Hiển thị các bài đăng có nhãn Giáo dục. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Giáo dục. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 22 tháng 7, 2013

Con nổi loạn trên mạng xã hội - cha mẹ bó tay

22/07/2013 01:00 GMT+7
Nhiều bậc cha mẹ hoàn toàn bất ngờ khi biết con mình vốn ngoan ngoãn lại dám lên mạng để chửi bới, thóa mạ người thân, hay thường xuyên văng tục, chửi bậy và tỏ vẻ đàn anh… trên thế giới ảo.
Nữ sinh hiền lành lên facebook để khẳng định “số má”
Ngoài đời là cô bé lớp 11 có ngoại hình mộc mạc và gương mặt khá “ngô nghê”, nhưng trên mạng xã hội facebook, Hoa dường như khác hẳn. Cô bé có thể online thâu đêm, suốt sáng chỉ để lang thang trên facebook mà mẹ cha không hề hay biết.
“Facebook ạ? Ai mà chẳng có ạ?” – Hoa, cô nữ sinh 17 tuổi tỏ ra am hiểu khi nói về trang mạng xã hội này. Ngoài facebook, Hoa còn có tài khoản của hai mạng xã hội khác. Thì giờ rảnh, cô thường trốn bố mẹ để ra quán net ngồi chơi mạng xã hội.
Hoa bảo, cách đây một hai năm, “mốt” vẫn là chơi trồng rau, nuôi gà… trên một trang mạng khá phổ biến trong giới trẻ. Còn nay, sẽ là facebook.
Ngồi nói chuyện, chốc chốc Hoa lại cắm cúi sử dụng điện thoại. Không để nhắn tin, không để gọi điện, Hoa “chat” hoặc “comment” ảnh trên “phây” với bạn bè.
“Bố mẹ em đến điện thoại còn chẳng dùng thạo nữa là facebook” – Hoa trả lời khi được hỏi, bố mẹ em có tài khoản facebook hay không. Với các bậc phụ huynh ở nông thôn như bố mẹ Hoa, cụm từ “facebook”, “mạng xã hội” này vẫn còn quá xa lạ. Thế nên, nhìn con gái ngoan ngoãn ngồi học bài, hay ngồi nhà mà vẫn tí toáy nhắn tin để “hỏi bài bạn”, họ hoàn toàn yên tâm.
Hoa tâm sự, em chỉ là một học trò rất trầm trong lớp, lực học vào loại xoàng, nhưng trên facebook, em cảm thấy “có số má hơn với bạn bè”. Vào trang facebook của Hoa thì rõ: Em có thể hùa vào trêu chọc bất cứ đứa nào trong lớp, tha hồ tung hê, chửi bậy mà chẳng sợ ai, phớt đời với những câu status bậy bạ hoặc ưu tư được bạn bè like, share nhiệt tình… Đặc biệt, từ sau lần Hoa bị dính kỉ luật vì… chửi cô giáo và các bạn trong lớp thì cô bé càng “nổi tiếng”.
Theo Hoa kể, hồi ấy vì tức tối bị điểm 2 nên Hoa đã vào facebook, đăng một bài chửi dài, vạch tội các thành viên ban cán sự lớp, thậm chí mắng trực tiếp cả cô giáo bộ môn.
“Lúc ý em chỉ viết cho bõ tức, không ngờ, các bạn “share” liên tục, có người còn chụp lại, gửi cho giáo viên chủ nhiệm, thế là em và những người “like, share” trong lớp bị tóm lên viết bản kiểm điểm, cảnh cáo trước toàn trường” – Hoa ấm ức kể lại.
Bố mẹ biết cũng bó tay
“Biết cũng bó tay” – đó là lời thở than bất lực của chị Chinh (Hà Nam) khi biết chuyện cô con gái út lên mang trút giận vào cha mẹ và cô giáo chủ nhiệm.
Chị kể, con gái mình là đứa ngang ngạnh nên chị rất chú tâm dạy dỗ, vậy mà ngọt nhạt đủ đường “cá vẫn không ăn muối”.
Mới đây, chị tá hỏa khi nghe người cháu họ ở Hà Nội gọi điện thoại báo: “Cái Chi (tên con gái chị) có chuyện gì mà lên trên mạng ăn nói ghê lắm. Nó còn bảo không muốn ở nhà, còn thề tuyệt giao với ai ai nữa kia!”
Vốn chẳng biết mặt mũi mạng xã hội, facebook ra làm sao, chị đành phải nhờ người cháu hướng dẫn cho xem tận mắt. Hóa ra, chỉ vì phát hiện mẹ và cô giáo chủ nhiệm là bạn thân, thường xuyên trao đổi sau lưng mình mà con gái chị nổi giận, tuôn ra những lời trách móc, thóa mạ, xưng “tôi” đầy thách thức.
“Có lẽ, cháu nghĩ rằng bố mẹ, thầy cô không hay biết nên mới có hành động đó. Dù đây là góc riêng tư của con, nhưng biết chuyện tôi thật sự đau lòng. Nhưng tôi cũng chưa biết mở lời nói chuyện với con ra sao” – chị Chinh tâm sự.
Không riêng chị Chinh, nhiều bậc cha mẹ hoàn toàn bất ngờ khi biết những đứa con ngoan ngoan ngày thường lại thường xuyên văng tục, chửi bậy, cố tình tỏ ra hầm hố, “anh chị” trên mạng xã hội.
Anh Lê Thế Sơn (Tây Hồ, Hà Nội) chia sẻ, gần đây anh rất đau đầu vì cậu con trai học lớp 8 mê mẩn “facebook”.
“Có lần tình cờ vào xem cháu làm gì, tôi nổi giận vì thấy con đăng tải toàn những hình ảnh gợi dục, tham gia những trang, nhóm thiếu lành mạnh trên facebook. Tôi hỏi thì cháu bảo bạn bè gửi hoặc vô tình “click” vào chứ không chủ động tìm kiếm… Tôi đã răn đe, nhưng chỉ e rằng con càng lớn, cha mẹ càng khó theo dõi, kiểm soát, đặc biệt là với thế giới “ảo” như thế này” – anh Sơn nói.
Theo TS Tâm lý Nguyễn Thị Kim Quý, thể hiện sự nổi loạn trên thế giới ảo là một cách để trẻ giải tỏa những nỗi ức chế trong đời sống thật. Nhiều trường hợp, do bị ảnh hưởng vì tâm lý đám đông, các em cũng dễ bị lôi kéo vào những tình huống ném đá bạn bè, văng tục… Việc sử dụng mạng xã hội một cách thiếu định hướng, nhất là khi còn rất nhỏ có thể khiến các em không ý thức hết những tai hại khó lường của những việc mình làm.
Trong mọi trường hợp, cha mẹ nên gần gũi để nhận biết sớm các biểu hiện, vấn đề con gặp phải. Không nên cấm cản vì ở lứa tuổi này càng cấm, các em càng làm ngược lại để khẳng định cái tôi mà hãy tâm sự, nhẹ nhàng thuyết phuc, giúp con nhìn nhận những điều đúng đắn. Có thể lấy những câu chuyện thực tế để dẫn dắt, giúp các em hiểu được cách cư xử đúng – sai, chừng mực trên mạng xã hội.
Minh Tâm

Thứ Bảy, 12 tháng 1, 2013

Tình dục không có ‘thì tương lai’?

12/1/2013 06:03
    Kỹ nghệ khiêu dâm trá hình trên phim ảnh, truyền thông đang làm những “người tình” ngày một trẻ hơn, vi phạm quy chế pháp lý về cấm tình dục vị thành niên, phá hoại đạo lý, tạo triển vọng u ám về sức khỏe sinh sản...


Tình yêu – điều kỳ diệu mỏng manh?

