay chịu đói. Cá mú, rau quả cây trái từ mấy hôm nay ở các vùng phụ cận như Phan Thiết, Long Khánh, Bình Tuy đổ xô về đây bán nên rẻ lắm. Một nải chuối mốc ở Đà Nẵng 120$, ở đây chỉ có 60-65$ mà thôi. Có hôm cá quá rẻ và tuy Đông Hà có 23.000 người ăn mà cũng không sao mua hết cá, thịt heo, bò có phần đắt hơn nghĩa là 1.400$/kg bò, 1.100$/kg heo so với Đà Nẵng 2.000$/kg bò và 1.800$/kg heo.

Đây chỉ kẹt nước vì tuy đã có 30 cái giếng mới đào mà cũng không đủ cung cấp nước dùng nên thỉnh thoảng phải mua thêm nước uống với giá 200$ mỗi phuy.

Tịnh đã về hè, cha giám đốc cho nghỉ trước 15 ngày vì tình hình Huế bị xao động. Em đã vào tới nơi yên hàn. Ba cũng đã nhận thư Bình nói 30-5 là bãi trường và chưa biết sẽ quyết định khi nào vào Bình Tuy. Bình cũng báo tin ngày con mặc áo, nhưng không biết ngày đó ba có ra được không ? Vì lẽ lúc nay là lúc ăn chực nằm chờ, cứ đủ thứ chờ đợi: đợi nhận gạo, đợi nhận tiền, đợi kiểm kê, đợi cấp đất, cấp nhà, đợi thông cáo nầy thông cáo nọ của quận Đông Hà, của Bình Tuy, ôi thì lung tung xèng vậy. Hơn nữa tình hình mấy hôm nay ở ngoài đó nghe hơi khó khăn nên phần chắc hơn là ba không ra được, con chớ buồn nhé. Còn chị Bình nếu bãi trường ngày 30-5 mà ở lại đến 30-6 cũng kẹt lắm nên ba bảo cứ vào đây rồi lúc đó sẽ tính, hoặc anh Thông con sẽ xin máy bay cho ra cũng tiện.

Nếu vì sự bất đắc dĩ mà ngày đó không có ai ra thì con cũng chớ nên buồn mà phải trọn dâng cho Chúa vì cuộc đời tu hành là một cuộc tận hiến.

Ngày kia ba đi Phan Thiết lãnh hưu, cũng gặp một vài người bà con ở đó. Tỉnh lỵ Phan Thiết rộng rãi, cảnh đẹp, cũng có con sông bò ngang thị trấn và ở đây vật giá cũng rẻ, nhứt là hải sản. Từ Bình Tuy tới Phan Thiết khoảng 45-50km, tiền xe chỉ 300$, có thể đi về trong buổi mai.

Ba vẫn ở chung với anh chị Sinh và ăn uống chung. Chị Sinh ở đây với 3 đứa nhỏ, còn mấy ả choai choai ở Saigon học, có mấy ả làm rẫy tại Biên hòa. Anh thì cứ 1 cảnh 2 quê, về Bình Tuy ít bữa rồi lại lên rẫy Biên hòa, nhưng điểm chính là Bình Tuy vì ở đây mới có trợ cấp và chính thức nhập thôn xã.

Ba đang cố kiếm người giúp việc để nay mai ra khu gia cư mà kiếm chưa có người vì ở đây ai ai cũng có công việc nhà của họ, lớn nhỏ đều có công việc cả nên hơi khó kiếm. Nếu Bình thuyên chuyển vào đây được thì đỡ mà không thì kẹt đó. Nói vậy chớ con đừng lo vì mọi việc Chúa sẽ an bài hết không sao mà lo.

Bác có biên thư bảo ba lên kẻo ông hơi yếu ba đã trả lời vì lúc này bận chưa thể lên được.

Thôi đã dài thư, con hằng chạy đến với Mẹ Maria xin Ngài lo mọi việc cho.

Cầu nguyện cho gia đình.

Ba của con.



II. Niềm vui tận hiến





● Láng Gòn ngày 3-6-74

Thanh của ba,

Chị Bình con đã tới Saigon và ra Bình Tuy chiều nay 3-6. Đọc thư và nghe Bình thuật lại mới hay ngày nhận áo dòng của con, chứ từ hôm nhận thư cuối của con cho tới nay, ba không biết tin tức gì về con và cứ ngóng thư con hoài. Thôi thì mọi việc cũng đã xong và sự vui mừng của ba không tả nên lời. Ba chỉ biết chấp đôi tay dơ bẩn mà thờ lạy thánh ý Chúa và cám ơn Người đã khấng nhận của lễ mà ba và mạ con đã hiến tế cho Người, dầu là hèn mạt.

