Hiển thị các bài đăng có nhãn Dương Bỉnh - tùy bút. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Dương Bỉnh - tùy bút. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 9 tháng 7, 2008

Một Chuyến Ði Huế Và Thăm Giáo Phận Mẹ

Tôi về Huế để dự lễ Tiểu tường của một vị Ðại Lão trong tộc đã khuầt bóng tròn một năm. Thời điểm nầy đang tiết Lập Hạ, đêm trời oi bức, ngày nắng nóng như thiêu đốt. Dòng Hương giang không đủ sức làm dịu bớt cái nóng hừng hực của trưa hè, tuy nó chảy xuyên tâm thành phố đem lại cho Huế vẻ đẹp như ‘”tranh họa đồ” được diễn tả qua đoạn văn “.....Huế đẹp là nhờ ở con sông Hương giang. Con sông xinh thay!. Hà nội cũng có sông Nhị hà, nhưng sông Nhị với sông Hương khác nhau biết chừng nào!. Một đàng ví như cô con gái tươi cười, một đàng ví như bà lão già cay nghiệt. Nhị hà là cái thiên tai của xứ Bắc, Hương giang là cái châu báu của xứ Kinh,.....” (Trích bài học Quốc văn, không biết tên tác giả).

Huế còn thêm duyên với những địa danh Núi Ngự Sông Hương, Bến Văn lâu, Cầu Trường tiền, Chợ Ðông ba, Thôn Vỹ dạ, Ðàn Nam giao, Ðồi Thiên an, Chùa Thiên mụ, Ðồi Vọng cảnh ...
Huế từng là cố đô trang nghiêm với những công trình kiến trúc cổ kính, nghệ thuật cổ điển khiêu gợi mỹ cảm mông lung, man mác, thơ mộng.

Hoàng thành một thời đã bị tàn hại, đền đài lăng miếu trống vắng, các công viên Thượng tứ, Phu văn lâu, Ngọ môn bị đào xới lên vồng trồng sắn khoai.

Nay Huế đang níu kéo lại vẻ trang nghiêm cồ kính, tái lập lại cổ lễ, triều nghi, cách triều kiến thời quân chủ.



Huế đang từ từ trùng tu lăng miếu, đền đài, phục hồi lại nếp văn hóa đã thấm sâu vào mạch đất thần kinh qua Festival Huế cứ mỗi hai năm với những lễ hội : Lễ tế Nam giao với trang phục cung đình triều Nguyễn, Lễ hội Áo dài, Ðêm Hoàng cung, Lễ tế Xã tắc, Huyền thoại sông Hương, Festival năm nay có thêm Lễ hội thi Tiến sĩ Võ, Lễ tái hiện lễ Ðăng quang của vua Quang Trung.

Cứ mỗi kỳ Festival, Huế được tô điểm thêm các hình thức nghệ thuật như nhã nhạc, múa cung đình, ca Huế, nghệ thuật ẩm thực trong dạ tiệc cung đình, thuyền cung đình và thuyền rồng với ánh đèn lung linh huyền ảo lướt nhẹ trên mặt Hương giang đêm về phẳng lặng như tờ.

Thành phố Huế có khoảng 293.000 người trong tổng số 1.050.000 dân toàn tỉnh Thừa thiên.

Giáo hạt Thành phố Huế có khoảng 16.000 giáo hữu trong tổng sõ 64.000 gíáo dân toàn Giáo phận Huế, dưới quyền cai quản của hai Ðức Giám mục (một Tổng Giám mục và một Giám mục phụ tá) với sự cộng tác của khoảng trên 100 Linh mục coi sóc trên 70 giáo xứ chính và gần 70 giáo xứ nhỏ, được chia làm 5 giáo hạt (Gh): Gh Thành phố Huế, Gh Hương Phú, Gh Hương Quảng Phong (Hương trà, Quảng điền, Phong điền), Gh Hải vân và Gh Quảng trị.

Giáo phận Huế có nhiều dòng tu nam nữ như Dòng Chúa Cứu thế, Dòng Thiên an, Dòng Thánh tâm, Dòng Kín, Dòng Thánh Phao lô, Dòng Tiểu muội Chúa Giêsu, Dòng Mến Thánh giá, Dòng Con Ðức Mẹ Vô nhiễm, Dòng Con Ðức Mẹ Ði viếng.....

Tại Tòa Giám mục có 15 Ủy ban Ðặc trách (UBÐT) :

UBÐT Phụng vụ và Trung tâm Mục vụ, UBÐT Tu sĩ Nam Nữ, UBÐT Giáo lý, UBÐT Thánh nhạc, UBÐT Thường huấn Linh mục, UBÐT Ðại Chủng sinh, UBÐT Chủng sinh Ngoại trú, UBÐT Giáo dân, UBÐT Truyền giáo, UBÐT Ðối thoại Liên tôn, UBÐT Văn hòa, UBÐT Hội nhập Văn hóa, UBÐT Bác ái, Xã hội, UBÐT Giới Sinh viên, UBÐT Giới Trẻ.

Bên trái Tòa Giám mục là Trung tâm Mục vụ, một tòa nhà bề thế 5 từng lầu, gồm một hội trường 800 chỗ cho hội thảo viên, một phòng ăn 800 chỗ cho thực khách, gần 60 phòng ngủ đủ tiện nghi, một garage, một phòng khách, một phòng báo chí và một Nhà Nguyện chạm trổ công phu với nét cổ kính.


Trung tâm Mục vụ nầy biểu thị tính sinh động, linh hoạt, đầy sức sống của Giáo phận. Hàng tuần có các lớp học về tu đức, giáo lý hay hội thảo về các vấn đề liên quan đến phụng vụ hay mục vụ giáo xứ. Ngày 5 tháng 6 năm 2008, Trung tâm đã tổ chức một cuộc họp mặt trên 700 em lễ sinh thuộc các Giáo xứ trong Giáo phận. Ðây là dịp để các em tìm hiểu và tập làm quen với Ơn gọi tu trì hoặc dấn thân giúp Giáo hội.

Bên phải Toà Gíám mục là nhà Hưu dưỡng của các Cha già nghỉ ngơi. Người viết có ghé thăm cha Nguyễn cao Lộc và cha Lê văn Cao. Hai ngài đang viết sách đạo.

Ðối diện nhà Hưu dưỡng là trụ sở của Ủy ban Ðặc trách Bác ái Xã hội.

Phía sau Tòa Giám mục là dòng Thánh tâm với ngôi nhà thờ xinh xinh soi bóng bên bờ sông Bến ngự. Ðây là thánh đường của Giáo xứ Bến ngự với gần 400 giáo dân do các Cha và Sư huynh dòng Thánh tâm coi sóc.

Bên kia bờ sông vài trăm mét là nhà thờ chính tòa Phủ cam, với nghệ thuật kiến trúc vừa tân kỳ vừa đồ sộ mang tính uy nghiêm xứng đáng với danh vị “Nhà thờ Chính tòa” của Giáo phận.


Gần phía sau nhà thờ chánh tòa là tu viện Mến Thánh giá Phủ cam. Trong Tu viện nầy có một ngôi trường mẫu giáo bị chính quyền trưng dụng từ năm 1976. Tu viện đã nhiều lần làm đơn đòi lại nhưng chưa được đáp ứng.

Dòng Thiên an cũng bị chiếm đoạt cách bất công hàng mấy chục mẫu đất. Nhiều tài sản của Giáo hội địa phương bị trưng dụng, trưng thu hay chiếm đoạt từ năm 1976 vẫn chưa được hoàn trả.

Hai mươi ba mẫu đất của Trung tâm Thánh mẫu La vang bị chiếm đoạt, nay đã trả lại 21 mẫu. Hôm 3–6-2008, người viết đến kính viếng Ðức Mẹ La vang, có nghe nói hai bên chính quyền và giáo quyền địa phương đang đóng cọc phân định ranh giới và đang thương lượng với số gia đình đã làm nhà trên đất của Trung tâm dời cư đến địa điểm khác.


Thiên thai, một địa danh thơ mộng, Thiên thai là nơi tiên ở. Muốn đi Thiên thai phải qua cầu Bến ngự, trực chỉ Nam giao, qua đường Tam thai rồi vào Thiên thai.. Nơi cõi tiên thơ mộng nầy rày là bãi tha ma, mồ mã chi chít từ cái thời “quỉ ma mã qui” về đây. Ðây cũng là nơi an nghỉ của các nhà tu hành Giáo phận Huế. Nghĩa địa được chia làm hai phần, một bên là mộ các Giáo sĩ và nam Tu sĩ, bên khác là mộ các nữ Tu sĩ. Một vài Linh mục gốc Giáo phận Huế qua đời ở hải ngoại cũng được đưa về an táng tại đây. “Lá rụng về cội”, con người không quên nguồn gốc.

Sau khi rời Huế vào Sài gòn đăng ký chuyến bay trở về Canada, tôi được tin cho biết :

“Phái đoàn Toà thánh Vatican, trong chuyến viếng thăm Việt nam từ 9 đến 15-6-2008 do Ðức Ông Pietro Paroline, Thứ trưởng bộ Ngoại giao Toà Thánh dẫn đầu, đã đến thăm Tòa Tổng Giám mục Huế và dâng thánh lễ tại linh đài Ðức Mẹ La vang vào ngày 13 tháng 6 năm 2008.”

“Tuy đã nhiều lần đến viếng Ðức Mẹ La vang, nhưng đây là lần đầu tiên Phái đoàn Tòa Thánh chính thức đại diện cho Ðức Giáo hoàng Bênêdictô 16 đến viếng linh địa nầy và trao cho Ðức Giám mục Phụ tá, đại diện Trung tâm Thánh mẫu La vang, một Hào quang Mình Thánh Chúa của Ðức Thánh Cha tặng”.

“Ðang lúc trao tặng Hào quang vào 9 giờ 40 phút sáng thứ sáu, ngày 13-6-2008 nhằm ngày 15 tháng 5 năm mậu tý, trước một Giám mục, nhiều Ðức Ông, hàng chục Linh mục đồng tế và khoảng hai ngàn giáo dân tham dự thánh lễ tại linh đài đã chứng kiến và chiêm ngắm một hiện tượng kỳ lạ :

“ Mặt trời được bao quanh bằng một vòng tròn đa sắc, tỏa sáng trên linh đài”.

“Tất cả giáo dân nhìn lên trời cao, lao xao, rộn rã, cảm động thốt lên “Sự lạ! Sự lạ! Ðẹp quá! Ðẹp quá! Có kẻ nghẹn ngào thổn thức trong tiếng “Lạy Mẹ! Lạy Mẹ!”

“Thánh lễ đã phải ngưng năm phút, sau đó tiếp tục.”

“Sau thánh lễ, nhiều người bàn tán xôn xao, một ít người cho là hiện tượng thiên văn, nhưng nhiều người cho là hiện tượng kỳ lạ hay “Sự lạ”. Bởi lúc đó: *Bầu trời quang đảng không một gợn mây. *Vòng tròn đa sắc tỏa sáng trên linh đài với hình vòng tròn đầy đủ, không như cầu vồng (arc-en-ciel) hình cánh cung (nửa vòng tròn) do phản chiếu của những tia sáng mặt trời bị khúc xạ và phản xạ qua đám mây hay mưa. *Vòng tròn đa sắc chỉ tỏa sáng trên linh đài mà thôi, không xảy ra đồng thời ở nơi khác. *Nhiều máy chụp hình và quay phim đã ghi lại hiện tượng kỳ lạ nầy thực rõ ràng”.

Montréal, ngày 25-6-2008

Thứ Bảy, 23 tháng 2, 2008

Bâng Khuâng Nhớ Về Cố Hương - Phủ Vĩnh Linh, Tỉnh Quảng Trị (2)

- Tổng Thủy ba :

Ở về phía tây phủ Vĩnh linh, gồm các làng Thủy ba, Ba bình, Bình đức, Hòa lạc, Chấp lễ, Cổ hiền, Phan xá, Quảng xá, Lê xá, Lệ xá, Tiên lai, v.v...