Theo báo “Luận chứng và sự kiện” (AiF), tháng 7/2012, tình dục và tình yêu của con người do các khu thần kinh khác nhau điều khiển. “Bản năng tình dục, chỉ liên quan đến nhân giống, thừa hưởng được từ tổ tiên. Còn tình yêu là điều kỳ diệu xảy ra ở một thời kỳ sau, để củng cố nghĩa vụ sinh thành, nuôi dạy con cái, và phát triển văn hóa nhân loại”, AiF viết. 
Thật vậy, trong chu trình tiến hóa, con người kể từ tia sáng đầu “nam nữ bình quyền”, đã tìm hiểu nhau, phải lòng, rồi mới kết hôn, để rồi sinh con đẻ cái. Con cái sinh ra có được một chỗ dựa là niềm tin thiêng liêng vào hạnh phúc gia đình: tình yêu thương sâu lắng sẽ gắn kết cha mẹ của họ đến đầu bạc răng long, cả sau khi con cái đã trưởng thành.
Nhưng trong đời sống đương đại đang xuất hiện các xu hướng: “làm tình” sớm, không hẳn là “yêu sớm”; kết hôn không phải vì tình yêu, mà vì muốn tăng nguồn thu về vật chất nhờ ràng buộc bằng hôn nhân; tìm cách đẻ con, nhất trước hôn nhân, để tạo ra một sự ràng buộc về vật chất từ phía những người vì nhu cầu tình dục, “sẩy một bước thành cha”; những mỹ nữ sống “thu vén” khác kiểu, để nhỡ có chuyện ly dị thì cũng chẳng chịu phần thiệt...
Nếu tình yêu cổ súy sự chân thành, chung thủy, nhường nhịn, hy sinh (vì thế hôm nay nó có vẻ mỏng manh) thì tình dục thời nay đậm màu sắc thực dụng, chiếm hữu, nhưng càng “khám phá” nó, càng quẩn quanh, bế tắc... 
Tình yêu con người, chứ không phải tình dục, đã làm nên nền văn minh “con hơn cha”, với những đỉnh cao không giới hạn của tiến hóa. Tình yêu cũng tạo cảm hứng bất tận cho sáng tạo, gieo mầm cho văn hóa – nghệ thuật đạt những tiến bộ không bờ bến. “Cách mạng tình dục” cũng có những ấn phẩm “tuyên truyền” của nó (tranh ảnh, sách khiêu dâm), không có giá trị về văn học hay nghệ thuật, và theo các nghiên cứu trong ngoài nước, chắc chắn đã và đang làm hại những “con nghiện” của nó ở mọi mức độ.
Khát vọng lành mạnh của thể xác (mặt tốt của tình dục) không mâu thuẫn với sự hòa đồng về tâm hồn (tình yêu đôi lứa). Một tình yêu cao quý, nếu được hỗ trợ bởi một đắm say về thể xác từ cả hai phía, sẽ không mong manh. Các nghiên cứu tâm lý cho thấy sau khi ham muốn tình dục, như tiếng gọi hoang dã, không còn làm rạo rực, xao xuyến như tuổi đầu xanh, các cặp vợ chồng vẫn giữ trọn hồi ức đẹp về một thời “lửa mới nhen”.
Cái “thuở ban đầu”: tìm hiểu – khám phá lẫn nhau một cách trang trọng, trinh tiết, đã đi vào thơ ca như một cảm nhận thiêng liêng bất diệt. Mặt khác các bậc cao tuổi dặn: ăn quả xanh dễ “đau bụng”... 

Tình dục: “cuộc chơi” không hồi kết?

Thỉnh thoảng lại có bạn nước ngoài hỏi: “Cách mạng tình dục” ở Việt Nam đến đâu rồi? Thuật ngữ “cách mạng tình dục” thực ra không ổn: đặc điểm của cách mạng là có tính giai đoạn, có kết, sau một giai đoạn cách mạng. Nhưng những ai quan sát cuộc “cách mạng tình dục” trùm lên quỹ đạo văn hóa trong không gian hậu xô viết, sẽ thấy cuộc “cách mạng” này vận động như không có hồi kết, hẳn do “động cơ” là mưu đồ xâm chiếm thị trường của “ngành công nghiệp tình dục” (khiêu dâm).
Tiến triển “đi lên” của “cách mạng tình dục”, theo các sách báo ở Liên Xô cũ, Trung quốc, hay Việt Nam, đều tựa như một biểu đồ xuống dốc của đạo đức, hiện chưa được công cụ giáo dục nào phanh lại một cách hiệu quả. 
Nhưng “cách mạng tình dục” sẽ phát triển không ngừng, nếu đòi hỏi tình dục cứ tuột phanh, bất chấp những kiêng kị về tuổi tác, về sinh lý, luân lý. Ngược lại, kích thích bản năng tình dục nhờ truyền thông, in ấn là bước lùi về tiến hóa. Nó bỏ phí những cảm xúc nhân tính, mà tổ tiên tích hợp được sau nhiều đời thành một phần tinh túy của nhân cách, vượt lên cảm nhận về mình chỉ như một “mống” trong bầy đàn.
Vẫn đang có xu thế xuống thang về giá trị văn minh: đặt tình dục lên trước, dùng “sống thử” như trải nghiệm sự gắn bó đôi lứa lâu dài hơn qua gắn bó về tình dục, như một thứ “cầu chì” cho hôn nhân bền vững.
“Sống thử” không quá tệ, nhưng sự thỏa mãn về tình dục, về lâu về dài, nếu không có được nền tảng là cùng hướng đích, chung thủy, quan tâm chăm sóc nhau, và cả sự âu yếm, thì khởi đầu kiểu “cách mạng tình dục” sẽ khó có những “chương hồi” tiếp nối cho hôn nhân hạnh phúc. Rồi lại phải biện luận: ăn mãi một món chán, nên phải đi hoang...
Trải nghiệm tình dục sớm, theo nhiều thống kê, dẫn tới tước đoạt quyền làm cha mẹ của nhiều đôi lứa ở tuổi trưởng thành, chính là khi họ thực sự muốn sinh con để tạo hạnh phúc gia đình trọn vẹn mà bình dị, nhưng lại không thể. Sự tôn sùng “bản năng gốc” thực ra cũng không có cơ sở: con vật thực hiện hành vi tình dục để duy trì nòi giống.
“Cách mạng tình dục” thì cổ súy sự nếm trải khoái cảm kiểu “ăn trái cấm”, bất chấp “trái” còn xanh, và “hạt giống” chưa chín muồi về thể chất, dễ dẫn đến vô sinh, tuyệt tự. Đây là một hồi kết tuyệt vọng cho những thành viên sớm bước vào “cách mạng tình dục”.
Hiện thời, mặt trái của tình dục trong quan hệ đôi lứa giống chứng bệnh béo phì: bệnh nhân càng quá cân thì càng hay thèm ăn...
  • Lê Đỗ Huy
  • Nguồn: http://vietnamnet.vn/vn/giao-duc/104678/tinh-duc-khong-co--thi-tuong-lai--.html

Thứ Năm, 6 tháng 12, 2012

Mối lo thật sự từ phong trào luyện chữ đẹp

6/12/2012 06:04
    Luyện chữ đẹp khi đó không chỉ là phong trào - tự phát hoặc có chỉ đạo - mà đã do một triết lý - có gốc rễ rất sâu ở giới quản lý chi phối. Đây mới là mối lo thật sự" - độc giả Lãnh Nguyên nêu ý kiến khi tham gia diễn đàn "viết chữ đẹp: thế nào là đủ"?
Ảnh minh họa