Ba cũng dạy bảo con thêm một đều nhân ngày con nhận áo, đó là con phải giữ áo ấy cho tinh tuyền và đẹp đẽ mới mẻ luôn. Phải giặt và hồ cho cứng vì mặc áo trắng, làm một tu sĩ chưa đủ vào đâu mà phải nên một tu sĩ thánh mới đủ. Mà muốn nên tu sĩ thánh con phải cố gắng hằng ngày sống thánh, mà sống thánh dễ dàng hơn cả là theo đường hướng của chị cả Thérèse. Con hãy tránh phương cách tu hành mà có vẻ băn hăn tự cột lấy cho mình một lối sống khó chịu, gay gắt với mình. Đã khó khăn với mình đương nhiên gây phiền lòng cho những người quanh mình nữa.

Ba còn nhớ hồi ba đang ở tiểu chủng viện có vị giáo sư triết người Pháp hay nói với chủng sinh là anh em nay mai sẽ là vị thánh sống rằng : “Un saint triste est un triste saint “. Ba chỉ nói sơ qua cho con một đường hướng chứ ở dòng con sẽ có bao nhiêu vị đàn chị sẽ là hướng dẫn viên, huấn luyện viên của con, con cố nghe và noi theo. Thứ đến là con hãy gạt bỏ xa những gì của thế tục, của thế tục để người thế tục lo, con chỉ biết có Chúa là gia nghiệp của đời con, dù ba hay anh em cũng chỉ biết thương nhớ bằng lời cầu nguyện mà thôi. Ví dụ con nghe tin giờ đây ba phải đi hành khất đó đây con cũng chỉ biết cúi đầu cám ơn Chúa và xin người lo cho ba mà thôi chứ không còn băn khoăn lo lắng như ngày trước nữa, đó mới là tận hiến cho Chúa.

Thôi e dài lời rồi, con đọc thư mất cả thì giờ, ba vẫn khỏe luôn. Cầu xin Đức Mẹ cho con được bền đỗ theo ơn gọi và cố gắng bước tới bậc trọn lành. Cầu nguyện cho gia đình.

Ba của con.



● Láng gòn ngày 31-7-74

Thanh của ba,

Vừa từ Pleiku về hôm 27-7, sáng hôm sau ba nhận được thư và ảnh của con ba. Ba thật sung sướng ngắm cái hình xinh xinh của con ba mà không muốn bỏ vào album nữa, vì đó là kết quả đầu tiên mà ba mơ ước từ hôm đưa con ra bến xe Quảng Trị cách đây mấy năm trời và sau đó mấy tuần lễ không ăn bỏ ngủ vì nhớ con còn thơ dại mà đành hy sinh cho con xa lìa ba. Rày ba hằng cầu nguyện xin cho con được giữ tấm áo ấy trong trắng và còn phải trang hoàng nó cho ngày một thêm tốt đẹp hơn, cho đến cuối cuộc đời của con. Đó là nguyện vọng duy nhất của ba và của mạ con thủa trước. Con cố cầu khẩn và rán vượt mọi thử thách, mọi quyến rũ sẽ đến với đời tu hành của con. Ba sẽ biên cho con mỗi tháng 1 thư thôi vì ba cũng tập giữ luật dòng như con vậy.

Dài lời quá sợ mẹ quở, ba nghỉ viết và cầu chúc con sống theo ý Chúa. Cầu cho gia đình.

Ba của con.


III. Cuộc sống mới





● Láng Gòn ngày 1-5-1975

Con của ba,

Gặp dịp may hiếm có, mấy sư và ni cô ra Huế, Quảng Trị thăm nên ba biên thư nầy hy vọng nó sẽ đến tay con, đánh tan bao âu lo của con cũng như trăm ngàn người khác trong hoàn cảnh xa gia đình và bặt tin tức.