Làng Thủy ba khá rộng, phía tây tiếp giáp Trường sơn, có truyền thống ải cọp (vây bắt cọp). Cọp thường ở vùng rừng còi (cằn cỗi) mép rìa Trường sơn thỉnh thoảng vào làng bắt heo, trâu nghé, bò con và ngay cả người nữa. Cư dân nơi đây tìm cách diệt trừ loài ác thú với kế hoạch ải cọp .

Ban đêm, khi cọp đột nhập vào làng bắt trâu, bò hay heo, người nhà chỉ ở trong nhà đánh mõ, thanh-la, khua nồi niêu và hò hét cho cọp đi, đến sáng, dân làng mới lần theo dấu con mồi bị cọp kéo. Khi phát giác được địa điểm dính máu, nơi con mồi bị ăn, làng cho đánh mõ tập trung đinh tráng gánh lưới đến vây bốn phía, căng cao lên hai ba mét với chu vi khá rộng. Ðinh tráng gồm hai thành phần, một loại chuyên sử dụng giáo mác, phòng cọp nhảy lưới thì đâm cho cọp thối lui; loại nữa chuyên dùng dao rựa chặt cây, chặt tới đâu đẩy lưới tới đó, vòng vây thu hẹp dần, cọp hết chỗ ẩn trốn, khát và đói sau nhiều ngày bị vây hãm. Lúc nầy, làng cho đẩy vào trong vòng vây một cái cũi làm bẫy sập có chừa cửa, trong có đặt một chậu nước và một miếng thịt. Cọp vừa đói vừa khát, với dáng rụt rè sợ sệt, bước vào cửa cũi đạp nhằm tấm bẫy, cửa cũi lập tức sập xuống nhốt cọp lại. Ðến đây, chức sắc làng và đinh tráng nghỉ ngơi, nhắp rượu và ra giá. Sau khi giá cả xong, làng cho lệnh giết và kéo cọp ra khỏi cũi. Một vị hào lão trong làng cầm đuốc tới nung cháy toàn bộ râu cọp, sau đó làng mới cho người mua mang đi. Sở dĩ phải đốt râu vì có truyền thuyết: râu cọp được dùng làm thuốc độc giết người.

Làng Bình đức :

Bình đức đất rộng, người thưa, dân tình hiền hòa. Làng nầy có giáo xứ Ba ngoạt, quê quán Linh mục Nguyễn văn Lý, một người khí phách anh hùng tranh đấu cho Nhân quyền Việt nam. Nghe các cụ nói giáo xứ Ba ngoạt đã có từ lâu đời. Năm 1885 khoảng 100 giáo dân đã bị Văn thân chôn sống. Hố chôn tập thể đó gần phi trường Chấp lễ, gọi là Lăng Tử Vì Ðạo hay Mả Thánh .

Làng Phước sơn :

Phước sơn là làng tân lập. Năm 1918, Linh mục người Pháp Henri Denis (tên Việt là Cố Thuận) được chính phủ chấp thuận cho khẩn hoang một khu rừng hoang vắng phía tây phủ Vĩnh linh, bên rìa Trường sơn và thành lập dòng khổ tu Ðan viện Xi-tô đầu tiên tại Việt nam. Vùng đất nầy được đặt tên là Phước sơn và dòng khổ tu nầy cũng được gọi là dòng Phước sơn. Khoảng 20 năm sau, dòng nầy phát triển thêm dòng Châu sơn ở Phát diệm (Bắc Việt).

Năm 1949, vùng Phước sơn mất an ninh, Cha Bề Trên (người Việt) bị bắt mất tích, nhà dòng bị Việt minh chiếm, các đan sĩ di tản vào Sài gòn và lập các đan viện mới như Phước lý ở Thủ đức, Phước sơn ở Phúc lộc Bà rịa, Thiên phước ở Vũng tàu và Phước vĩnh ở Trà vinh. Năm 1978, một số đan viện bị giải thể, khoảng 100 đan sĩ tản mác đi xây dựng các cộng đoàn bí mật. Nay đang phục hồi và vị Ðan viện phụ là Linh mục Phạm văn Hiền, người làng Quảng xá, tổng Thủy ba, phủ Vĩnh linh, đã qua 7 năm tù và 4 năm quản thúc tại gia.

Làng Hồ xá :

Làng nầy khá lớn, nằm dọc quốc lộ 1, trung tâm làng là một thị trấn, phủ lỵ Vĩnh linh đóng tại đây, có trường tiểu học, sân vận động (sau nầy Bắc Việt dùng làm phi trường trực thăng trong cuộc chiến mùa hè 1972 ở Quảng trị), bến xe, quán xá và chợ buôn bán nhộn nhịp. Thời chiến 1946-1954, một đại đội lính Pháp đóng tại đây yểm trợ các đồn Cửa Tùng, Hiền lương, Tân trại, Thủy cần và Chấp lễ.

Phía tây làng Hồ xá, dọc quốc lộ 1, có Truông Nhà Hồ , đây là một vùng đất hoang vắng khá rộng, cây cối lụp xụp, địa thế hiểm trở. Xưa kia, nơi đây hay xảy ra các vụ cướp bóc. Bọn khấu tặc nầy từng là nỗi khiếp sợ của lữ khách trên đường thiên lý :

Thương em anh cũng muốn vô,
Sợ truông Nhà Hồ, sợ phá Tam giang. (Ca dao)


Theo sách Chín Chúa Nhà Nguyễn thì :

Năm Nhâm Thân (1572), Lập Bạo một bộ tướng của nhà Mạc đem 60 chiến thuyền có trang bị đầy đủ, theo đường biển tiến vào đánh Thuận hoá, Lập Bạo định dùng thế gọng kềm, diệt xong chúa Tiên sẽ tiến ra bắc tấn công nhà Lê Trung Hưng. Quân Lập Bạo vào cửa Việt tiến vào sông Vĩnh định và chiếm toàn bộ vùng Hồ xá thuộc huyện Vĩnh linh, tấn công quân chúa Tiên. Ðây là trận đánh đầu tiên sau mười mấy năm trấn nhậm Thuận hóa. Quân hai bên đánh nhau rất ác liệt, quân của chúa tuy ít nhưng chiến đấu rất dũng cảm. Vì thế sau nhiều lần ác chiến vẫn bất phân thắng bại. Hai bên đóng đồn đắp lũy đối diện trù tính chiến đấu lâu dài.

Tương truyền rằng một bữa nọ chúa Tiên đi thị sát mặt trận dàn trên phòng tuyến sông Vĩnh định, thì nghe có tiếng Trảo trảo rất lớn rồi sóng to gió lớn nổi lên ầm ầm. Nguyễn Hoàng mới quỳ xuống mà khấn rằng: Nếu trời giúp cho tôi làm nên nghiệp lớn thì xin hãy sai thần sông theo giúp. Ðêm đó, Nguyễn Hoàng nằm mộng thấy một nữ thần mặt đẹp như hoa, mắt sáng như sao, vẫy chúa mà bảo rằng: Ta là thần sông Vĩnh định đây, cảm tấm lòng thành của nhà ngươi nên đến giúp. Ngươi muốn thắng Lập Bạo thì chỉ dùng mỹ nhân kế mà thôi. Nói xong thì vẫy tay áo biến mất. Chúa định hỏi nhưng vừa bước theo thì vấp ngã và giật mình tỉnh dậy mới biết là chiêm bao. Rạng ngày, Chúa họp các mưu sĩ và cho biết giấc mộng. Một mưu sĩ của chúa đứng dậy vái chúa một vái rồi nói rằng: Chúa đã được thần nhân báo mộng chắc là thắng được giặc. Vả lại mấy lâu nay tôi cho người dò thám trại giặc thì biết Lập Bạo vốn là đứa háo sắc. Vậy nếu ta dùng mỹ nhân kế chắc là thành công. Nhưng chỉ hiếm một nỗi nơi trại quân nầy lấy đâu ra người đẹp để thực hiện kế ấy ?

Trong khi mọi người đang bàn bạc thì có thị tỳ họ Ngô đem nước vào dâng cho Chúa. Nhan sắc Ngô Thị quả thật đẹp, hoa nhường nguyệt thẹn, ai cũng tấm tắc khen. Chúa rất mừng, truyền Ngô Thị ở lại rồi dặn dò các việc. Về phần Lập Bạo, ỷ mình binh nhiều, nghĩ rằng trước sau gì cũng thắng nên suốt ngày chè chén ca hát. Ðã thế, lại có sứ giả của Nguyễn Hoàng xin vào yết kiến với đề nghị giảng hòa để giữ hòa hiếu. Lập Bạo thấy thế càng kiêu căng nên không đề phòng gì cả. Vài hôm sau Chúa lại sai một phái đoàn đến, mang theo nhiều lễ vật quý hiếm, lại sai Ngô Thị trang điểm thật đẹp bưng lễ vật cùng đi với đoàn sứ giả đến ra mắt Lập Bạo. Lập Bạo thấy lễ vật quá hậu ngỡ rằng Nguyễn Hoàng sợ mình, liếc mắt nhìn thấy Ngô Thị là một trang tuyệt thế giai nhân nên trong lòng rất sảng khoái. Ngô Thị biết ý lại càng liếc mắt đưa tình, Lập Bạo miệng thì ừ hử nhưng mắt không rời Ngô Thị. Khi phái đoàn cáo từ ra về, Lập Bạo bị sắc đẹp của Ngô Thị chinh phục, như một cái máy đứng dậy đi theo để tiễn. Lúc nầy Lập Bạo chẳng còn biết gì ngoài Ngô Thị nên cứ như người bị bùa mà theo chân Ngô Thị rời xa doanh trại của mình. Trên đường về, Chúa đã bí mật cho quân mai phục. Lập Bạo lọt vào ổ phục kích, biết mình trúng kế, nhanh như cắt hắn lao mình xuống sông Vĩnh định lặn một hơi tẩu thoát. Lập Bạo vốn là một thủy tướng nên bơi lội và lặn rất giỏi. Thuyền của chúa đuổi theo sát nút, tuy thế vẫn không làm thế nào để bắt được Lập Bạo. Nhiều lần Lập Bạo thoát chết nhưng có lẽ số Lập Bạo đã hết nên mỗi lần Lập Bạo ngóc lên chỗ nào để lấy hơi thì y như trên đầu y có con chim bói cá bay đến, nhờ thế quan quân chúa Nguyễn mới theo sát được. Túng thế, Lập Bạo lặn một hơi thật sâu đến cuối sông Vĩnh định mới nổi lên, nhưng khi quân chúa Nguyễn tới thì thấy y đã chết rồi. Doanh trại của Lập Bạo thấy chủ tướng bị chết, kẻ chạy thoát thân, kẻ xin hàng. Trừ xong Lập Bạo, thanh thế của chúa Tiên ngày càng lẫy lừng. Ðể nhớ ơn vị nữ thần sông Vĩnh định đã giúp mình, Chúa cho lập một ngôi miếu sát bên sông Vĩnh định để thờ bà, gọi là miếu Trảo Trảo Phu Nhân, quanh năm hương khói thờ phụng. (Sách Chín Chúa Nhà Nguyển)

Theo tương truyền, sau khi Lập Bạo chết, phần đông quan quân đầu hàng, được chúa Nguyễn Hoàng cho đến khai hoang lập nghiệp ở phía tây huyện Gio linh. Họ đã biến nơi sơn lam chướng khí nầy thành vùng đất phì nhiêu, sau nầy gọi là Bát Phường. Một số hậu duệ của họ trở nên giàu có và có chức vị trong các cơ quan Chính quyền Quốc gia.

Số quan quân không đầu hàng đã trốn tránh ở truông Nhà Hồ thuộc làng Hồ xá, sống nghề cướp bóc người đi đường. Ðịa danh Truông Nhà Hồ trở thành nơi kinh hoàng của lữ khách. Ðể trừ hại cho dân, chúa Nguyễn phúc Chu (1691-1725) đã sai quan Nội tán Nguyễn khoa Ðăng đem quân quét tan lũ cướp nầy. Từ đó dân chúng mới an tâm đi lại và truyền tụng qua ca dao :

Thương em anh cũng muốn vô,
Sợ truông Nhà Hồ, sợ phá Tam giang.
Phá Tam giang ngày rày đã cạn,
Truông Nhà Hồ Nội tán cấm nghiêm .