Câu hỏi thời sự
Đi học, biết chữ, là để đọc lên, viết ra. Nhưng viết bằng bút hay bằng máy tính? Câu hỏi này chưa cần trả lời ngay.
Còn câu hỏi thời sự là: Bọn trẻ hiện đang tập viết (kể cả đang “luyện chữ” để tạo “nết người”); vậy 15 hay 20 năm nữa các cháu sẽ ứng dụng ra sao cho bõ cái công khổ luyện hôm nay?
Dù thờ ơ hay day dứt với câu hỏi, chúng ta vẫn phải xuất phát từ thực tế đất nước. Nước Việt Nam ta vẫn là nước nghèo, chưa thể so sánh với Mỹ, Anh hay Đức…, không thể quá sốt ruột khi thấy những nước này bắt đầu lộ trình thay hẳn chữ viết tay kiểu uốn lượn, mềm mại, bằng thứ chữ “giống chữ in” - để có thể viết nhanh và dễ đọc (thì giờ tập viết dôi ra sẽ dành cho kỹ năng sử dụng bàn phím). Nói khác, vẫn phải tạm để bọn trẻ nước ta tập viết như hiện nay. Vấn đề là chúng cần tập viết tới mức nào và còn kéo dài bao lâu nữa? 
Dẫu sao, các bậc cha mẹ - nếu định lo xa cho con cái - bắt buộc phải tìm câu trả lời cho câu hỏi trên. Và phải có những chữ “nếu” để cân nhắc các trường hợp, vì ai mà dám chắc con cái mình sẽ làm nghề gì sau này?. Nhưng dù “nếu” gì đi nữa, thì 15 hay 20 năm tới máy tính cũng phổ biến, dễ mua và rẻ gấp 5 hay 10 lần bây giờ - nhất là khi so với ngân quỹ gia đình thời đó. Vấn đề là khi đó, con cái chúng ta (ngoài năng lực viết tay), liệu đã quen dùng cả 10 ngón tay để bắt cái bàn phím phải dốc hết năng lực hầu hạ mình hay chưa?. Xin nhớ, bọn trẻ có khả năng mau thuộc (nhanh hơn người lớn) cách dùng cả 10 ngón tay để gõ chữ. Lợi thế của tuổi trẻ là vậy. Chưa cần nói, nếu sử dụng thành thạo bàn phím, con cái chúng ta còn đủ sức tận dụng năng lực vô hạn của chiếc máy tính tương lai - tuy rất gọn nhẹ, rẻ tiền, nhưng có sức mạnh gấp bội so với những máy tốt nhất hôm nay.
Câu trả lời liệu đã dứt khoát?
Chưa thể biết nghề nghiệp tương lai của một học sinh tiểu học, ta vẫn có thể dùng “nếu” để quyết định con cái mình sẽ đầu tư công sức tập viết “chữ đẹp” tới mức nào…
- Nếu sau này đứa con may mắn trở thành người phải viết những bản thảo hàng trăm hoặc ngàn trang để xuất bản, thì viết tay không thể đắc dụng. Mà càng nắn nót để viết cho đẹp sẽ càng tốn thì giờ, vô bổ. Chẳng qua, đó chỉ là lao động chân tay. Nó lạm vào thì giờ tư duy sáng tạo.
- Nếu cha mẹ hy vọng đứa trẻ sẽ trở thành nhà thư pháp, sống bằng nghề (không phải nghiệp dư, hay thú vui)? Trường hợp này, càng cần sớm đánh giá nghiêm chính năng khiếu đứa con mình. Mà chỉ năng khiếu cũng vẫn không đủ, còn phải biết chắc rằng con mình có một năng lực thiên phú, thiên bẩm (trời cho) mới dám quyết định. Chữ thư pháp không chỉ đẹp, còn phải mỹ thuật, bay bổng, toát lên vẻ đẹp cao thượng… Bán chữ kiếm sống thời nay không dễ…  
- Nếu khả năng viết chỉ được dùng để ghi ra mảnh giấy những việc cần làm trong ngày (lắm việc tới mức không nhớ nổi), hoặc danh sách thức ăn cần mua cho bữa tiệc sinh nhật, cho mâm cỗ ngày giỗ… (loại này, mỗi năm sài vài lần là nhiều)… Đôi khi đó chỉ là mảnh giấy cài lên cánh cửa để dặn dò đứa con vài điều phải làm… Loại chữ cho việc này cần luyện tới mức nào?
- Để viết đơn xin việc? Liệu khi đó nhà tuyển dụng có còn dựa vào chữ viết để suy ra “nết người” - như ta nghĩ hôm nay? Nếu chỉ nhờ “chữ tốt” mà trở nên thành thạo trong việc “viết đơn xin việc” thì thật… bất hạnh. Năng lực ra sao mà con người này cứ phải viết hết đơn này tới đơn khác - tới mức thành thạo?
- Xin các bậc cha mẹ cứ “nếu” tiếp, để có quyết định phù hợp cho đứa con mình.Và, cái tiêu chuẩn “đủ nét, đủ dấu và viết nhanh” (như có người đề xuất) có phù hợp cho số học sinh đông đúc tới nhiều triệu?.  
Cân bằng suy xét, không nghiêng sang một cực
Không chấp nhận luyện chữ có nghĩa là… mặc kệ cho con em chúng ta viết chữ xấu (!). Sao có thể suy nghĩ thiếu cân bằng như vậy?. Thế giới muôn màu, sao cứ tự ý đề ra quy tắc cực đoan: “nếu không trắng, tức là đen” (?!).
Mục tiêu “cứng” của môn Tập Viết là thanh toán chữ xấu cho cả lớp, cả trường. Thầy cô có nghĩa vụ như vậy, không châm chước. Còn “viết đẹp” là mục tiêu “mềm”, không thể dành cho cả lớp, cả trường. Và không thuộc trách nhiệm của thầy cô.  
Nói cho công bằng, việc đầu tư thêm công sức và thời gian để “luyện chữ” (ngoài thời gian quy định “tập viết” trong chính khóa) là quyền riêng tư, không ai có thể cấm đoán. Những người có năng khiếu cứ việc lập câu lạc bộ, cứ luyện, cứ thi. Và có giải. Bên cạnh nó là những câu lạc bộ Toán, Văn, Sử, Địa… Rất đáng khuyến khích.Nhưng cũng không ai được phép cưỡng ép các cháu luyện chữ, buộc các cháu phải tham gia câu lạc bộ, này hay khác.
Có một số thầy cô thừa sức luyện chữ đẹp cho học sinh lớp mình; nhưng cũng có nhiều thầy cô không đủ sức làm việc đó. Đây là việc tùy tâm, không ai dám bắt buộc các thầy cô. Nhưng tất thảy mọi thầy cô đều phải có bốn phận (trách nhiệm) dạy cho 100% học sinh lớp mình tập viết chữ không xấu - tức là đủ nét, đủ dấu, dù viết nhanh. Xin hãy cân nhắc giữa gây dựng “phong trào chữ đẹp” với “phong trào thanh toán chữ xấu”. Giá mà… làm được cả hai thì còn gì bằng. Vấn đề là nếu chỉ làm được một, thì sao? Chọn cái nào?   
Cái gì làm chúng ta thật sự lo lắng
Đã có nhiều trường hợp (báo chí nêu) thầy cô động viên (bắt buộc?) cả lớp dự thi “chữ đẹp”, tới mức tháo vở, xé trang (để thay những tờ viết chưa đẹp hoặc lỡ dây bẩn)… và cháu chữ đẹp phải “tương trợ” (viết thay) cháu viết chưa đẹp… Tuy đây là hiện tượng đáng lo - triệu chứng lồ lộ của “bệnh thành tích”; nhưng còn đáng lo hơn nữa, nếu người quản lý dùng quyền lực đặt ra những kỳ thi “chữ đẹp”, từ cấp trường, cấp quận-huyện, tới tỉnh và tận trung ương - nghĩa là đã hợp pháp hóa và pháp lệnh hóa nó. Đã có cháu được giải toàn quốc về chữ đẹp (!). Luyện chữ đẹp khi đó không chỉ là phong trào - tự phát hoặc có chỉ đạo - mà đã do một triết lý - có gốc rễ rất sâu ở giới quản lý chi phối. Đây mới là mối lo thật sự. 
Ta thương các cụ hay các cụ thương ta?
     - Cách đây 50 năm, ai có cái “bút máy” là oai lắm, vì không cần chấm vào lọ mực mà vẫn viết liên tục suốt buổi học. Chỉ riêng việc gọi cái bút (khá thô sơ) này là “máy” đã đủ nói lên nhiều điều. Thật đáng ái ngại cho trình độ dân trí của các cụ thời đó. Vậy thì hôm nay, chẳng cần đợi 50 năm, mà chỉ cần 10 năm nữa thôi, ta sẽ thấy những máy tính “hiện đại” của năm 2012 sẽ không còn hiện đại nữa. Ấy thế mà chúng ta vẫn say sưa khuyến khích con cái luyện chữ - giống như cái thời chữ Hán còn độc tôn. Mà không phải chỉ luyện cho cháu nào có năng khiếu, mà còn muốn… luyện tất (!). Liệu thế hệ sau nhìn lại ta, họ có thương ta?
     - Cách đây cả trăm năm (thời Đông Kinh Nghĩa Thục, 1906) các bậc tiền bối đã đưa ra phương châm Thực Học - Thực Nghiệp (học “thật”, học những gì “thiết thực” - để có một nghề “đúng nghĩa”). Vậy, luyện chữ gian khổ đến vậy, có thiết thực?
Chúng ta đánh giá người xưa là thiển cận hay viễn kiến? Các cụ có bảo thủ hơn chúng ta hôm nay? Chúng ta thương cảm người xưa, hay ngược lại: các cụ trách chúng ta?
  • Lãnh Nguyên