Đọc thư con hãy yên tâm và cám ơn Chúa đã giữ gìn gia đình mình hoàn toàn yên ổn.
Gia đình vẫn ở Láng Gòn trong lúc một số đông hơn phân nửa ở khu khẩn hoang lập ấp đã đi tán loạn, kẻ chạy vào, người chạy ra, nhưng hiện mấy ngày nay họ cũng đã lần lượt trở về lại. Đây hoàn toàn yên tịnh, mọi sinh hoạt đều không bị gián đoạn chi hết. Chỉ trong một ngày đêm bộ đội đã đến giải phóng Bình Tuy một cách tốt đẹp, không gây đổ máu và hư hại gì hết nên đồng bào vui mừng lắm. Gia đình mình nhờ ở lại nên khỏi bị hao thất đồ đạc cũng như hoa màu ngoài vườn. Hiện sức khỏe của bác, ba và Bình vẫn khoẻ, con hãy mừng và yên tâm đi.

Thông và Tịnh từ hôm kẹt đường Saigon thì không có tin tức gì cả, nhưng ba được biết các trường học đều đóng cửa và sinh viên học sinh đều phải đi công tác cứu trợ, chắc nay mai xe Saigon chạy thì cũng về thôi. Bội đội tiếp thu Saigon cũng rất là tốt đẹp không can hại chi cả. Không biết số phận của gia đình bác và anh Diệp ra sao và ở đâu, cũng như tất cả bà con nội ngoại ở Quảng Trị, Huế, Đà Nẵng, Nha Trang nữa?

Thư đã dài, ba ngưng lại đây, cầu xin cho con được ở xứng đáng, trọn hiến và bền đỗ trong ơn gọi cho đến giờ cuối cùng.

Con cầu nguyện cho gia đình, bà con, đồng bào và tổ quốc chóng thanh bình, phồn thịnh.

Ba của con.



● Đông Hà ngày 23-6-75

Con của ba,

Bữa thượng tuần tháng 5 ba có gửi cho con một thư tin cho con hay tình trạng của gia đình, chắc con đã nhận rồi. Đến nay cũng đã gần 2 tháng ba lại thư cho con đây. Ba và gia đình đoán chắc là vào ngày 29-6 này dòng cũng tổ chức lễ khấn hứa cho các tập viện như thường lệ hay nếu không tổ chức lễ khấn hứa thì ít nhất cũng là ngày kỷ niệm một năm ngày trọng đại của cuộc đời tu hành của con.

Tuy xa xôi song trong ngày đó, gia đình sẽ dành riêng để hiệp ý cầu xin cho con được vững tâm bền đỗ trong hướng đi của con và được nhiều ân sủng.

Gia đình vẫn bằng an vui vẻ. Thông, Tịnh đã về nhà hôm cuối tháng. Bữa nay có gia đình bác và anh Diệp cũng về đây mua nhà ở, cũng gần nhà mình, 3 gia đình hợp lực canh tác sản xuất nên đến nay đã làm được 2 mẫu lúa, bắp, đậu. Cầu trời cho được mùa thì đỡ lắm, hiện còn tiếp tục canh tác nữa để trồng khoai, sắn và các hoa màu phụ. Thông, Tịnh, Hạnh, Hoa đều là các tay canh tác đắc lực cả : “Lao động là vinh quang”.
Trong này bắt đầu vào mùa mưa, mùa trồng trọt, thường mưa trộ vào buổi chiều hay vào đêm nên khí hậu dễ chịu lắm.

Bưu điện nay đã làm việc lại bình thường, con xin phép biên thư trả lời kẻo ba trông tin.

Cầu xin ơn trên cho con luôn yên hàn, mạnh khỏe và bền đỗ trong ơn gọi.

Ba của con.



● Đông Hòa 14-2-77

Con thương yêu của ba ,

Bấm tay mà tính thì vừa trọn 18 tháng chẵn ba không hề hay biết gì về con và con cũng không nhận thư từ gì của ba. Mười tám tháng lâu quá và lâu quá Thanh nhỉ ?

Ba về tới nhà lúc 11 giờ 15 ngày 10-2-77. Thế là qua 1 tháng học tập đợt 1 tại địa phương và 16 tháng tại trại Bình Minh, trung tâm cải tạo của tỉnh.

Thật quá cảm động lúc vừa bước chân xuống xe vào nhà. Con đoán thử vì sao? Tất cả anh em, bà con xóm giềng đều đã đợi sẵn ở mé đường, không tài nào trả lời kịp những câu thăm hỏi của mọi người.