* Vĩnh linh tan nát :

Chiến tranh 1946-1954 kết thúc với hiệp định Genève chia đôi nước Việt ở vĩ tuyến 17, lấy sông Bến hải làm ranh giới. Miền Trung đình chiến kể từ 01-08-1954. Vùng đất hai bên bờ bắc, nam sông Bến hải gọi là Vùng Phi Quân Sự. Phủ Vĩnh linh bị phân cắt cũng như nước mẹ Việt nam bị chia đôi, Bắc Nam phân ly bất cố lai vãng bởi cái hiệp định oan nghiệt ấy.

Khu phi quân sự nam được Chính phủ Việt nam Cộng hòa thành lập quận Trung lương gồm các làng thuộc tổng Xuân hoà.

Khu phi quân sự bắc gồm các làng thuộc ba tổng Hiền lương, Huỳnh công và Thủy ba, được chính quyền miền Bắc gọi là Khu vực Vĩnh linh.

Trong những ngày đầu đình chiến 01-08-1954, đa số dân chúng ở các làng thuộc các tổng Hiền lương, Thuỷ ba, Hồ xá và một số ít thuộc tổng Huỳnh công di cư vào Nam, để lại một vùng rộng lớn vườn không nhà trống, cảnh tượng như phủ xuống một màn ảm đạm thê lương. Phần đông di dân bắc Vĩnh linh đến định cư ở các địa điểm gần thị xã Quảng trị như La vang chính, La vang trung, La vang tả, La vang hữu, La vang thượng. Một số ít định cư tại An đôn và Mỹ chánh thuộc quận Hải lăng, tỉnh Quảng trị. Riêng Loan lý (Luân lý) định cư tại Lăng cô, cuối chân đèo Hải vân thuộc tỉnh Thừa thiên.

Sau khi đất nước bị chia đôi như vậy, miền Nam chỉ hưởng được cảnh thái bình thịnh trị trong ít năm rồi chiến tranh tái diễn. Từ các vụ khủng bố nhỏ như bắt cóc, ám sát viên chức xã ấp của chính quyền Việt nam Cộng hòa, đốt máy cày, đào đường, phá cầu đến các cuộc gây chiến lớn như đồn Trảng sụp của Trung đoàn 32 thuộc Sư đoàn 21 Bộ binh bị tấn công vào một đêm gần cuối tháng 1 năm 1960, làm thiệt mạng một số quân đồn trú và thất thoát một số vũ khí.

Kể từ đây chiến tranh bộc phát qui mô lớn với việc Bắc Việt xâm nhập khu phi quân sự để chuyển quân và vũ khí vào đánh phá miền Nam Việt nam.

Ðể ngăn chặn nguồn tiếp vận của Bắc Việt vào miền Nam, các phi cơ của Không lực Việt nam Cộng hòa và Hoa kỳ vượt sông Bến hải, oanh kích triệt hạ các căn cứ quân sự Bắc Việt ở bắc vĩ tuyến 17, trong những ngày đầu tháng 2 năm 1965, các cuộc dội bom nhằm vào các căn cứ ở vùng Vĩnh linh, Cửa Tùng, Hồ xá, Chấp lễ và đảo Cồn cỏ, v.v... rồi dần dần tới Quảng khê, Ðồng hới, xóm Bàng thuộc tỉnh Quảng bình.

Ðồng bào ở phía bờ bắc Bến hải thuộc vùng phi quân sự bắc (khu vực Vĩnh linh) được sơ tán ra các tỉnh phía bắc.

Ðồng bào ở phía bờ nam Bến hải thuộc vùng phi quân sự nam (quận Trung lương) phải di tản đến tạm cư ở Hà thanh (Gio linh) và Cam lộ thuộc tỉnh Quảng trị. Rồi còn phải chịu thảm hoạ tan xương nát thịt, những tiếng rên la thảm thiết vọng lên nơi Ðại lộ Kinh hoàng vào mùa hè đỏ lửa 1972.

Toàn phủ Vĩnh linh đã như hoang địa, tang thương như một bãi tha ma mênh mông, rải rác những hố bom sâu như ao nước.

Tháng 5 năm 1975, hòa bình trở lại trên toàn lãnh thồ Việt nam, đồng bào di tản và sơ tán, sau nhiều năm chạy tan tác tả tơi, nay lần lượt trở về làng cũ và bắt đầu dựng lại cơ nghiệp với nhiều gian nan tân khổ.

Nước Việt có hàng trăm phủ huyện, nhưng chỉ phủ Vĩnh linh chịu tai ương khủng khiếp nhất. Nước nhà trải bao nhiêu năm chinh chiến, Vĩnh linh cũng bấy nhiêu năm chiến chinh. Ðất nước bị qua phân hai miền, Vĩnh linh cũng bị chia cắt đôi bờ.

Sau bài Cửa Tùng được đăng trên vài tờ báo, một ít đồng hương ở hải ngoại “Bấy lâu cách trở, nhớ miền cố hương” (T.Hanh) đã muốn biết thêm Vĩnh linh.

Phần sử địa Vĩnh linh được trình bày trong bài nầy chắc có nhiều thiếu sót, bởi lúc thiếu thời tôi chưa có cơ hội tìm biết toàn phủ Vĩnh linh. Sau di cư 1954, nỗi hoài hương canh cánh bên lòng, mong ngày về hưu được rảnh rỗi sẽ đến Văn khố tòa Hành chánh tỉnh Quảng trị truy lục các văn kiện để ghi lại lai lịch phủ Vĩnh linh, các tổng và làng xã qua các thời kỳ, nhưng văn khố tỉnh đã tiêu tan vào mùa hè đỏ lửa 1972, toàn thị xã Quảng trị đã bị san bằng.

Xa Vĩnh linh lúc còn non trẻ, đã qua 53 năm, nay ghi lại ký vãng, Nhớ chi viết nấy.

Montréal, Thu 2007
Nhân kỷ niệm 53 năm Ðất Nước chia đôi.

Thứ Ba, 19 tháng 2, 2008

Bâng Khuâng Nhớ Về Cố Hương: Phủ Vĩnh Linh, Tỉnh Quảng Trị

Theo Việt sử, sau khi thống nhất sơn hà, vua Gia Long vẫn duy trì những khu vực hành chánh lớn như Bắc thành (Bắc bộ), Gia Ðịnh thành (Nam bộ), mỗi khu vực do một Tổng trấn đứng đầu. Ðến thời vua Minh Mạng bãi bỏ các thành, cả nước chia làm 29 tỉnh. Dưới tỉnh chia ra nhiều phủ, huyện, châu, rồi tổng và xã là đơn vị hành chánh nhỏ nhất ở địa phương.

Cũng thời vua Minh Mạng, tỉnh Quảng trị được thành lập năm 1831. Theo tổ chức hành chánh thời bấy giờ, tỉnh Quảng trị có 3 phủ : Vĩnh Linh, Triệu Phong, Hải Lăng và 2 huyện Gio Linh và Cam Lộ.

Thời Ðệ Nhất Cộng hòa, Quảng trị có 6 quận: Gio linh, Cam lộ, Ba lòng, Hải lăng, Triệu phong và Trung lương ( vùng phi quân sự nam ).

Thời Ðệ Nhị Cộng hòa, Quảng trị có 7 quận : Gio linh, Cam lộ, Hướng hóa, Ðồng hà, Hải lăng, Triệu phong và Mai lĩnh, quận này kiêm luôn các phường thuộc thị xã Quảng trị.

Dưới thời Việt nam Cộng hòa không có phủ Vĩnh linh bởi đa phần địa hạt Vĩnh linh nằm về bờ bắc sông Bến hải, bị cắt rời khỏi tỉnh mẹ Quảng trị theo hiệp định Genève 1954, được gọi là Vùng phi quân sự bắc .

Theo Việt sử, phủ Vĩnh linh nguyên là đất của Chiêm thành, mang tên châu Ma linh, được Chế Củ, vua Chiêm thành, dâng cho vua Lý thánh Tông vào năm 1069. Ðến đời vua Lý nhân Tông, năm 1075 đổi thành châu Minh linh.

Phủ Vĩnh linh ở phía bắc tỉnh Quảng trị, bên bờ Ðông hải, có đảo Cồn cỏ án ngữ như một tiền trạm hay tiền đồn quan sát tàu thuyền lưu thông trong hải phận, phía tây dựa lưng vào Trường sơn, nam giáp huyện Gio linh, bắc giáp huyện Lệ thuỷ tỉnh Quảng bình, diện tích 626 km2 với dân số hiện nay 90.000 người phân bố tương đối đều đặn trong 20 xã, phủ lỵ đóng tại Hồ xá.

Dân tâm người Vĩnh linh có vẻ cương trực. Nghe nói xưa kia có một tân khoa phó bảng được bổ Tri huyện Vĩnh linh, được thân phụ căn dặn rằng: Con phải thanh liêm, vì trước đây quan Án sát tỉnh Quảng trị chỉ lấy của dân một con gà chọi (gà đá) mà bị kiện mất chức. Người Vĩnh linh chuộng sự cần kiệm nên con phải thanh liêm .

Thời chữ nho thịnh hành, một số nhà khá giả mở lớp học chữ nho tại nhà, mời thầy đồ đến dạy cho con cháu, các con em trong làng cũng được đến học. Thời chữ quốc ngữ được truyền bá rộng rãi, các nhà thờ Công giáo trong phủ đều mở lớp khai tâm quốc ngữ miễn phí cho tất cả con em trong giáo xứ, ngày học hai buổi sáng chiều, tuần nghỉ hai ngày thứ năm và chủ nhật, do các nữ tu dòng Mến Thánh giá Di loan đến dạy. Chính phủ cũng mở tại mỗi tổng một trường sơ học từ lớp năm đến lớp ba ( lớp1 dến lớp 3 ) và bổ nhiệm các thầy đến dạy. Một số ít người Vĩnh linh có học vị tú tài, cử nhân, thạc sĩ hay tiến sĩ cựu học hay tân học được đào tạo ở trong nước hay ngoại quốc như Pháp, Hoa kỳ, Liên xô cũ, v.v...

Vĩnh linh ruộng ít, đất đỏ bazan nhiều và tốt, cư dân có khuynh hướng dĩ nông vi bản, nông dân chiếm hơn 95%. Các vườn sắn nương khoai bạt ngàn. Nhờ vậy nên những năm mất mùa lúa, sắn khoai tiếp ứng cho đến ngày giáp hạt. Trận đói Ất Dậu 1945, quân xa Nhật bổn đã chở từ xa đâu đó đến Vĩnh linh cả trăm người và họ được cứu đói nhờ khoai sắn Vĩnh linh, cũng như củ khoai tây đã cứu sống người châu Âu thời trung cổ. Ông bà cũng đã để lại lời răn con cháu :

Ðược mùa chớ phụ môn khoai,
Ðến năm thân dậu, lấy ai bạn cùng


Sắn (manioc) có nhiều loại, Vĩnh linh trồng giống sắn Ấn độ, cây thấp, thân mập, năng suất cao, củ lớn và dài, cho nhiều tinh bột được chế biến thành bột lọc (tapioca) để xuất khẩu, nguồn lợi đáng kể của nông dân địa phương.