 Nguồn: http://vietnamnet.vn/vn/giao-duc/99769/moi-lo-that-su-tu-phong-trao-luyen-chu-dep.html

Thứ Ba, 27 tháng 11, 2012

Dạy bé sống thành thật

Thành thật là đức tính cha mẹ mong muốn có ở bé ngay từ khi còn nhỏ. Tuy nhiên, không phải lúc nào bé cũng nói thật.

Lý do bé nói dối

- Do bé chưa đủ nhận thức để phân biệt sự thật và cái không phải sự thật. Vì thế, ở tuổi mẫu giáo, bé có xu hướng nói dối do những điều tưởng tượng hơn là nhìn nhận vào thực tế. Chẳng ngạc nhiên gì nếu bé cố tình bao biện mình không đánh chị gái (vì bé ước gì mình không làm thế).

- Bé cố giấu tội lỗi vì biết chắc sẽ bị trừng phạt.

- Nói dối có thể để tránh những quy tắc không mấy dễ chịu từ cha mẹ, như bé bảo đã làm hết bài tập để được ra ngoài chơi.


Cách xây dựng đức tính thành thật cho con

Đừng cố hỏi lý do nếu bạn đã biết rõ câu trả lời: Thay vào đó, hãy tập trung vào cảm giác của bé, như: “Mẹ biết con nói dối vì sợ bị mẹ đánh. Nhưng nếu con nói thật thì mẹ hứa sẽ không đánh con”…

Ngoài ra, bạn cũng có thể tạo cơ hội để cho bé sửa chữa; chẳng hạn, nếu bạn biết bé chưa hoàn thành bài tập, tránh hỏi: “Con chưa làm bài phải không? (vì có thể tạo điều kiện cho bé nói dối); thay vào đó, có thể nói: “Mẹ có cảm giác con chưa làm xong bài” sau đó, cho bé cơ hội để hoàn thành trách nhiệm: “Con cho mẹ kiểm tra bài tập. Nếu chưa xong thì con làm nốt đi”.

Đừng bao giờ gọi con là “kẻ dối trá”. Những cách gọi tiêu cực thế này sẽ làm hỏng lòng từ trọng của bé và hướng bé tới những hành vi xấu hơn. Tương tự, cũng không cần thiết để thống kê lỗi lầm của con: “Đây là lần thứ 3 con nói dối. Lần nào cũng nói dối”.

Nếu bạn biết con đang nói dối, cần chia sẻ với bé ngay lập tức: “Mẹ biết đó không phải sự thật. Có thể con nói dối vì sợ mẹ buồn nhưng đó không phải cách để giải quyết mọi chuyện. Con hãy nói thật cho mẹ nghe xem”.

Hiểu cảm giác khó khăn của bé khi phải nói thật

Bé nói dối điểm số ở trường học có thể do đang chịu áp lực thành tích của cha mẹ. Hoặc bé liên tục nói dối do những quy tắc của bạn quá nặng nề. Nên nhớ, để chinh phục bé hay nói dối, bạn cần giảm thiểu tối đa những yếu tố gây stress cho con. Một khi nhận diện được lý do tiềm ẩn, bạn hãy khuyến khích con nói về lỗi lo lắng của chính bản thân mình: “Mẹ biết con rất mong được điểm cao nhưng con có khó khăn gì trong bài kiểm tra vừa rồi?”.

Dạy bé về tác hại của lời nói nói

Hãy nói với bé điều quan trọng của sự thành thật và cảm giác mất lòng tin của cha mẹ khi bé hay nói dối. Ngoài ra, có thể đọc cho bé nghe quyển sách mà đưa ra thông điệp rõ ràng rằng, nói dối sẽ gây họa cho bản thân mình và người xung quanh. 

Làm gương cho con

Các bé học tập thông qua việc bắt chước hành vi hơn là chỉ nghe mệnh lệnh của cha mẹ. Thật không tốt nếu có điện thoại của mẹ chồng, bạn lại nhờ người giúp việc nhắn: “Bảo tôi không có ở nhà” hoặc nói dối tuổi của con nhằm miễn phí vé đi xe bus. Bằng cách này, bạn vô tình dạy cho con, nói dối là điều được chấp nhận.

Cổ vũ sự thành thật

Luôn động viên khi con nói thật và khuyến khích: “Mẹ không buồn khi con kể lại chuyện làm vỡ cốc. Mẹ biết con không cố ý”. Nếu bé có một hành động thật thà, hãy tặng cho bé một miếng dán bé ngoan và một miếng dán bé hư dành cho ngày bé chưa nói thật. Hãy so sánh kết quả những miếng dán mà bé đã giành được.