Đến giờ phút nầy ba chưa gặp Thông vì đang đi đón mẹ con cu tý trên Saigon chưa về, còn gia đình đều được an vui cả. “Deo gratias”.

Tối hôm sắp lên xe ba đã có chương trình biên thư hỏa tốc cho con khi về tới nhà nhưng về đây nghe Tịnh nói chị sẽ vào, có lẽ trong dịp Tết nguyên đán, nên ba lại đổi chương trình vì ước đoán con sẽ vào, sợ lạc thư. May hôm nay có anh Tâm, người cầm thư này là bạn thân của nhà ta ra thăm bà con, ba mới biên thư cho con đây. Anh sẽ tường thuật cho con, sau Tết anh sẽ trở lại Đông Hoà. Nếu con có vào thì đó là dịp may hiếm có, còn nếu không vào thì biên thư hồi âm, anh hứa sẽ trở lại gặp con trước lúc trở vào, con chuẩn bị sẵn nhé.

Trong suốt thời gian học tập ba vẫn mạnh khỏe, chỉ có đau sơ sơ thôi. Nếp sống ở đó hầu như ở Phước Sơn, không có gì lạ lắm, chỉ có điều không được tin tức gia đình là nỗi lo âu thôi. Đối với ai biết sống ký thác thì cũng cứ vui vẻ, khỏe khoắn vì “Ai tin tưởng và trông cậy vào Ta thì sẽ có Ta luôn luôn bên cạnh”. Như vậy thì con có gì mà phải áy náy âu lo nữa phải không con thương? Nhưng ngày con vào thấy ba chắc con cũng bật cười và tặng thêm cho ba tên ba sóm nữa đa. Về đây mấy ngày nay ba đang bận rộn lập thủ tục giấy tờ suốt ngày mà cũng chưa xong, còn phải ít hôm nữa mới yên.

Sơ qua cho con, mong ngày hội ngộ cha con mình sẽ tâm sự dài hơn. Con hãy tạ ơn đi nhé.

Ba ngưng lại đây, chúc con khỏe, can đảm và chóng trở thành đứa bé lao động tốt.

Ba của con thương nhớ con nhiều lắm.



● Tân Hà ngày 9-4-78

Con thương của ba,

Ba vừa nhận được thư con hôm qua. Chiều nay 9-4 khi ba biên thư này cho con thì cả nhà cũng đang bận rộn dọn dẹp đồ đạc để ngày thứ tư hoặc thứ 5 sẽ lên đường đến vùng kinh tế mới xây dựng tương lai. Khu đất nầy ở cách con đường Saigon - Lâm Đồng - Đà Lạt khoảng 20-25km, từ Tân Hà tới đó khoảng 70-75km, xe đi suốt buổi mai vì đường mới làm, trong nay mai đường sá sửa sang đàng hoàng thì sẽ mau hơn và hy vọng tới lúc con được vào thăm nhà thì càng mau hơn nữa.

Vùng nầy ngày trước họ đã lập khu trù mật, đất đai rất màu mỡ và đã quy tụ dân Trị-Thiên-Nam-Ngãi vào lập nghiệp tại đó. Hiện bây giờ còn một ít gia đình người làng mình còn ở đó như anh dượng Tam, anh dượng Tám… và đời sống khá giả.

Vì vậy nên nhà nước đã quyết định đưa 2 thôn Đông Thiện và Đông Hòa lên đó lập nghiệp. Thôn Đông Thiện đã đi hết nay tới thôn Đông Hòa. Nhà o Lới, con Vui đã tới nơi ngày kia còn nhà bác Bính xin trở lại Pleiku, đang lập thủ tục và sẽ lên đường nay mai, đến Nha Trang anh Đức sẽ biên thư cho con hay.

Đó, con thấy cuộc đời là một cuộc hành trình vĩ đại, đi và đi mãi cho tới khi nào tới đích mới thôi.

Ba từ 1 tháng nay uống thuốc ngoại khoa cũng hơi đỡ, nghĩa là nhúc nhắc trong nhà được.

Thôi ba ngưng tại đây và xin ơn trên cho con đầy đủ sức khỏe để làm tôi Chúa cho trọn. Con cầu cho gia đình đến xứ lạ được mọi sự bằng an.