Vĩnh linh có sông Bến hải dài 59 km, phát xuất từ Trường sơn chảy ra biển qua cửa Tùng. Phía bắc sông nầy có một sông nhỏ cũng từ Trường sơn chảy qua Bến Quan, tới hợp lưu vào sông Bến hải tại Hiền lương. Nơi hợp lưu nầy tạo một ngã ba sông vừa rộng vừa sâu, cắt ngang quốc lộ 1A chạy suốt Bắc Nam. Nơi đây, từ xa xưa đã có đò ngang cho khách bộ hành qua lại tại bến đò Hiền lương. Thời Pháp thuộc, bến đò nầy có thêm phương tiện Phà (bac) để chở xe hơi qua sông. Phà nầy là thuyền gỗ, rộng bề ngang, lòng phẳng, không mui, chuyển vận bằng sức người kéo hai chiếc dây chằng dăng từ bờ bên nầy sang bờ kia. Ðội kéo phà gồm 5 người: 1 cai và 4 phu kéo dây. Sau khi xe hơi đã vào phà, người cai cầm sanh (sênh) gõ nhịp, 4 phu mỗi bên 2 người, ngồi nhoài về phía trước, 2 tay nắm chặt dây chằng.

Cai bắt đầu hò xướng : Ai mà nì !
Phu hò đáp:=Là hò hò khoan!
Lợp miếu thiếu tranh nì ! =Là hò hò khoan !
Lợp đình thiếu ngói nì ! =Là hò hò khoan!
Xây thành thiếu vôi nì ! =Là hò hò khoan!

Mỗi lần phu hò đáp đồng thời kéo mạnh dây, phà lướt tới mỗi lúc càng nhanh cho đến khi cập bến. Cai còn nhiều bài hò khác để trợ hứng cho phu kéo dây thêm hăng hái và nhịp nhàng.

Thời chiến tranh 1946-1954, Công binh Pháp lắp đặt các xà-lan (chaland) làm cầu nổi để đoàn xe tải (convoi) vận chuyển quân lính, quân nhu từ Huế ra Ðồng hới (Quảng bình) được nhanh chóng.

Sau ngày đình chiến 1-8-1954, theo hiệp định Genève, Ủy hội Quốc tế Kiểm soát Ðình chiến thiết lập trạm gác gần cầu Hiền lương và kẻ một đường đỏ ngang giữa cầu làm ranh giới phân cầu làm hai phần nam bắc bất khả thông quan.

Phủ Vĩnh linh nguyên trước có 4 tổng. Tổng (canton) là đơn vị hành chánh gồm nhiều xã. Ðứng đầu tổng là Chánh tổng có Phó tổng phụ giúp. Chánh tổng là nhân vật trung gian giữa Tri phủ và Lý trưởng các làng, nói cách khác, Chánh tổng là viên chức hành chánh trung gian giữa cơ quan Hành chánh Phủ Huyện và ban Hành chánh Xã.

Sau đình chiến 1954, tổng Xuân hòa nằm về phía nam sông Bến hải, trong vùng phi quân sự nam được chính phủ Việt nam Cộng hòa lập thành quận Trung lương. Ba tổng nằm về phía bắc sông Bến hải là tổng Hiền lương, tổng Huỳnh công và tổng Thủy ba đều nằm trong vùng phi quân sự bắc, được chính phủ Bắc Việt gọi là khu vực Vĩnh linh.

- Tổng Xuân hòa:

Ðất ít, ruộng nhiều, mật độ dân số trung bình. Gồm các làng Xuân hòa, Xuân mị, Xuân long, Thủy bạn, Thủy khê, Cẩm phổ, Cát sơn, Cao xá, v.v... Cao xá là quê quán cụ Nguyễn hữu Bài, Thượng thư bộ Lại kiêm bộ Hộ dưới triều vua Khải định. Hai làng Xuân mị và Thủy khê cũng được truyền tụng qua ca dao: “Văn chương Xuân mị, lý sự Thủy khê”.

- Tổng Hiền lương:

Ở về phía đông phủ Vĩnh linh, gồm các làng thuộc vùng Cửa Tùng như : An du đông, An du tây, An du bắc, An du nam, An ninh, Di loan, Vĩnh an, Tùng luật, Cổ trai, Tân trại và Thạch bàn. Tổng Hiền lương được xem như một vùng trù mật, dân cư đông đúc, có chợ mai chợ chiều, trường học, có hải khẩu Cửa Tùng với bãi tắm lý tưởng, phong cảnh đẹp, có sân vận động, phi trường, trạm y tế, nhà máy phát điện. Cửa Tùng là nơi nghỉ mát của các vua cuối triều nhà Nguyễn, các quan chức Pháp, Việt, các đoàn học sinh Lào, v.v... Kinh tế vùng nầy có vẻ phát đạt, sản xuất tơ lụa, muối, tôm hùm, ruốc, mắm, nước mắm, che (trà), hạt tiêu, bột sắn, khoai khô, sắn khô, v.v... (như đã trình bày trước đây trong bài Cửa Tùng).

Cửa Tùng cũng là khu Công giáo sầm uất, có 10 giáo xứ với 10 thánh đường. Theo Việt nam Giáo sử thì Vùng nầy được truyền giáo từ năm 1623, 1624, thời chúa Nguyễn phúc Nguyên (Chúa Sãi) do Các Linh mục người Bồ đào nha, Ý, Pháp và Nhật bổn. Ðặc biệt, trong đó có Linh mục Alexandre de Rhodes (giáo sĩ Ðắc lộ) thuộc dòng Tên đến giảng đạo tại Trung Việt vào cuối năm 1624 và vĩnh biệt rời Việt nam vào năm 1645. Ngài là ân nhân của nền văn hóa Việt nam, có công lớn trong việc tu sửa chữ quốc ngữ trong thời kỳ phôi thai. Trước đó, các Linh mục Thừa sai dòng Tên người Bồ đào nha đã nghĩ ra một số phát âm tiếng Việt viết bằng mẫu tự la-tinh rồi. Cha Ðắc lộ nói thông thạo tiếng Ý, Pháp, Tây ban nha, Ấn độ, Hy lạp, Do thái, Trung hoa và Nhật bổn. Ngài thường lấy các thứ tiếng trên để làm mẫu mực hoặc để so sánh, có mục đích giúp các nhà truyền giáo biết cách đọc các nguyên âm và phụ âm tiếng Việt. Cuốn Tự điển Việt-Bồ-La được cha Ðắc lộ cho xuất bản vào năm 1651, được xem là năm khai sinh chữ quốc ngữ, thứ chữ ban đầu được các nhà truyền giáo sử dụng, sau nầy nước ta đã biến nó thành quốc ngữ Chữ Nước Ta.

Thời nội thuộc Trung hoa, các Thái thú cai trị nước ta đã truyền dạy chữ nho. Ðến khi nước ta được độc lập, chữ nho vẫn được dùng trong công văn, sắc dụ của triều đình, trong thơ văn, sách vở hay trong thư từ, khế ước của tư nhân. Ðến đời vua Trần dụ Tông xuất hiện chữ nôm là thứ chữ dùng nguyên chữ nho rồi thêm bớt chấm, phết hoặc ghép hai ba chữ nho lại để đọc theo tiếng Việt, nhưng bị giới nhà nho quá sùng hán văn thời ấy coi thường. Ngay tại Trung hoa, Chủ tịch Mao trạch Ðông cũng muốn dùng mẫu tự la-tinh để viết ra chữ Tàu, nhưng cũng chưa thực hiện được.

Trung tâm Cửa Tùng cũng là trung tâm tổng Hiền lương, có Tiểu chủng viện (Petit Séminaire) tại làng An ninh, nơi đào tạo linh mục cho giáo phận Huế trong 8 năm đầu, sau đó vào học 6 năm tại Ðại chủng viện Huế rồi mới thụ phong linh mục. Tiểu chủng viện An ninh cũng giúp giáo huấn chủng sinh cho Giáo hội Công giáo Lào và đã được vua Khải Ðịnh đến thăm và ban tặng bức hoành phi bốn đại tự Phụ Thế Trưởng Nhân. Một ít chủng sinh thụ giáo nơi đây, sau nầy nổi danh như Ðức Cha Hồ ngọc Cẩn, Giám mục Giáo phận Bùi chu (Bắc Việt); Ðức Cha Ngô đình Thục, Giám mục Giáo phận Vĩnh long và Tổng Giám mục Tổng Giáo phận Huế; Ðức Cha Lê hữu Từ, Giám mục Giáo phận Phát diệm (Bắc Việt); Ðức Cha Nguyễn văn Hiền, Giám mục Giáo phận Sài gòn và Giáo phận Ðà lạt; Ðức Hồng y Nguyễn văn Thuận, Giám mục Giáo phận Nha trang, Tổng Giám mục phó Tổng Giáo phận Sài gòn, Chủ tịch Hội đồng Giáo hoàng về Công lý và Hòa bình tại tòa thánh Vatican; Ðức Cha Nguyễn như Thể, Tổng Giám mục Tổng Giáo phận Huế; Linh mục Nguyễn hy Thích, Giáo sư Hán văn và Triết học Ðông phương tại các Ðại học Huế, Sài gòn và Ðà lạt; Linh mục Nguyễn văn Lập, Viện trưởng viện Ðại học Ðà lạt. Một ít chủng sinh rời chủng viện, sau nầy dấn thân vào đời cũng xuất chúng, như :

* Ông Nguyễn hữu Bài, Thượng thư bộ Lại kiêm bộ Hộ, sung Cơ mật viện Ðại thần dưới triều vua Khải Ðịnh. Cụ được người đời truyền tụng: ”Ðày vua không Khả, đào mả không Bài” (Năm 1907, Thượng thư Ngô đình Khả phản đối việc lưu đày vua Thành Thái sang đảo Réunion. Năm 1908, Thượng thư Nguyễn hữu Bài đã chống đối kịch liệt Khâm sứ Mahé (Pháp) đòi khai quật mộ vua Tự Ðức để lấy vàng ngọc).
* Ông Ngô đình Nhu, chính trị gia, người đã tận trung tận nghĩa giúp bào huynh của mình (Tổng thống Ngô đình Diệm) bảo vệ chủ quyền Quốc gia và nền độc lập của Nước Nhà.
* Ông Lê quang Tung, cựu Tư lệnh Lực lượng Ðặc biệt của Quân đội Việt nam Cộng hòa, một gương trung can, đã tử trung, không chịu làm tay sai cho ngoại bang.

- Tổng Huỳnh công :

Nằm về phía bắc phủ Vĩnh linh, gồm các làng : Huỳnh công, Liêm công tây, Liêm công đông, Thủy cần, Ðơn duệ, v.v... Vùng nầy dân ít, đất rộng cu bay thẳng cánh. Toàn khu vực đất đỏ bazan phì nhiêu thích hợp với kinh tế vườn như mít, chè (trà), tiêu, cam, bưởi, chanh, chuối, thơm, sắn, môn, khoai, v.v...

Làng Liêm công có một khu rừng gọi là Rú Lịn nơi có nhiều cây Lịn, một loại cây giống tre nhưng thân mềm, ruột rỗng chứa nhiều nước, uống mát và ngọt, một đặc sản ít nơi có. Làng nầy là quê quán của ông Trần công Khanh, một lãnh tụ Việt nam Quốc dân đảng địa phương bị xử tử vào khoảng cuối năm 1945 đầu năm 1946.

Liêm công cũng là quê quán của thầy I-nha-xô (tên thánh, không rõ tên Việt). Theo Việt nam Giáo sử thì Thầy sinh năm 1610, học thức rộng, tinh thông sử ký, được bổ nhiệm một chức vụ tại phủ Tổng trấn, tức dinh ông Hoàng Khê. Ông Hoàng Khê là con bà Minh đức Vương Thái phi, vợ lẽ chúa Nguyễn Hoàng. Năm ba mươi tuổi, Thầy vào đạo Công giáo do cha Ðắc lộ (Alexandre de Rhodes) rửa tội. Hai năm sau, Thầy từ chức quan để nhập đoàn Thầy Giảng của cha Ðắc lộ và được cử làm trưởng đoàn. Sau đó, Thầy bị bắt và bị chém đầu Tử vì đạo, còn bảy người khác bị chặt mỗi người một ngón tay, vào năm 1645, dưới thời chúa Công Thượng Vương.