Theo Supernanny

Tác giả:  NHÍ (theo Supernanny)
Nguồn: http://www.giaoducconggiao.net/index.php?m=home&v=detail&ia=323

Thứ Bảy, 24 tháng 11, 2012

Giới trẻ sống vội và nhạt nhẽo


23/11/2012 09:46
“Trong số các bạn trẻ mà tôi đã gặp, có rất nhiều bạn đã sống dấn thân. Nhưng vẫn còn không ít bạn sống nhạt. Nếu điều này kéo dài như thế này sẽ tạo ra một xã hội nhạt nhẽo...” - Viện trưởng IRED và hiệu trưởng PACE - Giản Tư Trung nhận xét.
Nhiều nhận định về giới trẻ được đưa ra tại "Diễn đàn tinh hoa trẻ Việt Nam 2012 - Đâu là sứ mệnh chung và giá trị chung của người trẻ Việt" do chương trình phát triển hạt giống lãnh đạo IPL và Hội doanh nhân trẻ Việt Nam tổ chức chiều 22/11 tại TPHCM.
Theo nhạc sĩ Dương Thụ: "Các bạn trẻ có thông minh đến đâu nhưng nếu có sức sống kém thì sẽ không làm được gì"
Thông minh nhưng nhạt nhẽo
Trên quan niệm của thể hệ đi trước, nhạc sĩ Dương Thụ cho rằng: người trẻ là người rất nhanh, thông minh và không duy tâm về văn hóa. Điều này thế hệ đi trước không có.
Đơn cử, chương trình “Đường lên đỉnh Olympia” cho thấy người trẻ ứng xử, phản ứng rất nhanh còn thế hệ đi trước không năng động, nhanh bằng hoặc…hơi ngoan quá.
Người trẻ hiện nay và người thế hệ đi trước đều có những người xuất sắc, có người dẫn đường, có người hiến thân nhưng cả hai thế hệ đều thiếu tính độc lập.
“Sự thiếu tính độc lập của hai thế hệ hiện nay thể hiện ở việc vẫn còn tồn tại tư duy xin – cho. Tại sao chúng ta cứ phải xin cho tiền mới làm, phải làm hồ sơ xin cái này, cái khác?” – ông đặt câu hỏi
Theo ông, quan hệ xin- cho hiện nay đang diễn ra 2 chiều và đó là tư duy không thể chấp nhận được của thế hệ lớn tuổi. Ngoài ra, thế hệ trước cũng cứng nhắc và giáo điều hơn thế hệ trẻ nên cái gì cũng bị dựa dẫm dễ mất phương hướng và đánh mất đi tính độc lập. Còn thế hệ trẻ bây giờ cũng thiếu tính độc lập, được tự do nhưng lại mất phương hướng, đang tìm cách thể hiện mình bằng những kiểu như cá tính. Cuối cùng cái mà người trẻ học được chỉ là tính a dua, bắt chước của người khác.
Ông Giản Tư Trung - Viện trưởng IRED và hiệu trưởng PACE cho rằng, nếu nói về người trẻ chỉ dựa trên 2 từ "nhạt nhẽo và dữ dội". Mặc dù có nhiều người đã dấn thân nhưng vẫn nhạt nhẽo.
“Trong số các bạn trẻ mà tôi đã gặp, có rất nhiều bạn đã sống dấn thân. Nhưng vẫn còn không ít bạn sống nhạt. Nếu điều này kéo dài như thế này sẽ tạo ra một xã hội nhạt nhẽo”- lời ông Trung.
Theo ông, thế hệ đi trước có nhiều người không được gặp may, nhưng đó cũng không phải là một thế hệ dữ dội lắm so với thế giới. Nhưng thế hệ trẻ ngày nay cũng không phải là một thế hệ dữ dội, bởi nếu thế hệ dữ dội thì sẽ làm nên một đất nước dữ dội.
Trong khi đó, TS Vũ Minh Khương - Trường Lý Quang Diệu - ĐH Quốc gia Singapore lập luận, sự khác biệt lớn nhất và cũng dễ phân biệt nhất giữa thế hệ đi trước và thế hệ trẻ là sự xúc cảm- tư duy và năng lực hành động.
Theo TS Khương: "so với thế hệ trẻ - thế hệ đi trước có xúc cảm nhiều hơn. Thế hệ chúng tôi chỉ trăn trở và chỉ ước rằng ngày mai đất nước mình trở thành một cường quốc. Còn giới trẻ hiện nay năng động, đổi mới và có sức sống; về mặt tư duy thì thế hệ trẻ cũng tư duy tốt, thực tế, hiện đại và khoa học hơn".
Tuy nhiên, ông cho rằng cả thế hệ trẻ và thế hệ trước đều có năng lực hành động kém do tư duy chiến lược yếu, lẩn quẩn, ngắn, thực dụng và thiếu thực tế.
Dưới góc nhìn hóm hỉnh, chuyên gia kinh tế Huỳnh Bửu Sơn hài hước: "các thế hệ đi trước không có tuổi trẻ là do bị già trước và chết trẻ. Còn thế hệ trẻ hiện nay (8x, 9x) hiện nay thì trẻ mãi không già vì mãi không thể trưởng thành".
“Thời đại chúng tôi, luôn suy nghĩ rằng làm sao để chiến đấu cho đất nước, vượt qua những khó khăn và sống tốt. Còn các bạn trẻ hiện nay không có phương hướng, sống vội vã nhưng không quan tâm đến tương lai. Các bạn thích làm giàu một cách dễ dàng, thích học một cách dễ dàng...” - lời ông Sơn.
Đại diện cho thế hệ trẻ, chị Ngô Thùy Ngọc Tú – ĐH Stanford, giám đốc chiến lược học viên Yola nhìn nhận, đúng là thế hệ trẻ ngày nay đang có lối sống vội vã, nóng lòng muốn chứng minh nhưng lại không có nhiệt huyết để đi vào chiều sâu. Thế hệ 9x sống dấn thân, dám làm nhưng đôi lúc quên đi chính mình và thiếu sâu sắc.
Nhảy nhót suốt đêm không phải là sức sống
Có mặt tại buổi thảo luận, nhiều bạn trẻ cho rằng, sở dĩ thế hệ trẻ hiện nay sống vội vã, không suy nghĩ, dè chừng, phân vân ...vì họ chịu ảnh hưởng dạy dỗ của thế hệ đi trước (U40, U50). Làm thế nào để giải quyết được khoảng cách giữa hai thế hệ. Các thế hệ cần giữ lại những giá trị gì để có thể cống hiến và tìm được tiếng nói chung?
"Nếu nói về người trẻ chỉ dựa trên 2 từ "nhạt nhẽo và dữ dội". Mặc dù có nhiều người đã dấn thân nhưng vẫn nhạt nhẽo" - ông Giản Tư Trung
Theo ông Trung, để giải quyết sự khác biệt giữa hai thế hệ cần phải có một hệ quy chiếu để thế hệ đi trước và sau cùng nhìn vào nhau và tự soi mình.
“Cho dù khoảng cách giữa các thế hệ lớn tới đâu, thế giới có thay đổi thế nào thì chúng ta vẫn nói chúng tiếng nói của con người. Tại sao nhà văn Nguyên Ngọc đã 80 tuổi thường ngày ông vẫn lướt web, sử dụng Ipal và nói chuyện với một SV 20 tuổi? Tại sao thế hệ trẻ thường hay nói thế hệ đi trước là quê mùa, lạc hậu. Cha mẹ không hiểu con cái và ngược lại... là bởi vì cả hai thế hệ này không đứng trên cùng một giá trị chung" - ông Trung đặt câu hỏi và trả lời.
Nhạc sĩ Dương Thụ tiếp lời, muốn có giá trị đầu tiên thì cần phải có sức sống và đánh thức sức sống trong mỗi con người. Theo ông, các bạn trẻ có thông minh đến đâu nhưng nếu có sức sống kém thì sẽ không làm được gì. Thế hệ trẻ nhảy nhót suốt đêm, hút thuốc lá, uống cà phê ...đó không phải là sức sống. Sức sống, năng lực (học vấn và kĩ năng) để làm ra hiệu quả cho xã hội.
Trong khi đó, TS Vũ Minh Khương có suy nghĩ, thế hệ chúng ta (thế hệ đi trước - trẻ ) ai cũng tự hào về dân tộc, nhưng để thống nhất một tiếng nói chung cần một lòng thôi thúc vì đất nước.
Thế hệ trẻ hiện nay khát khao thành công, nhạy bén với cái mới và năng động. Người trẻ có cái đầu trẻ để suy nghĩ độc lập, nhưng cần tin vào một chân lý và có một dòng máu để dám làm và dám dẫn thân.
“Nhiều bạn trẻ cố gắng tìm cách cống hiến - nhưng tôi thấy thế hệ trẻ, trí thức đang không tạo ra được áp lực để chúng tôi đổi thay...” - TS Khương chia sẻ.
Vẫn theo TS Khương, chúng ta không nên đưa ra các công thức giáo dục mà nên nhìn thẳng vào những gì các nước khác đã làm thành công để thử nghiệm. Những người trẻ đứng đầu, phải biết sánh vai, biết mình đang tụt hậu ở đâu và hàng ngày đều có thể đổi mới một chút…
  • Lê Huyền
  • Nguồn: http://vietnamnet.vn/vn/giao-duc/98078/gioi-tre-song-voi-va-nhat-nheo.html

Thứ Tư, 14 tháng 11, 2012

Thế nào là nên người?