Ba của con






Viễn cảnh trù phú của vùng đất mới không phải là hiện thực. Rừng thiêng nước độc và bệnh tật đã cướp đi sức khỏe vốn đã mòn mỏi của ba, người đã ngã qụy và ra đi vĩnh viễn vào lúc 21giờ ngày 9-4-1981, bỏ lại đàn con côi cút giữa rừng núi thâm u.

Bây giờ ba đã có cuộc sống mới vĩnh hằng bên Đấng Chí Tôn. Xin ba hộ phù đàn con đang phải vật lộn với muôn vàn khó khăn trong cuộc sống để chúng con đứng vững, nuôi dạy con cháu sống xứng đáng theo gương ba, phát huy truyền thống gia tộc làm rạng rỡ tông môn.

Chúng con kính lạy.

Thứ Ba, 13 tháng 5, 2008

Chủng viện Dinh Cát - Hoà Ninh - Di Loan

Chủng viện DINH CÁT - HÒA NINH - DI LOAN (Quảng Trị, 1783-1858)
Chủng viện KẺ SEN (Quảng Bình, 1849-1856)
... Tháng 7-1782, linh mục J. Labartette được cử làm Giám mục phó để đảm nhiệm mạn Bắc Đàng Trong, đặt trú sở ở Di Loan ở Cổ Vưu, giúp Giám mục Pigneau hoạt động ở miền Nam. Vị tân Giám mục phó mới 38 tuổi, dịu dàng, nhân ái luôn quan tâm nhiệm vụ đào tạo linh mục để có thêm cán bộ truyền giáo. Ngài ủy nhiệm thừa sai Jacques Longer thành lập chủng viện ở vùng Dinh Cát. Địa điểm được chọn là xã Hòa Ninh - Di Loan.

Hòa Ninh là một xã ở huyện Bình Chính, phủ Quảng Trạch, xứ Thuận Hóa (xã Quảng Lưu, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình ngày nay). (Đinh Xuân Vịnh, sđd, tr. 243).

Di Loan (Di Luân, Di Lý) là một xã thuộc tổng Minh Lương, huyện Minh Lương, phủ Quảng Bình (Phủ biên tạp lục, Lê Quý Đôn, sđd, tr. 82). (Xem PL 14).

Hòa Ninh - Di Loan là những họ đạo thuộc Dinh Cát. Từ thế kỷ XVII, vùng Dinh Cát có được 24 họ đạo. Nếu kể các họ đạo từ sông Gianh vào đến giáp địa giới tỉnh Thừa Thiên (ngày nay) thì vào năm 1694 đã có tất cả 61 họ đạo với khoảng 6.579 tín hữu trong 4 giáo Hạt (Lm. Nguyễn Văn Hội, Lịch sử giáo phận Huế, tlđd, tr. 70-71).

Năm 1783, thừa sai J. Longer xây dựng xong được chủng viện. Đức cha phó Labartette đứng chủ lễ khai giảng ngày 28-6-1784, bấy giờ có 13 học sinh, J. Longer làm Giám đốc.( Lm. Nguyễn Văn Hội, tlđd tr. 127-128. Và "Giáo hội Công giáo ở Việt Nam" tập 2, Ronéo, tr. 246).

Việc lập chủng viện nầy thừa sai Longer đóng góp công lao rất lớn. Đức cha Labartette chi phí cho được 200 quan tiền và 20 cây gỗ mít. Cha Longer tận lực vận động giáo dân giúp công giúp của. Ngày "thượng lương" (ngày bắt đầu dựng kèo nhà) cả đồng bào không Công giáo cũng tới dự lễ, dâng cúng lễ vật theo phong tục lâu đời trong xứ. Cha Longer điều hành Giám học, 3 năm đầu chủng viện sinh hoạt rất khả quan, đều đặn.

Chủng viện ra đời và sinh hoạt trong bối cảnh chính trị đầy biến cố chấn động đất nước. Làm chủ Phú Xuân, 1786, Tây Sơn chuẩn bị tiến quân ra Bắc Hà giương cao ngọn cờ "Phò Lê diệt Trịnh'”. Để chuẩn bị cho chiến dịch Bắc tiến có tính quan trọng nầy, chính quyền Tây Sơn ráo riết bắt lính, kiểm soát chặt chẽ lớp thanh niên bổ sung lực lượng, tích lũy lương thực... "tất cả cho chiến dịch toàn thắng". Trong tình hình đó linh mục Giám đốc Longer cho triệt hạ các cơ sở của chủng viện rồi đưa 15 chủng sinh đi trốn lên núi Trốc Voi trong vùng rừng rú Thủy Cần gần Cửa Tùng (Quảng Trị ngày nay) trong 2 tháng (Theo Lm. Nguyễn Văn Hội, slđd, tr. 127-128).