Làng Thủy cần :

Ðất Thủy cần cũng bát ngát và màu mỡ như đất Liêm công, Huỳnh công, mật độ dân số trung bình. Phía đông làng có một khu rừng ra tận bờ biển, gọi là Rú Thuỷ cần nơi đây có nhiều cu kỳ, một loại chim cu to gấp đôi cu đất, thịt ăn ngon. Khu rừng nầy có nhiều cây máu, loại cây thân gỗ, cao 5, 6 mét trái chứa nhiều dầu gọi là dầu máu, loại thần dược trị thương tích, ghẻ lác ở trâu, bò, ngựa, heo.

Xa khoảng 10 km phía biển đông, có đảo Cồn Cỏ, có lẽ từ thời xa xăm, đảo nầy là phần đất liền với rú Thuỷ cần, nhưng do sự đứt gãy vì động đất, đã tách khỏi đất liền, bởi chim cu kỳ và cây cối trên đảo nầy giống hệt ở rú Thủy cần vậy.

Sát bờ biển Thủy cần có một làng ngư dân gọi là làng Vịnh, các ngư hộ đều ở trong những ngôi nhà thấp lè-tè để tránh bão. Khoảng năm 1940, bị một trận bão lớn càn quét, ông Lý trưởng làng báo trình Tri phủ Vĩnh linh Dạ bẩm quan! làng tui tan nát, chùm-hum không kể, sát giàn bảy mươi (Xiêu không kể, nằm sát đất 70 ngôi nhà). Làng có miếu thờ một bộ xương cá voi, đường kính đốt xương sống lớn khoảng 2 tấc.

(Còn tiếp)

Thứ Tư, 30 tháng 1, 2008

Của Tùng Nỗi Nhớ Không Nguôi (2)

- Làng An ninh: Một làng trung bình về diện tích lãnh thổ lẫn dân số. Người làng An ninh hiền hoà. An ninh được nhiều người biết vì có Tiểu chủng viện cuả Giáo phận Huế đóng lâu đời tại đó. Tiểu chủng viện là nơi đào tạo linh mục trong giai đoạn 8 năm đầu, sau đó vào học ở Đại chủng viện Huế 6 năm rồi mới thụ phong linh mục. Tiểu chủng viện An ninh cũng giúp giáo huấn chủng sinh cho Giáo hội Công giáo Lào. Một ít chủng sinh thụ giáo ở đây sau nầy nổi danh như Đức cha Hồ ngọc Cẩn, Giám mục Giáo phận Bùi chu; Đức cha Ngô đình Thục, Tổng Giám mục Tổng Giáo phận Huế; Đức cha Lê hữu Từ, Giám mục Giáo phận Phát diệm; Đức cha Nguyễn văn Hiền, Giám mục Giáo phận Đà lạt; Đức Hồng y Nguyễn văn Thuận, Chủ tịch Hội đồng Giáo hoàng về Công lý và Hoà bình Toà thánh Vatican; Đức cha Nguyễn như Thể, Tổng Giám mục Tổng Giáo phận Huế; Linh mục Nguyễn hy Thích, giáo sư hán văn và triết học Đông phương tại Đại học Huế, Sài gòn và Đà lạt; Linh mục Nguyễn văn Lập, Viện trưởng viện Đại học Đà lạt.

Tiểu Chủng viện tọa lạc trong một khuôn viên khá rộng, trên 1 mẫu tây (hectare) đất. Trong đó có ba nhà thờ: Nhà thờ chính, Nhà thờ Đức Bà và Nhà thờ thánh An tôn; hai dãy nhà lầu lớn làm nơi học và ở cho giáo sư và chủng sinh, còn có nhà khách, nhà chơi, sân chơi, nhà ăn, nhà bếp và lẫm lúa (kho thóc)...

Tiểu chủng viện An ninh cũng là nơi trú ẩn và bảo vệ giáo dân trong thời kỳ Văn thân giết hại tín đồ Công giáo vào năm 1885.

Nguyên vào thời bấy giờ, tình hình trong nước quá rối loạn: Vua Tự đức băng hà, vua Dục đức lên nối ngôi, làm vua được ba ngày bị truất phế và giam đói cho đến chết; vua Hiệp hoà lên thay, làm vua được bốn tháng mười ngày bị ép uống thuốc độc chết; vua Kiến phước lên ngôi được tám tháng thì chết đột ngột, nghi là bị đầu độc; vua Hàm nghi lên ngôi lúc 12 tuổi. Thời đó, việc triều chính ở Huế đều do hai quan phụ chính là Nguyễn văn Tường và Tôn thất Thuyết định đoạt. Do tình hình căng thẳng giữa triều đình Huế và quan chức Pháp tại Huế, họ áp bức triều đình nộp chiến phí 20.000 thoi vàng, 200.000 thoi bạc, 200.000 quan tiền và có thái độ hống hách với triều đình. Đêm 4 tháng 7 năm 1885, nhân phía Pháp tổ chức tiệc, ông Tôn thất Thuyết đã cho lệnh tấn công, đốt cháy các trại ở tòa Khâm, đánh vào thành Mang cá, một số sĩ quan và binh lính Pháp chết. Đến sáng ngày 5 tháng 7 quân Pháp mới chấn chỉnh lại hàng ngũ và phản công. Hai quan phụ chánh Nguyễn văn Tường và Tôn thất Thuyết thấy thất bại, vội phò vua Hàm Nghi ra Quảng trị. Việc hai ông Tường và Thuyết đánh Pháp, vua chẳng hay biết gì cả. Ông Tôn thất Thuyết sau khi đưa vua Hàm Nghi đến Tân sở, Quảng trị, nhân danh vua ra một chiếu thư kể tội giặc Pháp và hô hào nhân dân cả nước chống Pháp. Chiếu thư nầy được gọi là “Hịch Cần vương” (hết sức cứu viện vua), sau đó ông Tôn thất Thuyết đưa vua ra Quảng bình rồi ông trốn sang Trung hoa, còn ông Nguyễn văn Tường ra đầu thú Pháp.

Hịch Cần vương kêu gọi bình tây sát tả. Bình tây thì chẳng chống được giặc Pháp, còn sát tả thì giết dã man tàn bạo vô số đồng bào ruột thịt theo đạo công giáo trên khắp nước. Hịch Cần vương được nhóm Văn thân, gồm thành phần thư lại, thân hào, hưởng ứng cuồng nhiệt, họ cho người trang bị giáo mác xông vào các làng công giáo vùng Cửa Tùng chém giết không nương tay bất kể nam phụ lão ấu, đốt sạch nhà thờ và nhà giáo dân, vơ vét hết của cải thóc gạo áo quần, làm thịt hay dẫn đi tất cả trâu bò heo gà của giáo dân.

Giáo dân nào may mắn thoát khỏi chém giết thì chạy đến Tiểu chủng viện An ninh, tại đây, họ cùng nhau đào hào đắp lũy chống lại lũ người đang hăm he tấn công cướp của giết người ở Tiểu chủng viện. Toán quân của Văn thân đã mấy lần tấn công bằng hỏa mai đốt phá hàng rào để đột nhập, nhưng lực lượng bên trong kiên quyết cố thủ. Quân tấn công dần dần rút lui.

Tháng 8 năm 1885, vua Đồng Khánh lên ngôi.

Nước đã có vua, trật tự an ninh được vãn hồi, giáo dân trở về nơi ở, giúp nhau chặt cây, cắt tranh làm lại tạm thời nhà ở và nhà thờ, gây dựng lại cơ nghiệp với nhiều lầm than gian khổ trong nhiều năm liên tiếp. Các giáo xứ dần dần ổn định và xây dựng lại cơ sở bằng gạch ngói như nhà thờ, trường giáo lý và khai tâm quốc ngữ,v.v...

Theo tổ chức của Giáo phận Huế thì các giáo xứ vùng Cửa Tùng được gọi là Giáo hạt “Đất Đỏ” gồm có các giáo xứ sau đây: Di loan (Di luân), An ninh, An du tây, An du đông, An bằng, An lễ, An trí, An ngãi, Loan lý (Luân lý) và Hoà ninh. Hằng năm vào tháng 9 dương lịch, Giáo hạt tổ chức kiệu Đức Mẹ Mân-côi tại nhà thờ An ninh. Đoàn rước dài hàng cây số, thiếu nhi tung hoa, cờ phướn rợp trời, chuông đổ hồi, trống đại điểm nhịp, trống cà-rầng rập ràng như một bản nhạc tuyệt vời trổi lên giữa tiếng cầu kinh của hàng ngàn giáo dân.

Đầu làng Vĩnh an có một ngôi chùa cổ, một vị tăng già trụ trì. Xóm nhà ở gần chùa gọi là xóm Chùa.

Các làng An du đông, An du nam, Tân trại, Cổ trai đều có đình thờ Thành hoàng và có tự điền, hằng năm thu hoa lợi ở đó mà lo việc tế Kỳ Phúc xuân thu nhị kỳ và giỗ Khai khẩn. Dịp nầy đình làng trở nên náo nhiệt, cờ quạt phất phới, các chức sắc mặc áo rộng xanh xướng lễ trước hương án, chiêng trống rộn rã, tiếng sáo hoà đờn cò các bản cổ nhạc nam ai nam bình trầm bổng. Khi lễ tất, dân làng yến tiệc rất vui vẻ.

Người Cửa Tùng hiền hoà, tiếng nói mang đặc điểm thổ ngữ miền bắc Trung phần Việt nam (Thanh hoá, Nghệ an, Hà tĩnh, Quảng bình, Quảng trị, Thừa thiên). Có một số ngữ ngôn cổ xưa như : ả (chị), cụ mự (cậu mợ), cơn (cây), cấy giôông (vợ chồng), cươi (sân), nác chiếng (nước giếng), ló chôống (lúa giống), eng ả (anh chị), nghin ngái (gần xa), ôông mụ (ông bà), roọng (ruộng), v.v...

Một mẫu đối thoại:

-Mùa ni tui có làm thêm một trào roọng, eng có ló chôống khôông, để cho tui ít thúng. (Mùa này tôi có làm thêm một sào ruộng, anh có lúa giống không, để cho tôi ít thúng).
-Eng qua bên cụ mự tui. (Anh qua bên cậu mợ tôi.)
-Từ đay qua đó nghin ngái (Từ đây qua đó xa gần)
-Đứng đay ngó chộ nị (Đứng đây trông thấy mà).

Từ ngõ ngách trong các thôn xóm, thỉnh thoảng vọng lên giọng hát khoan thai, dịu dàng, truyền cảm của bà ru cháu, mẹ ru con theo điệu dân ca Bình Trị Thiên:

Ơ! à! ơ! chàng về thiếp một theo mây. Ơ! à! ơ! con thơ (mà) để lại Ơ! à! ơ! chốn nầy ai nuôi.
Ơ! à! ơ! chàng về thì đục cũng về, ơ! à! ơ! dùi cui ở lại, ơ! à! ơ! làm nghề chi đây?
Ơ! à! ơ! gió đưa cây cải về trời. Ơ! à! ơ! cây rau răm ở lại, Ơ! à! ơ! chịu lời đắng cay.
Ơ! à! ơ! Ru em! ơ! à! ơ! em théc cho muồi, ơ! à! ơ! để mẹ đi chợ, ơ! à! ơ! mua vôi ăn trầu. Ơ! à! ơ! mua vôi thì mua chợ Quán chợ Cầu, ớ à! ơ! mua cau Nam phổ, ơ! à! ơ! mua trầu chợ Dinh.. Chợ Dinh bán áo con trai, ơ! à! ơ! Mậu sơn bán vải, ơ! à! ơ! Mậu tài bán kim. Ơ! à! ơ! kim xa kim ở bên Tàu, chỉ xa Hà nội, ơ! à! ơ! gặp nhau tình cờ. Tình cờ mà đáng nhân duyên, ơ! à! ơ! những nơi kết vấn thề nguyền bỏ đi,v.v...

Nơi thôn lương hiền hoà yên tĩnh ấy vẫn có những hoạt động chính trị âm thầm len lỏi trong dân chúng dưới thời Pháp thuộc. Một ít thân hào nhân sĩ địa phương kín đáo ủng hộ các nhà ái quốc Phan bội Châu, Ngô đình Diệm và thỉnh thoảng bàn tán về Việt nam Quốc dân đảng. Cũng có một vài ông người Nghệ an, hoạt động chính trị, bị mật thám Pháp tầm nả, trốn đến Cửa Tùng, xin nhập làng An du bắc, đổi tên và cải họ Nguyễn.