Không ai tự nhiên nên người, song người ta trở nên người (Homo, fit, non est).

Người ta thường lầm lẫn ý nghĩa hai danh từ “nên người” và “làm nên”.

Một người xoay ở đâu được một món tiền to, tậu nhà, tậu xe, được người hàng xóm trầm trồ đưa làm mẫu cho con cháu: “Đấy, con người ta cũng bằng tuổi bây mà xem, người ta đã nên thân với đời”. Vâng, người ấy đã làm nên với đời thật, song có thể bảo người ấy đã “nên người” chăng, nếu phần trí thức của họ là miếng đất hoang vu hoặc phần tâm đức của họ là một vũng sình lầy?

Đây là một bác sĩ du học ở ngoại quốc mới về quê. Cha mẹ đến mừng cho đứa con đã nên thân với đời. Nhưng nếu người bác sĩ ấy mang thân xác vè quê mà chỉ còn một lá phổ, thử hỏi có thể bảo ông ta đã nên người chăng?

Đây là một nhà văn đã làm nên một sự nghiệp văn chương. Nhưng nếu nhà văn ấy sống cuộc đời bê tha, vô liêm sỉ, lợi dụng chút tài hoa lừa dối bạn bè cùng những người hâm mộ, có thể bảo nhà văn ấy đã xứng đáng làm người chăng?

Một người chỉ làm nên ở một điểm hoặc một phần nào, thí dụ về chức nghiệp hay về tiền bạc, còn những phần khác lại khiếm khuyết hay hư hỏng. Những người như thế, dù tài năng hay địa vị họ đến đâu, cũng không thể bảo họ đã nên người, một người xứng đáng làm người với tất cả ý nghĩa của nó.

Năm xưa, một tờ báo bên Pháp bình phẩm về một phi công có tài nhưng đã hợp tác với quân Đức: “Là một vị phi công đại tài nhưng là một người thấp kém”.

Cũng bởi quan niệm làm người như thế nên nhạc sĩ trứ danh Beethoven nói: “Tôi thích làm một người xứng đáng hơn làm một nhạc sĩ trứ danh”. Ông Roosevelt, cựu Tổng thống Mỹ nói về một giáo sư danh tiếng: “Ông ấy đã hơn là một nhà bác học, vì ông đã là một người với tất cả ý nghĩa của nó”.

Có thể nói một người đã nên người là khi họ biết làm phát triển con người họ một cách điều hòa và đầy đủ vè tất cả những phương diện: thể chất, trí thức, tâm đức và xã hội.

Một người toàn diện là một người có một thân thể tráng kiện, một khối óc sáng suốt, một lý tưởng phấn đấu.

Người ấy không phải là y sĩ, nhưng cũng biết cách giữ gìn sức khỏe, phòng ngừa bệnh tật, biết chọn thức ăn, biết cách cầm máu, biết làm hô hấp nhân tạo, biết phép nuôi con.

Người ấy không phải là lực sĩ, nhưng có thể cử tạ vài mươi cân, mang bao bị trên vai, đi bộ đôi ba chục cây số, có thể ở ngoài trời giữa đồng mà không sợ trúng cảm gió, có thể, nếu cần, thức liền hai ba đêm để làm xong một công việc mà không ốm đau, có thể nhảy xuống sống cứu người sắp chết đắm.

Người ấy không phải là tu sĩ, nhưng luôn luôn tìm hiểu những thị dục, những chỗ yếu của mình, có đủ sáng suốt để phân biệt đâu là hạnh phúc thanh cao, đâu là thú vui thấp hèn, có đủ cả, hoặc có thể làm một cách âm thầm những công việc bất vụ lợi, mong đem lại đôi chút hạnh phúc cho người xấu số hơn mình.

Người ấy không phải là thi sĩ, nhưng rất có thể cảm thông cái Đẹp của vũ trụ cũng như cái khổ của nhân loại. Tim họ có thể hòa nhịp với những khúc nhạc của gió chiều dạo trên lá trúc, cũng như đôi khi họ cũng nhỏ như những giọt nước mắt không đâu để khóc thay cho thiên hạ.

Người ấy không phải là chiến sĩ, nhưng họ rất hiểu về luật Sắt của Tạo vật: Luật chiến đấu. Họ chiến đấu để chinh phục con người của họ, chiến đấu chinh phục cuộc đời.

Biết rõ giá trị cảu cần lao và của sức cố gắng, họ dám liều lĩnh nếu cần liều lĩnh. Thành công, họ không vênh váo, vì họ biết đó là kết quả rất tự nhiên của sự cố gắng. Bị ngã quỵ, họ không sờn lòng, vì họ rất yêu đời, tin ở đời, tin ở sự tiến bộ không ngừng của nhân loại… vì họ biết rằng chỉ có những người không làm gì cả mới không thất bại.

Người ấy dù là một tay thợ hay là một người làm công cũng có một giá trị trong xã hội. Vì chỉ có nhân phẩm mới đáng làm tiêu chuẩn để đánh giá một người.

Và trong xã hội nào, người ta cũng cần đến những người ấy. Thời xưa, ông Diogène xách đèn giữa thanh thiên bạch nhật để đi tìm một người; ở thế kỷ thứ 19, ông Jouffroy đã thốt tiếng than: “Chúng ta thiếu người”. Phải chăng là những người như thế?

Có bạn sẽ bảo: Đó là người lý tưởng trong tiểu thuyết! Không, đó là một người chúng ta có thể chung đụng hàng ngày.

Đó là hạng người mà nền giáo dục có phận sự hun đúc. Vì có ai tự nhiên mà nên người, song người ta trở nên người nhờ sự giáo dục khôn ngoan và hợp lý.

Ngày xưa, người học trò tốt là người có trí nhớ deo dai, có thể trả thuộc lòng cho thầy nghe những bài học thường khi vô dụng.

Ngày xưa, đứa con ngoan là đứa con nhu mì, thiệt thà, nước da trắng như bột, thích sống quanh quẩn trong gai đình.

Ngày nay, với đời sống hoạt động cần nhiều tranh đấu, muốn nên người, muốn sống với tất cả ý nghĩa thực của cuộc đời, người bạn trẻ phải được hun đúc theo một lề lối giáo dục mới. Vì “giáo dục một người là gì? Phải chăng là rèn tập cho họ có thể đối đầu với mọi hoàn cảnh”.