Chủng viện Di Loan thời Giám mục Labartette với linh mục Giám đốc Longer qua khỏi những long đong trốn tránh trên núi vẫn tiếp tục sinh hoạt mặc dầu không ổn định không đều đặn. Cho đến năm 1789 Cha Longer rời khỏi chủng viện ra Bắc, qua Macao để nhận lễ tấn phong Giám mục, phụ tá cho Giám mục Davoust giáo phận Tây Đàng Ngoài (Hà Nội). Chủng viện tạm ngừng sinh hoạt, chủng sinh lui về gia đình giúp các xứ đạo, sống hy vọng và chờ đợi

Chủng viện Di Loan thời kỳ 1837:
Năm 1837 dưới triều Minh Mạng, Giám mục giáo phận Đàng Trong Cuénot (tên Việt Nam: Thể) cho mở lại chủng viện Di Loan ở một địa điểm khác với địa điểm thời linh mục Longer trước kia, thừa sai Candalh (tên Việt Nam: Kim) tổ chức điều hành. Cha Candalh vốn trước kia truyền giáo ở Xiêm, được điều động sang giáo phận Đàng Trong. Cha đi bằng đường biển từ phía Bắc Bố Chính vào cửa Tùng, vào Di Loan tháng 4-1837.
Linh mục Giám đốc Canadlh được sự cộng tác của thừa sai Jaccard, của linh mục Lê Văn Tư chánh sở An Ninh và Di Loan, chủng viện khai giảng với vỏn vẹn 6 chủng sinh.

Đến tháng 5-1838 quan huyện Vĩnh Linh - Quảng Trị lùng bắt cho được thừa sai Candalh. Hai linh mục Candalh, Lê Văn Tư và 6 chủng sinh chạy ra Quảng Bình và ẩn trốn trong vùng rừng núi Kim Sen (Kẻ Sen). Đây là sở đồn điền của ông Nguyễn Hữu Quỳnh Năm khai khẩn với hậu ý làm nơi nương thân trốn ẩn cho ông, cho các giáo sĩ trong cơn bắt đạo ngặt nghèo. Cha Candalh qua đời tại đây ngày 28 tháng 7 năm 1838. Ông Quỳnh Năm tức thánh Tử đạo Quỳnh Năm, là tổ tiên ba đời của Quận công Nguyễn Hữu Bài. (1863-1935)

Chủng viện Di Loan thời Giám đốc Candalh có một bông hoa thơm ngát, Tôma Trần Văn Thiện một thiếu niên vừa đến ngưỡng cửa chủng viện đã bị bắt và bị xử giảo chết vì đức Tin Công giáo (xem "Nhân vật Chứng nhân đức Tin”, của Lê Ngọc Bích, đã phát hành).

Chủng viện Kẻ Sen (Quảng Bình, 1849-1856):
Đức cha Cuénot chỉ thị cho thừa sai Galy lập một chủng viện nữa ở làng Kẻ Sen. Đây là chốn rừng rú xa xôi ở Quảng Bình dễ trốn tránh và vẫn tổ chức sinh hoạt được trong tình huống bắt đạo. (xem PL 14).

Năm 1853 linh mục Giám đốc Galy rời chủng viện vì lý do sức khỏe quá suy yếu. Giám mục phó Sohier (Tên Việt Nam: Bình) điều khiển chủng viện. Đức cha Pellerin từ Di Loan chạy ra tỵ nạn ở đây, chủng sinh được hai vị Giám mục thay nhau giảng dạy.
Tới năm 1856, Đức cha Pellerin phải trốn ra nước ngoài, triều đình Tự Đức bắt đạo ráo riết, Đức cha Sohier phải đóng cửa chủng viện lánh vào Di Loan.

Chủng viện Di Loan thời kỳ 1849-1858:
Mặc dầu đã có chủng viện Kẻ Sen, Đức cha Cuénot chỉ thị Đức cha phó Pellerin lập một chủng viện nữa. Địa bàn được chọn vẫn là Di Loan nơi đã có chủng viện thời Đức cha Labartette (tên Việt Nam: Bê, 1799-1823), nhưng ở một địa điểm khác. Di Loan, một họ đạo nổi tiếng từ lâu là miền đất kiên cường, giáo dân thực sự kiên cường sống và bảo vệ đức Tin.