Một sáng mùa thu năm 1941, một lá cờ đỏ có hình búa liềm được treo trên một cây tre dài 3,4 mét cắm tại sân máy bay Cửa Tùng. Xã địa phương báo phủ Vĩnh linh, Phủ cho một thầy Ký về cùng với địa phương lập biên bản và hạ cờ. Kể từ đó, chính quyền cho lệnh mỗi làng phải lập điếm canh, cắt đinh tráng (đàn ông khỏe mạnh) tổ chức toán “Tuần đinh” trang bị bằng gậy gộc và dây buộc, hằng đêm tuần tiểu trong làng để giữ an ninh trật tự.

Một đêm hè năm 1942, toán “Tuần kiểm” của phủ Vĩnh linh gồm năm sáu người do thầy Ba dẫn đầu, tất cả đều đi bằng xe đạp, khi đến địa phận làng An du bắc vào khoảng 9 giờ tối, trăng sáng lờ mờ, toán Tuần đinh đang đứng ở điếm canh nhìn thấy biết là toán Tuần kiểm của Phủ, Tuần đinh hô to “Ai đó, đứng lại” Toán Tuần kiểm khinh thường, tiếp tục đạp xe đi, Tuần đinh liền dùng gậy thọc bánh xe, Tuần kiểm xuống xe dùng roi da bò đánh Tuần đinh, Tuần đinh dùng gậy phang đầu Tuần kiểm, hai bên cận chiến vật lộn nhau, rồi mõ làng đánh gấp ngũ liên, chuông nhà thờ đổ hồi, dân chúng kéo tới hỗ trợ Tuần đinh đánh toán Tuần kiểm một trận nhừ tử. Kể từ đó, cơ quan phủ huyện bớt thói hống hách với nhân dân địa phương.

Tuy ở gần biển nhưng chỉ độ 5% cư dân sống theo ngư nghiệp. Vùng Cửa Tùng ruộng ít đất nhiều, đại đa số dân chúng theo nông nghiệp. Một số sản phẩm được xuất bán các nơi khác như: muối ăn, nước mắm, ruốc, cá, tôm hùm, mực khô, chè (trà) khô, hạt tiêu, tơ lụa, nón lá, tơi lá, khoai sắn khô, các đồ bằng mây tre,v.v...

Có hai loại tiền tệ lưu hành song song trên thị trường địa phương: Tiền đồng hình tròn giữa có lỗ vuông, một mặt trơn, mặt khác có bốn chữ hán, do vua phát hành, như: tiền Gia long, tiền Minh mạng, tiền Tự đức... Tiền đồng phát hành lần chót ghi năm phát hành là “Bảo đại nguyên niên”. Lưu hành song song với tiền đồng là Giấy bạc Đông dương (dùng chung cho ba nước Việt Miên Lào) do Chính phủ Bảo hộ Pháp phát hành. Bạc giấy Đông dương ngày càng mất giá nên dân chúng thích lưu trữ tiền đồng cho đến ngày 1 tháng 8 năm 1954, ngày di cư vào Nam.

Cách mạng tháng 8 năm 1945: một số người không rõ xuất phát từ làng nào, trang bị bằng gậy gộc, tới chiếm Nhà Dây thép (Bưu điện), Đồn Lính tập (lính khố xanh), cờ đỏ sao vàng cũng đồng thời xuất hiện tại hai nơi nầy. Mấy ngày sau, một cuộc mít-tinh (meeting) được tổ chức tại sân vận động Cửa Tùng, dân chúng tham dự khá đông, ba bốn cán bộ đứng trên ghế gỗ, tay cầm loa thông báo “Bảo đại thoái vị ... chống thực dân Pháp và quân phiệt Nhật ... giành chánh quyền lại cho nhân dân... Từ nay nước ta độc lập dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch Hồ chí Minh .... Tha hẳn thuế thân.... Khi nghe tuyên bố “Tha hẳn thuế thân” dân chúng hoan hô nhiệt liệt, bởi “Thuế thân” là loại thuế mà tất cả đàn ông đến tuổi, phải đóng hằng năm cho Chính quyền Bảo hộ Pháp, ai không đóng sẽ bị hình phạt kềm kẹp tay chân đau khủng khiếp.

Sau khi giành được độc lập, trong tiến trình tiến tới thể chế dân chủ, các chính đảng công khai hoạt động, gây ảnh hưởng lôi cuốn nhân dân bầu cho người của đảng phái mình vào quốc hội để có tiếng nói bày tỏ lập trường góp phần xây dựng đất nước. Trong tinh thần đó, Liên đoàn Công giáo cũng được thành lập với khối giáo dân Công giáo hạt Đất Đỏ. Một Ban Chấp hành Liên đoàn Giáo hạt được bầu ra để điều hành công việc.

* Cửa Tùng trong chiến tranh 1945-1954 :

Trước khi quân Pháp tái chiếm Cửa Tùng, Uỷ ban Hành chánh Kháng chiến phủ Vĩnh linh cho lệnh đập phá toàn bộ cơ quan và nhà cửa của người Pháp, đốn sạch rừng dương liễu quanh bãi tắm và phi trường Cửa Tùng, đào hào ngang dọc giữa sân bay để không cho máy bay đáp, cắm nhiều cây tre vạt nhọn trên sân bay để đề phóng quân nhảy dù, đào lỗ dọc theo bờ biển đặt ống tre lớn hướng mũi ra biển ngụy tạo súng đại bác để đánh lừa tàu chiến Pháp đang đậu ngoài biển.

Đầu năm 1947, quân bộ Pháp từ Đồng hà tới Cửa Tùng không có tiếng súng giao tranh, thỉnh thoảng điểm vài tiếng hải pháo từ tàu thủy bắn vào. Bộ đội Pháp đóng 2 đồn, 1 tại làng Tân trại và 1 tại làng Vĩnh an, ngay trên hải khẩu, cạnh nhà Thừa lương của vua Bảo đại.

Dần dần chánh quyền lâm thời địa phương được thành lập, các chánh phó tổng và hương lý chế độ quân chủ cũ trở lại làm việc. Lúc nầy đời sống yên ổn, kinh tế thịnh vượng , xe hàng mỗi tuần vài chuyến CửaTùng - Đồnghà - Huế. Trường An du được xây mới mang tên trường “Tiểu học An du” với 5 lớp (từ lớp năm đến lớp nhất), Nữ tu viện Di loan cũng mở một trường Tiểu học tại đầu làng Vĩnh an. Chợ Do chợ Cựa họp đông đúc. Đình làng chiêng trống cờ quạt tiệc tùng linh đình sôi nổi náo nhiệt mỗi lần tế Kỳ phúc cầu quốc thái dân an. Ba ngày tết mở hội “Bài chòi” tại chợ Do, nghe hô “Ông Ầm, Ông Rún” ồn ào, ai tới thì gõ mõ, đốt pháo, nhắp rượu và lãnh thưởng. Mùa hè có cuộc đấu võ giữa các võ sinh 2 lò của 2 võ sư, 1 của ông Túy (Di loan) và 1 của ông Hiếu (Tùng luật). Nghe các Cụ nói vào thập niên 1920-1930 có ông Nguyễn văn Bổn, người làng An du bắc, giáo xứ Hoà ninh, là người võ nghệ cao cường, ông có mở lò dạy võ và thanh trừng bọn cướp trong vùng.

Cảnh thái bình chỉ ngắn ngủi vài năm trong thời gian lực lượng Việt minh rút vào mật khu để kháng chiến chống Pháp.

Kể từ mùa thu năm 1949 tình hình an ninh trở nên bất ổn. Khởi đầu với vụ ông Chánh tổng bị giết ngay tại sân nhà ở làng An du nam. Một thời gian sau, một số thân hào làng An du bắc bị bắt mất tích, ông Lý trưởng (Xã trưởng) làng An du nam bị ám sát. Kể từ đây, các Cán bộ của Liên đoàn Công giáo, Chánh Phó tổng, Hương lý và các nhân sĩ trong vùng đều đi ngủ chui ở nhà bà con hay bạn bè để tránh khỏi bị bắt cóc hay ám sát. Về phía Cán bộ Việt minh cũng bị đồn Pháp bắt giết như anh Đinh (làng Tùng luật), ông Thuận (làng An du nam), ông Mậu (Giáo xứ An bằng), ông Diêm (làng An du đông).

Một buổi sáng mùa hè năm 1949, một toán tuần tiểu của đồn Cửa Tùng do một sĩ quan Pháp chỉ huy với 10 lính người Việt, bị phục kích tại sân banh Tiểu chủng viện An ninh. Mấy người lính chạy thoát được vào làng An ninh, còn vị Sĩ quan Pháp bị thương được quân phục kích băng bó và đem gửi trong Tiểu chủng viện. Đêm đó, họ tấn công đồn Cửa Tùng nhưng không chiếm được. Sáng hôm sau, viện binh Pháp giải tỏa áp lực địch và đưa sĩ quan bị thương đi bệnh viện.

Tình hình an ninh ngày càng bất ổn, dân chúng sống trong lo sợ dưới áp lực của 2 phía, ngày thì lính Pháp, đêm thì Việt minh.

Do nhu cầu chiến sự, quân bộ Pháp rút lính các đồn để thành lập các đơn vị lưu động, hai đồn Cửa Tùng và Tân trại được giao cho Bảo vệ quân Việt nam trấn giữ. Các làng Công giáo cũng tổ chức “Đoàn Hương vệ” trang bị bằng súng trường mousqueton và lựu đạn, xây đồn đắp lũy để tự bảo vệ xóm làng. Nhờ vậy xóm làng được yên ổn và vùng Cửa Tùng trở thành nơi tạm gọi là an toàn, giúp cho những người ở ngoài vùng đang lo sợ đến tính mạng đến đây ẩn náu. (Một chút hồi tưởng: Năm 1885, khi quân của Văn thân chém giết dã man đồng bào theo đạo Công giáo, một số giáo dân đã chạy đến các làng lương và được các người lương che chở khỏi bị sát hại. Thảm cảnh giết tróc lại tái diễn với chu kỳ 60 năm (1885-1945), các biến cố chính trị xảy đến, một số anh em bên lương cũng đã đến ẩn náu trong các gia đình ở khu vực Công giáo để được bảo toàn tính mạng).

. Hiệp định Genève: Nỗi đau của Đất Nước, Nỗi niềm của Di Dân:

Sau khi chiếm được Trung quốc, Chính phủ Bắc kinh viện trợ ồ-ạt cho bộ đội Việt minh chống Pháp. Tình hình chiến sự trở nên khốc liệt. Do áp lực quốc tế, cả hai phía Pháp và Việt minh đều muốn chấm dứt chiến tranh và giải quyết vấn đề Việt nam theo phương cách hoà bình. Một cuộc họp tứ cường gồm Anh, Pháp, Mỹ và Liên xô ngày 18-2-1954 đã đưa ra quyết định mở hội nghị Genève vào ngày 26-4-1954 để giải quyết vấn đề
Triều tiên và Đông dương trong hoà bình.

Để gây áp lực tại hội nghị, Việt minh tấn công mạnh, Điện biên phủ thất thủ vào ngày 7-5-1954. Ngày 26-5-1954, Pháp và Việt minh đồng ý ngưng bắn và rút quân về các khu chỉ định.

Tại hội nghị Genève, Pháp và Việt minh đồng ý chia cắt lãnh thổ Việt nam. Phía Việt minh đòi chia ở vĩ tuyến 13 (sông Đà Rằng, Tuy hoà), sau đó đòi chia ở vĩ tuyến 16 (Đà nẵng). Ngày 12-7-1954, Thủ tướng Trung hoa Chu ân Lai và Thủ tướng Pháp Mendès France thỏa thuận lấy vĩ tuyến 17 (sông Bến hải, bắc Quảng trị) và ngưng bắn theo lịch trình như sau :

27-7-1954 : ngưng bắn tại Bắc Việt.
01-8-1954 : ngưng bắn tại Trung Việt.
11-8-1954 : ngưng bắn tại Nam Việt.
(Theo tài liệu Hiệp định Genève)

Thời bấy giờ thiếu phương tiện thông tin nên đa số người Cửa Tùng không hay biết gì về Hội nghị Genève và Hiệp định Đình chiến.