Đương nhiên, dù xưa hay nay cũng thế, người tốt là người biết nhân, lễ, nghĩa… Song với cuộc sống đầy tranh đấu hiện nay, là một người nết na, nhu mì chưa đủ, phải là người quả quyết, đầy tự tin; là người hiền đức chưa đủ, phải là người hoạt động, đầy nghị lực; là người biết lo tròn bổn phận chưa đủ, phải là người có nhiều sáng kiến để làm hơn bổn phận của mình phần nào; là người có thiện chí chưa đủ, phải là người có nhiều ý chí…

Những giá trị cũ không phải hoàn toàn bị phá giá, nhưng chúng ta phải thừa nhận thêm những giá trị mới. Và chúng ta hãy thử tìm một con đường giáo dục mới…

Phạm Cao Tùng
Nguồn: http://www.giaoducconggiao.net/index.php?m=home&v=detail&ia=309

Thứ Năm, 6 tháng 9, 2012

Bật gốc

GM. Vũ Văn Thiên9/3/2012

Gần đây, một loạt liên tiếp những vụ việc xảy ra, được nhận định như những “thiên tai” và “nhân tai” trong xã hội Việt Nam. Những sự kiện ấy khiến chúng ta suy nghĩ về đời sống con người, với hy vọng mỗi người sẽ đóng góp phần mình để làm cho xã hội tốt đẹp hơn. Xin trích dẫn một vài trường hợp:

“Chiều nay 17-8-2012, khi cơn giông kèm theo gió lớn xảy ra do ảnh hưởng của cơn bão số 5, một vụ việc thương tâm đã xảy ra trên phố Lò Đúc (Hà Nội), một cây lớn bật rễ đã đè bẹp một chiếc xe taxi đậu trước số nhà 95F, phố Lò Đúc, làm tài xế tử vong ngay say đó” (Trang điện tử “Tin Mới”, 17-8-2012). 

“Lúc gần 10g sáng ngày 22-8-2012, cây xà cừ cổ thụ trên đường Trần Nhân Tông, gần cổng chính của Công viên Thống Nhất (Hà Nội), có đường kính thân hai người ôm đã bật gốc, dù thời tiết bình thường, trời nắng ráo, gió nhẹ”(Vietnamnet 22-8-2012).

“Một vụ sạt lở xảy ra vào khoảng 7g30 phút sáng ngày 19-8-2012 khiến đoạn đường Lê Văn Lương kéo dài, đoạn qua khu đô thị Dương Nội bị xẻ đôi, xuất hiện hố tử thần giữa đường” (Vietnamnet 19-8-2012).

“Cơ quan CSĐT công an huyện Bình Chánh đang phối hợp cùng các đơn vị nghiệp vụ công an TP.HCM truy bắt hung thủ gây ra vụ cướp tiệm vàng táo tợn giữa ban ngày tại tiệm vàng Minh Mẫn đóng tại xã Bình Chánh, huyện Bình Chánh, TPHCM ngày 4-8-2012” (Trang điện tử “Pháp Luật” ngày 7-8-2012).

“Nguồn tin riêng của Dân trí từ Cơ quan CSĐT Công an TP. Hà Nội cho biết: Công an Hà Nội đã có Quyết định truy nã đặc biệt đối với Nguyễn Tuấn Minh sinh năm 1973 tại Hà Nội, Chủ tịch HĐQT Công ty Cổ phần Đào tạo Mua bán trực tuyến (Muaban24)” (Dân trí 29-8-2012).


Nếu trích dẫn tiếp thì những thông tin sẽ còn rất dài, tưởng như vô tận.

Để trả lời cho câu hỏi tại sao cây bật gốc, người ta đưa ra câu trả lời vừa nhanh vừa đơn giản: “Tại bão”. Nhưng: “Tại sao không có bão mà một cây cổ thụ lớn đến hai người ôm vẫn đổ?” Không có câu trả lời. Thật là khôi hài khi cây cổ thụ trăm tuổi “bỗng dưng muốn nằm” vào lúc thời tiết rất đẹp. Người ta không thể đổ cho trời, vì trời hoàn toàn “vô tội” trong vụ này.

Để trả lời cho câu hỏi tại sao đường sụt lún gây nên “hố tử thần”, vị Chánh thanh tra giao thông vận tải Hà Nội lý luận là do tác động của ngoại cảnh (!?). Sau đó, vị Chánh thanh tra này lại khẳng định: “Đường lún là do các rãnh cao su bong tróc, đứt gãy, kết hợp với mưa to làm nước lún sâu vào nền đường” (Trang tin điện tử “Dân trí”, ngày 19-8-2012).Thế là “thủ phạm” vụ này đã rõ: đó là mấy cái rãnh cao su. Mà mấy cái rãnh cao su lợi hại thật, đến nỗi làm cho đường há ra, nuốt gọn cả cái cổng chào kiên cố được dựng nhân sự kiện ngàn năm Thăng Long – Hà Nội!

Để trả lời cho câu hỏi tại sao bây giờ xảy ra nhiều vụ lừa đảo và cướp bóc giết người như vậy, người ta đổ cho cái nghèo. Vì nghèo mà làm bậy. Nhưng trong thực tế, khá nhiều thủ phạm gây tội ác không phải xuất thân từ những gia đình nghèo. Họ là con nhà giàu, được gọi bằng những danh xưng rất truyền thống và cũng rất hiện đại: “con quan”, “thiếu gia”, “cậu ấm, cô chiêu”… Họ thường ỷ thế bố mẹ, cậy có ô dù bảo vệ, liều lĩnh đâm chém, gây rối mà vẫn nhởn nhơ ngoài vòng pháp luật, thách thức công luận, coi thường đạo lý.

Quy tội và đổ trách nhiệm cho người khác, đó là một nết xấu thường có nơi con người. Ngay từ ban đầu lịch sử, trong vườn Địa đàng, vừa khi nghe tiếng Chúa hỏi về việc ăn trái cây giữa vườn, ông Ađam đã trả lời tỉnh queo: “Người đàn bà Chúa cho làm bạn với con, chính nàng đã cho con trái cây ấy và con đã ăn” (St 3,12). Ađam đã đổ lỗi cho người đàn bà, đồng thời đổ lỗi cho Chúa, vì khi nói “người đàn bà Chúa cho làm bạn với con”, ông ngụ ý rằng Chúa cho ông điều không tốt, Chúa là nguyên nhân dẫn đến việc ông phạm tội, vậy thì trách nhiệm phần nào cũng thuộc về Chúa. Ađam vô tư thản nhiên khi đưa ra cách lập luận như vậy.

Vậy là, theo lý luận của những người có trách nhiệm, cây đổ là do bão, bão là do trời; đường lún là do mưa, mưa là hiện tượng thiên nhiên, chỉ có ông Trời mới làm được. Những người thi công đường bộ và những người quản lý cây xanh đô thị chẳng có lỗi gì.

Thực ra, có một lý do chính thường bị người ta lảng tránh, đó là lương tâm con người đã bị bật gốc. Trời đang nắng và gió nhẹ, bỗng cây đổ, là do con người chặt hết rễ cây để xây nhà và làm đường. Trời vừa mưa, mọi tuyến phố ngập là do con người lấp hết ao hồ và hệ thống tiêu nước. Đường sụt lún, là do con người làm ẩu, thất thoát vật liệu xây dựng và rút ruột công trình. Tất cả những lỗi ấy đều do con người gây nên. Lòng tham của con người là nguyên nhân dẫn tới bao tai hại. Con người phải lãnh trách nhiệm về mình. Gần đây, một vài tác giả nói về một loại hình văn hóa mới, đó là “văn hóa nhận lỗi”. Đây là phương thuốc căn bản, tối ưu để chữa căn bệnh tạm gọi là “bệnh bật gốc” này. Thật là hài hước khi nhìn những hình ảnh đăng trên internet cho thấy một cây rất cao rất lớn mà rễ chỉ còn chút xíu. Những cụm rễ như chòm râu lởm chởm, bên cạnh vết nứt toác, nom như nụ cười nham nhở giễu cợt sự vô tâm của con người.