Lúc đầu chủng viện lâm thời đặt tại họ dạo An Vân (nay là giáo xứ An Vân, xã Hương An, huyện Hương Trà, Thừa Thiên, giáo phận Huế). Bấy giờ Đức cha phó Pellerin ẩn trốn tại đây từ tháng 8-1848 đến tháng 3-1849, An Vân là nơi khuất tịch, đồng bào không Công giáo hiền hòa. Địa thế có con sông An Vân (chi lưu của sông Bạch Yến), có núi Lựu Bảo thông lên Trương Sơn dễ bề trốn chạy (Đại Nam Nhất thông chí, Tập 1, NXB. Thuận Hóa, tr. 124 và 142).

Nhân lúc tình hình có phần lắng dịu, Đức cha gọi một nhóm các thầy đã mãn khóa chủng viện Pénang đang giúp các xứ tập trung về An Vân để học bổ túc chuẩn bị thụ chức. Giảng dạy Đức cha đảm nhiệm, ăn ở có giáo dân An Vân đùm bọc che chở. Ngày 23-12-1848, chắc chấn vào lúc đêm khuya, Đức cha phong chức linh mục cho thầy Xtêphan Trương Công Quang người Giáo Liêm Quảng Trị. Đây là lễ phong chức đầu tiên và duy nhất ở chủng viện lâm thời An Vân, vì sau đó Đức cha bị lính triều đình phát hiện, Ngài phải cấp tốc tạm biệt An Vân xuống thuyền đi thẳng ra Di Loan ẩn náu với thừa sai Sohier. (Lịch sử giáo xứ An Vân của Lm. St. Nguyễn Văn Ngọc, tài liệu đánh máy, tr. 6-7).

Ra Di Loan, Đức cha mua được một sở vườn rộng ngay tại trung tâm làng Di Loan, cất lên 3 căn nhà tranh, hoàn tất cơ sở khoảng tháng 12-1849. Khai giảng năm học có được 30 chủng sinh cũ và mới, học hành sinh hoạt quanh quẩn trong vườn, không được ra ngoài phạm vi, tứ phía lũy tre bao bọc. Giáo dân là hàng rào lũy tre che chở hơn cả lũy tre, họ tổ chức một hệ thống báo động rất tinh vi kịp thời bắn tin cho chủng viện biết sắp có bố ráp. Nổi bật có ông Phêsrô Thuận.

Ban lãnh đạo chủng viện có linh mục Sohier làm Giám đốc, Đức cha Pellerin, linh mục Đa Minh Nguyễn Văn Thân.

Năm 1850, thành lập giáo phận Bắc Đàng Trong, giáo phận Huế sau này, Đức cha Pellerin lên Giám mục tân giáo phận, năm 1851 linh mục Sohier được cử làm Giám mục phó .

Năm học 1850-1851 có 50 chủng sinh, chia làm hai lớp La-tinh và Thần học.

Năm học 1851 -1852 chủng viện có hai Đức cha Pellerin và Sohier thay nhau giảng dạy.

Cuối năm 1852 Đức cha phó Sohier ra làm Giám đốc chủng viện Kẻ Sen, Đức cha Pellerin vẫn ở chủng viện Di Loan

Vào cuối hè năm 1854 đang chuẩn bị lễ truyền chức linh mục cho một số thầy, thình hình có báo động quan quân triều đình hành quân quy mô càn quét chủng viện. Thế là cả chủng viện lập tức chạy lánh nạn lên vùng Bái Trời (huyện Minh Linh, Vĩnh Linh, Quảng Trị).

Từ những năm 1855-1858, chủng viện vẫn sinh hoạt trong tình huống luôn sẵn sàng chạy trốn, không học hành gì được.

Cuối cùng, năm 1858 chủng viện phải đóng cửa, Đức cha Sohier cùng một nhóm chủng sinh lẫn trốn lên vùng Kẻ Sen, Kẻ Bàng mạn bắc Quảng Bình.

Trích trong “Nhân Vật Công Giáo Việt Nam, tập 1”,
của GS. LÊ NGỌC BÍCH,
Nguồn:
www.dunglac.org