Việc di cư đã đến với dân chúng quá đột ngột. Thoạt tiên, có tin cụ Ngô (Ngô đình Diệm) về nước chấp chánh. Giới thân hào nhân sĩ và hương lý lâu nay ngưỡng mộ cụ Ngô, mặt khác, vì sợ Việt minh, nên dự định di cư cá nhân hay gia đình, để tài sản lại cho bà con, bạn thân, xóm giềng... Họ chưa kịp thực hiện dự tính ấy thì có tin hai đồn Cửa Tùng và Tân trại rút, các đoàn Hương vệ giải tán, giao nộp vũ khí cho đồn Cửa Tùng. Dân chúng hoang mang, dao động và cảm thấy sợ hãi. Các Linh mục trong hạt cũng muốn cho giáo dân có được cuộc sống yên ổn trong một xã hội an bình, tự do nên cũng giúp hướng dẫn giáo dân di cư vào Nam.

Di dân ra đi trong thương tiếc quê hương làng xã, nhà cửa, vườn tược, ruộng đất, mồ mã tổ tiên, thánh đường, đình chùa, lăng miếu, trường học,v.v... Qua nhiều trăm năm kiến công lập nghiệp của tiền nhân, nay đành chịu bỏ đi.

Năm 1558, Tổ Tiên người Cửa Tùng đã lìa bỏ quê hương Thanh hoá, Nghệ an, theo chúa Nguyễn di cư xuống phía nam đến định cư tại Quảng trị để tránh một cuộc chiến tranh kéo dài trên 50 năm giữa Bắc triều của nhà Mạc vùng Bắc bộ và Nam triều của chúa Trịnh từ Thanh hoá trở vào. Đây là một cuộc nội chiến ác liệt giữa hai tập đoàn phong kiến, nạn nhân trực tiếp của cuộc nội chiến ấy là nhân dân, cả hai phe dùng mọi thủ đoạn vơ vét nhân, tài, vật lực của nhân dân để phục vụ cho chiến tranh.

Năm 1954, người Cửa Tùng cũng rời bỏ quê hương đi về phía nam để tìm một cuộc sống an bình, tự do và dân chủ.

Đoàn di dân đầu tiên khởi hành ngày 01 tháng 8 năm 1954 (nhằm ngày 3 tháng 7 năm Giáp ngọ) là ngày ngưng bắn tại Trung Việt. Các đoàn khác đi vào các ngày kế tiếp. Đa số di dân đều chọn định cư ở những vùng đất gần thị xã Quảng trị như An đôn, La vang chính, La vang trung, La vang tả, La vang hữu, La vang thượng. Các làng di cư nầy, một lần nữa, phải di tản vì chiến sự “Mùa hè đỏ lửa 1972” và phân tán đến nhiều địa phương khác trên lãnh thổ miền Nam nước ta và sau biến cố tháng 4 năm 1975, nhiều người gốc Cửa Tùng đã đến định cư tại nhiều nước trên thế giới như Hoa kỳ, Canada, Úc, Tân tây lan, Pháp, Nhật, Anh, Đức, Ý, Hoà lan, Thụy điển, Đan mạch... Riêng giáo xứ Loan lý (Luân lý) được linh mục Phan văn Cơ hướng dẫn đến định cư tại Lăng-cô, dọc quốc lộ 1, trên một vùng cát trắng ven biển, gần chân đèo Hải vân tỉnh Thừa thiên. Giáo xứ Loan lý vẫn tồn tại trọn vẹn cùng với kỷ vật “Quả chuông đồng và Bàn thờ cổ chạm trổ rất công phu” được giáo dân đem từ Cửa Tùng vào. Hiện nay, một ngôi thánh đường khang trang vừa được xây xong thay cho ngôi nhà thờ cũ. Nay toàn xã Lăng cô đã trở thành “Thị trấn Lăng cô”, có điện, khu du lịch, bãi tắm, khách sạn, phòng trọ, cửa hàng, tiệm vàng, tiệm thuốc tây, hãng nước đá, chợ, trường học... Con đường hầm xuyên đèo Hải vân nối liền Đà nẳng - Lăng cô - cảng Chân mây giúp kinh tế địa phương phát triển.

Tất cả người Cửa Tùng ở lại (không di cư) đều phải sơ tán đến các tỉnh Quảng bình, Hà tĩnh, Nghệ an để tránh bom đạn thời chiến và hồi cư sau khi hoà bình đã vãn hồi trên toàn lãnh thổ Việt nam. Tất cả 10 nhà thờ của 10 giáo xứ và các đình, chùa, tu viện, tiểu chủng viện đều bị bom san bằng.

Tháng 5 năm 1989, trở về thăm quê cũ, Cửa Tùng còn đậm nét thê lương.

Mùa thu năm 2004, đúng 50 năm xa quê, tôi trở về thăm cố hương lần nữa, Cửa Tùng đã hồi sinh, tuy chưa bằng thuở trước nhưng sức sống đang vươn lên với nhiều triển vọng. Xe đưa tôi từ Huế, Đồng hà, Gio linh, xuống Ba dốc, qua cầu Bến hải, rẽ phải vào tỉnh lộ, qua làng Liêm công đến hết làng Tân trại có dựng một bảng lớn “Làng An du nam”, đi tiếp đến ngã ba vào chợ Do cũ, cũng dựng một bảng lớn “Làng An du đông”, vườn Tiểu chủng viện An ninh nay được chia lô làm nhà ở, vùng đất đỏ Hoà-ninh Di-loan, vườn mít, chè, tiêu, cam, quít, chuối...xanh tốt. Tại vườn nhà thờ Di loan, một ngôi trường học 2 gian mới xây, tường gạch mái ngói, cửa lá sách sơn nâu, mái hiên đúc với hàng chữ nổi “Trường Mầm non Di loan”. Đi tiếp về phía Loan lý cũ, người sơ tán hồi cư nay đã xây nhà gạch, vườn tược xanh tươi. Gần bờ biển, một số nhà gạch mái ngói ẩn khuất trong những vườn cây lưu niên. Sát bãi biển, năm sáu quán ăn với thực đơn đặc sản Cửa Tùng như tôm hùm, mực cơm, mực nang, mực thước, cá mú .....

Du khách ngồi ăn chỉ cách bờ sóng vỗ vài chục thước, những làn sóng bạc đầu từ xa cuốn vào bờ, tỏa nhẹ lên bãi cát trắng mịn tạo âm thanh “ầm ầm”, hơi nước bốc lên tựa làn sương mỏng quyện với gió lùa vào phòng ăn, thực khách cảm thấy mát rượi, thoải mái và ngon miệng.

Biết bao giờ Cửa Tùng lấy lại phong độ ngày trước, ngày mà Cửa Tùng được xem là thắng địa thắng cảnh của Đất Nước, là vùng trù phú trù mật của Vĩnh linh.

Cụ Thượng thư Nguyễn hữu Bài đã đề cảnh Cửa Tùng qua bài thơ sau đây:

Hóng mát chiều hôm dạo cảnh chơi,
Trông vào bãi cát, ngó ra khơi.
Núi bông trắng xát bao Cồn Hến,
Hòn Cỏ xanh dờn thẳng Trôốc Voi.
Phất phưởng đầu gành hơi gió thổi,
Long lanh mặt nước bóng trăng soi.
Hỏi thăm ông Tạo khi nào rảnh
Lấp biển, dời non dễ thử coi.

Cố Bác sĩ Phan văn Hy đến thưởng ngoạn Cửa Tùng năm 1936 đã cảm đề bài thơ “Vịnh Cửa Tùng” như sau:

Qua Cửa Tùng chơi bóng xế chiều,
Cảnh Thừa lương trước ngó buồn thiu.
Năm xưa Bến Ngự đôi gềnh đá,
Dấu cũ sân chầu mấy cụm rêu.
Quyên gọi luống đau lòng cố quốc,
Tùng reo như nhắc chuyện Tiền Triều.
Cuộc đời dâu bể nhìn thêm ngán,
Nhớ Chúa thương ai ruột chín chiều.

Tôi xót xa mỗi lần hoài cảm cố hương và càng xót xa hơn, lòng rạo rực bâng khuâng nhớ cảnh nhớ người, khi viết về Cửa Tùng.

Canada/Montréal, ngày 01-01-2006

Thứ Sáu, 18 tháng 1, 2008

Cửa Tùng Nỗi Nhớ Không Nguôi



Cửa Tùng là hải khẩu sông Bến hải, con sông mang dấu ấn tang thương của đất nước. Tôi rời Cửa Tùng đã trên nửa thế kỷ mà nỗi nhớ vẫn không nguôi, lòng cứ bâng khuâng nhớ cảnh nhớ người, bởi nơi đây là “Quê Cha Đất Tổ”, nơi Tổ Tiên tôi cùng các vị đồng bối, hưởng ứng công cuộc di dân của chúa Nguyễn Hoàng, đã đến đây lập nghiệp. Các bậc tiền bối, qua nhiều thế hệ nối tiếp nhau khai sơn phá thạch biến hoang địa thành vùng đất phì nhiêu và cửa Tùng trở nên chốn “Thanh phong lưu thủy”, một hải ngạn đẹp đẽ được người đương thời so sánh “nhất Đồ sơn, nhì Cửa Tùng”. Thi sĩ Đông Hồ khi tả cảnh Hà tiên đã nhắc đến Cửa Tùng “...có một ít Đồ sơn, Cửa Tùng, một ít Nha trang, Long hải...”.

Theo Việt sử, vùng đất Cửa Tùng nguyên là lãnh thổ của nước Chiêm thành. Vì quân Chiêm hay quấy nhiễu nước ta nên năm 1069 vua Lý Thánh Tông thân chinh đi đánh Chiêm thành, bắt được vua Chiêm là Chế Củ. Chế Củ xin dâng ba châu để chuộc tội là châu Địa lý, châu Bố chính và châu Ma linh. Ba châu ấy nay thuộc địa hạt tỉnh Quảng bình và một phần phía bắc tỉnh Quảng trị. Năm 1075, vua Lý Nhân Tông sai ông Lý Thường Kiệt vẽ lại họa đồ hình thể sông núi của ba châu và đổi tên châu Địa lý thành châu Lâm bình, châu Bố chính vẫn giữ nguyên tên cũ và châu Ma linh đổi thành châu Minh linh, rồi chiêu mộ di dân sang ở.

Theo Cương Mục Chính Biên thì châu Địa lý là phần đất huyện Quảng ninh, châu Bố chính là phần đất thuộc các huyện Bố trạch, Quảng trạch và Tuyên đức thuộc tỉnh Quảng Bình, còn châu Ma linh là phần đất toàn phủ Vĩnh linh và một phần phía bắc huyện Gio linh, tỉnh Quảng trị.

Như vậy, Cửa Tùng, phần đất phía đông bắc của phủ Vĩnh linh được sáp nhập vào lãnh thổ Việt nam kể từ năm 1069, năm mà Chế Củ xin dâng ba châu để chuộc tội.

Chủ trương của vua Lý Nhân Tông chiêu mộ di dân sang lập nghiệp vùng ba châu đã mở đầu công cuộc Nam tiến của nước ta. Tuy ban đầu, người Việt còn dè dặt trong việc di cư xuống phía Nam vì e ngại người Chiêm quấy nhiễu, trả thù, nhưng dần dần lãnh thổ phía nam nước ta bành trướng đến đèo Hải vân, rồi đến Quảng nam, Quảng ngãi..., người Việt phía Bắc mới an tâm đến lập nghiệp ở phía Nam.