Từ sự kiện cây bị bật gốc, đường bị xẻ ngang, chúng ta liên tưởng đến những vấn đề nhân cách và đạo đức trong xã hội: tham nhũng hối lộ, cướp bóc giết người, thi cử gian lận, thực phẩm nhiễm độc, sa đọa luân lý, tan vỡ gia đình… Trước những sự việc xảy ra, người ta thường đổ lỗi cho môi trường xã hội. Nhưng xã hội là một khái niệm rất rộng và rất mơ hồ. Xã hội là tất cả mọi người và xã hội cũng chẳng là ai cả. Đổ thừa cho xã hội là đổ thừa cho hết mọi người. Quy hết trách nhiệm cho xã hội chẳng khác gì đánh bùn sang ao. Ai cũng có trách nhiệm cả mà cuối cùng chẳng ai có trách nhiệm.

Muốn giải quyết được những vấn đề gây nhức nhối trong thời đại chúng ta, thiết tưởng phải chữa căn bệnh này từ gốc. Sức sống của cây nằm ở chỗ mà nó không hiển lộ ra cho mọi người có thể thấy được. Nó ở tại bộ rễ sâu dưới mặt đất. Nếu không chăm sóc cho những rễ này thì hoa và lá sẽ tàn lụi và cây sẽ mất dần sự sống, đến chỗ khô héo và chết.

Cây bật gốc là vì mất hết rễ, con người gian ác vì vô giáo dục. Đây là cái giá phải trả cho những quan niệm lệch lạc một thời về giáo dục, khi người ta chú trọng đến tuyên truyền “lập trường giai cấp” hơn là huấn luyện đạo đức con người. Phương châm giáo dục từ xa xưa “tiên học lễ hậu học văn” có thời đã bị quên lãng, nhường chỗ cho một thứ giáo dục bát nháo, thi đua bằng cấp, ồn ào về số lượng. Truyền thống tốt đẹp của người Việt Nam “tôn sư trọng đạo” đã bị thay thế bằng bạo lực học đường, dẫn tới tình trạng học sinh đâm chém thày cô giáo. Điều kỳ lạ là trong lúc người ta lo ngại và thất vọng về kết quả học tập của học sinh, thì kỳ thi tốt nghiệp năm 2012 này, tỷ lệ tốt nghiệp lại cao ngất ngưởng, tạo ra những “con số đẹp như mơ”. Trang tin điện tử Giadinh.net ngày 18-6-2012 đăng thông tin từ ông Nguyễn Hoài Chương, Phó Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo Thành phố Hồ Chí Minh. Theo ông, tỷ lệ tốt nghiệp của thành phố năm nay đạt 98,18% . Hà Nội, một trong những địa phương có số lượng thí sinh dự thi cao nhất nước, năm nay có tỉ lệ đỗ 98,24% ở bậc Trung học phổ thông. Tại Hải Phòng, năm nay toàn thành phố chỉ có 55 học sinh trượt tốt nghiệp, học sinh các trường Trung học phổ thông đỗ tốt nghiệp đạt 99,82%. Cứ dựa vào những thông tin này, thì chúng ta phải ăn mừng, vì con cháu chúng ta càng ngày càng giỏi. Chả thế mà cuối năm 2011 Bộ Giáo dục và Đào tạo đã “ra chỉ tiêu” đến năm học 2019-2020, nước ta sẽ có 29.000 tiến sĩ dạy đại học (x.Trang tin điện tử trường Trung học Phổ thông Amsterdam Hà Nội, 4-1-2012). Nhưng hỡi ôi, số các vụ trộm cắp, lừa đảo, giết người mà thủ phạm ở tuổi học sinh cũng tăng tỷ lệ thuận với tỷ lệ thi tốt nghiệp. Phải chăng phần “rễ” của xã hội quá mỏng không đủ sức nâng đỡ và giữ vững con người trước cơn lốc hưởng thụ hôm nay? Cũng giống như người ta cắt rễ cây để xây cao ốc, hiện nay phần rễ đạo đức của xã hội cũng bị cắt hết để chạy theo phần nổi hào nhoáng của một cuộc sống đua chen hằng ngày.

Trước những vấn đề nóng bỏng của gia đình và xã hội, nhiều người thốt lên: “xã hội này mất gốc rồi!”. Thật vậy, chúng ta đang đánh mất truyền thống tốt đẹp của người Việt được in đậm nét trong những câu ca dao thuở nào “Bầu ơi thương lấy bí cùng, tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn”. Chúng ta cũng đang đánh mất truyền thống “nhất tự vi sư bán tự vi sư” nơi nhà trường, đánh mất lòng hiếu thảo, thủy chung trong gia đình. Những nét đẹp này của nền văn hóa Việt, xem ra ngày càng hiếm thấy giữa một xã hội đầy bon chen và đậm mùi bạo lực hôm nay. Một khi “mất gốc” thì tội ác sẽ lên ngôi và thống trị xã hội.

Làm thế nào để chữa được căn bệnh này? Tương lai dân tộc sẽ đi về đâu? Nhiều người đã đặt ra câu hỏi. Để giải bài toán hóc búa này, muộn còn hơn không, chúng ta phải xây dựng một nền giáo dục dựa trên lương tâm và đạo đức của con người. Đó là cái “gốc” cho cây Việt Nam được vững vàng. Những người lãnh đạo cũng cần nhận ra giá trị đạo đức và vai trò quan trọng của các tôn giáo. Khi không còn tin vào những giá trị siêu nhiên, con người sẽ bị chệch hướng cuộc đời. Chối bỏ Thượng Đế là nguyên nhân của bạo lực. Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI đã nhiều lần quả quyết như thế. “Sự chối bỏ Thiên Chúa làm băng hoại con người, khiến con người không còn mẫu mực nữa, và dẫn họ đến bạo lực” (Diễn từ tại Assisi, nhân ngày các đại diện tôn giáo cùng cầu nguyện cho hòa bình 27-11-2011). Công bằng là một yếu tố không thể thiếu để có một xã hội văn minh và phát triển, vì “một Nhà nước, nếu không được tổ chức theo sự công bằng sẽ chỉ là một băng đảng trộm cướp” (Thông điệp Thiên Chúa là Tình yêu, số 28).

Nhận định về vai trò của các tôn giáo trong việc xây dựng một xã hội dân chủ và bền vững, Tiến sĩ Nguyễn Quang Hưng, thuộc Viện Nghiên cứu Tôn giáo đã viết: “Sự khủng hoảng đạo đức Việt Nam hiện nay do nhiều nguyên nhân, trong đó có việc truyền bá chủ nghĩa duy vật và vô thần, hạ thấp vai trò của tôn giáo, nhất là thời kỳ trước Đổi mới. Việc phủ nhận các giá trị tôn giáo, đề cao chủ nghĩa duy vật vô thần tới mức cực đoan vô hình trung cổ vũ cho cái “văn hóa” tiêu dùng phàm tục”. Rồi tác giả kết luận: “Khủng hoảng đạo đức xã hội ở Việt Nam đã tới mức báo động và có thể còn kéo dài, đòi hỏi nỗ lực của các cấp chính quyền, các tổ chức tôn giáo và từng người dân để khắc phục”(x. Nguyệt san Công giáo và Dân tộc, số 211, tr. 29 và 33). Hy vọng ước mong của một trí thức ngoài công giáo được nhiều người để ý quan tâm.

Một căn nhà vững chắc là nhờ mọi bộ phận của căn nhà ấy đều được gắn kết chặt chẽ với nhau. Một gia đình hạnh phúc được thể hiện qua tình yêu thương của mọi thành viên trong gia đình ấy. Căn nhà Việt Nam, muốn được vững chắc, cần có sự chung sức chung lòng của mọi người, nơi đó, các tôn giáo được phát huy chức năng của mình, nhằm cộng tác xây dựng một cuộc sống an bình và phát triển.

Gm Giuse Vũ Văn Thiên
http://www.hdgmvietnam.org