Năm 1558 (Mậu ngọ), đời vua Anh Tông, chúa Nguyễn Hoàng vào trấn đất Thuận hoá, đóng ở Ái-Tử tỉnh Quảng trị. Bấy giờ những người họ hàng với chúa Nguyễn ở huyện Tống sơn tỉnh Thanh hoá và những quân binh ở Thanh hoá Nghệ an và gia đình họ cùng đi theo chúa Nguyễn. Đợt di dân nầy được xem là đông đúc. Những đợt di dân tiếp theo trong nhiều năm sau đã tăng dân số trong vùng được gọi là “Đàng Trong” từ sông Gianh trở vào thuộc quyền cai trị của chúa Nguyễn. Qua hàng trăm năm các đời vua nối tiếp nhau cho đến cuối triều nhà Nguyễn, ngày vua Bảo Đại thoái vị (29-8-1945), thì vùng Cửa Tùng gồm có các làng xã sau đây:

Đại xã An du gồm có bốn làng : An du Đông, An du Tây, An du Bắc, An du Nam, làng Di loan (Di luân), làng An ninh, làng Vĩnh an, làng Tân trại, làng Cổ trai và làng Tùng luật thuộc tổng Hiền lương, phủ Vĩnh linh, tỉnh Quảng trị.

Cửa Tùng là nơi sông Bến hải chảy ra biển. Con sông nầy phát xuất từ dãy Trường sơn, dài 59 km, diện tích lưu vực 936 km2. Đoạn nguồn mang tên “Ben Hai” một tên gọi của người Thượng địa phương. Khúc sông nầy dài nhưng hẹp và cạn, có nơi có thể lội bộ qua được, nhưng khi chảy đến bến đò Hiền lương (cầu Bến hải) được một phụ lưu khác hợp lưu, chảy vào địa phận tổng Hiền lương nên được gọi là sông Hiền lương, vừa rộng vừa sâu, chảy qua các làng Thuỷ khê, Cẩm phổ, Xuân mị, Cát sơn phía bờ nam và làng Tùng luật, Di loan, Vĩnh an phía bờ bắc rồi chảy ra biển.

Hải khẩu cửa Tùng nguyên thuộc địa phận một phường của làng Tùng luật, người địa phương gọi là làng Tùng, cửa biển gọi là cửa Tùng. Vào khoảng năm 1915-1920, phường nói trên được xuất làng mang tên là làng Vĩnh an. Dân cư trong làng sống chen chúc trên một đoạn bờ bắc cạnh cửa biển. Sát cửa biển, mặt tiền làng Vĩnh an, một ngôi chợ nhóm vào buổi chiều gọi là chợ Hôm hay chợ Cựa (Cửa). Chợ gồm mấy dãy quán tranh, sạp tre, bán các loại hải sản như cá, tôm, cua ... của các thuyền câu cập bến sau một ngày ra khơi. Cạnh chợ có mấy nhà gạch, một tiệm thuốc bắc, một tiệm hớt tóc và một tiệm may. Khu vực chợ Cựa ban mai mang bầu khí tịch mịch nơi thôn dã, đến xế chiều, thuyền câu đổ bến và họp chợ mang lại cảnh tấp nập huyên náo, trên bến dưới thuyền chen chúc nhau mua bán vội vàng vì chợ tan trước lúc mặt trời lặn.

Hằng năm, hai mùa xuân hạ, sóng êm biển lặng, các thương thuyền cũng cập bến để thu mua các loại sản phẩm như khoai khô, sắn khô, chè (trà) khô gọi là chè Tùng, cá khô, mực khô, hạt tiêu...

Xa về phía bắc chợ Cựa, một vùng đá khá rộng chạy từ bờ đất doi ra biển. Mỏm đá nầy tạo cảnh quang cho cửa biển thêm đẹp nhưng cũng là mối nguy cho thuyền bè có thể bị vỡ khi vào cửa gặp lúc bão lụt sóng to gió lớn.

Cách mỏm đá nói trên vài cây số về phía bắc, một dàn đá khác lớn gấp ba, nhô ra biển. Sóng biển nhấp nhô len lỏi trong các gềnh đá phủ đầy rong, một vài loại hải sản như đỉa biển (hải sâm), cua, còng ở vùng cạn, còn vùng cao, mặt đá phẳng lì, người địa phương chia ô, cô nước biển thành nước muối, sau đó chế thành muối ăn.

Giữa hai vùng đá nói trên là một eo biển, gọi là Bãi Eo hay “Bãi Tắm Cửa Tùng”, cong hình trăng non với bãi cát trắng mịn, dài trên 1 km rộng độ 100 mét, với hai đường xe song song theo độ cong của bờ đất. Bãi Eo là một bãi tắm lý tưởng bởi đáy biển thoai thoải, cát mịn, nước trong, mùa hè mặt biển gợn sóng lăn tăn, gió nồm hiu hiu thổi từ biển vào rừng dương liễu bọc quanh bờ bãi tắm nghe vi vu như tiếng sáo trúc trầm bổng vang vọng trong cảnh yên hà tịch mịch.

Phía bắc bãi Eo độ 2 km, một mỏm đá vôi doi ra biển trông xa như đầu con voi, người địa phương gọi là “trôốc voi”, danh từ địa lý gọi là “Mũi Lài”, người Pháp gọi là “Cap Lay”.

Xa xa phía biển đông có cù lao “Cồn Cỏ” thấp thoáng in hình trên mặt biển. Tương truyền rằng : ngày xưa có ông “Thồ lồ” (khổng lồ) gánh đất từ dãy Trường sơn về lấp biển, bị gảy đòn gánh nên một đầu bị đổ ra biển đông nay gọi là đảo Cồn Cỏ và đầu kia đổ ở làng Hồ xá, nay là núi “Lò Reng”

Phía tây bãi tắm là sườn dốc cao với rừng dương liễu dày đặc xanh rì, cao vút, tiếng reo vi vu hoà quyện với gíó biển tạo âm hưởng vọng lên khắp vùng hải ngạn.

Hết dốc cao đến vùng bình địa đất đỏ bazan, loại đất thích hợp trong kinh tế vườn với các loại cây mít, chè, thơm, chanh, cam, quít, bưởi, cau, tiêu, sắn, khoai, chuối v.v...

Giữa hai đường cái quan song song dọc bờ đất hình cánh cung, nhiều nhà cửa, nhà hàng, biệt thự của người Pháp, các cơ quan như nhà Dây thép (Bưu điện), Nhà thương (Trạm y tế), Đồn lính tập (Lính khố xanh), Nhà máy đèn (Nhà máy phát điện) và nhà Thừa Lương (Nhà hóng mát) của các vua cuối đời nhà Nguyễn.

Tuy là nhà Thừa lương của vua nhưng chẳng phải “lầu son gác tía” hay “Lầu đãi nguyệt đứng ngồi dạ vũ, gác thừa lương thức ngủ thu phong”(CgO), mà là một ngôi nhà khá to, lợp tranh, đóng lát bằng gỗ mang dáng uy nghiêm. Nơi đây đã nảy sinh mối tình dang dở của vua Duy Tân.

Chuyện kể rằng năm 1914, vua Duy Tân ra nghỉ mát ở Cửa Tùng, lúc ấy nhà vua độ 15 tuổi muốn có bạn chơi cùng lứa nên đã truyền cho ông Hồ đắc Trung, Thượng thư bộ Học theo hầu và dẫn thêm mấy người con của ông Trung, 2 trai 16 và 15 tuổi, 2 gái 13 và 10 tuổi đi theo cho vui. Nhà Vua tuy nghiêm trang nhưng vẫn vui đùa với hai cậu trai và cô gái út, còn cô gái 13 được Ngài lưu ý để mắt tới nhưng ít tiếp chuyện. Nghỉ hè sắp mãn, vua tôi bịn rịn quấn quít lúc chia tay, cô chị ứa lệ nhìn Ngài. Ngài bảo sang năm sẽ gặp nhau lại. Năm sau, gần đến hè, cô chị xin đi theo các anh em ra Cửa Tùng, nhưng quan Thượng không cho, bảo ở nhà với mẹ, cô chị oà lên khóc nức nở. Khi đến Cửa Tùng, gặp lại mấy anh em, Nhà Vua hỏi sao thiếu mất một người, cô em tâu rằng mẹ bảo ở nhà. Vua nói “Thật tội nghiệp cho chị ấy”. Mãn hè một tháng, một hôm có quan Thị vệ đến xin ảnh cô chị đem vào Nội cho bà Thái Hậu xem mặt. Khoảng một tuần sau đó, Thái Hậu cho mời ông bà Thượng thư Hồ đắc Trung vào chầu. Ít bữa sau, kiệu vua đệ ra nhà quan Thượng một đôi bông tai và một đôi vòng vàng cho cô chị. Đó là lễ hỏi và cô chị ra lạy tạ ơn vua hạ cố.

Vào khoảng tháng 12 năm 1915, sau khi ở triều về, quan Thượng kín đáo báo cho quan Bà và bảo con lấy đôi vòng và đôi bông tai để mẹ con đem vào Nội dâng lại cho vua vì Ngài từ hôn và Ngài bảo hãy an ủi con và gả ngay cho người khác, đừng để con buồn tội nghiệp, Ngài còn bảo “Thầy nên hiểu vì ta thương gia đình thầy nên mới phải từ hôn với người mà ta mến từ hai năm nay”.

Sở dĩ có sự đổi ý đột ngột như thế vì vua Duy Tân đã có kế hoạch đánh quân Pháp ở Huế vào đêm 3 tháng 5 năm 1916. Cuộc khởi nghĩa bại lộ, vua Duy Tân bị bắt. Ngài có tâm sự rằng “Vì tôi thương gia đình ông Hồ đắc Trung, sợ ông ấy bị liên lụy nên tôi từ hôn”.

Cũng có một vài giai thoại về vua Duy Tân tại Cửa Tùng: Có lần tay vua đầy cát bẩn, quan Thị vệ đem chậu nước đến để vua rửa. Vua vừa rửa vừa hỏi quan Thị vệ “Tay nhớp thì lấy nước rửa, nước nhớp thì lấy chi rửa?”.

Ông quan còn ấp úng chưa trả lời được, thì vua nói “Nước nhớp thì lấy máu mà rửa. Nhà ngươi biết chưa?”.

Sau khu biệt thự của người Pháp và cơ quan của nhà nước là làng mạc sầm uất, đường sá ngoằn ngoèo, nhà cửa ẩn khuất trong những khu vườn đất đỏ trồng cây lưu niên như chè, mít, tiêu, cau, trầu, ổi, cam, quít, chanh, bưởi, vả, thơm, chuối ... Cây chè (trà) ở đây to lớn, gốc đường kính 2,3 tấc, cao 5,6 mét, mỗi năm bẻ (cắt cành) 2 lần, giả nát, phơi khô, cho vào bao xuất khẩu gọi là “Chè Tùng”. Còn cây mít cao trên chục mét, trái để ăn, gỗ ròng màu vàng dùng làm phản, giường, tủ, bàn, ghế, cột nhà, rui, kèo... Những cây mít cổ thụ được dùng làm cột đình, chùa, nhà thờ ...

Hai bên đường và bìa vườn người ta trồng tre. Tre khắp nơi, nhiều loại, nhiều thứ, đường nào cũng có tre, vườn nào cũng có tre, dùng để ăn măng, làm nhà, làm phên, đan đát thúng mủng, sàng, dần, gàu giai, gàu sòng, thuyền nan, chuồng trại gia súc, v.v...

Trung tâm khu vực Cửa Tùng là một vùng đất cao, rộng và bằng phẳng được dùng làm sân máy bay loại nhẹ thường gọi là “máy bay bà già”. Vào một trưa mùa đông năm 1941, một phi cơ chiến đấu của Nhật bổn lâm trận với máy bay địch ở Biển Đông không trở về hậu cứ được, cạn xăng, nên tìm nơi gần nhất để hạ cánh, đã đáp xuống phi trường Cửa Tùng. Bởi phi đạo quá ngắn nên phi cơ đã vượt ra xa, đâm vào bờ đất, bị vỡ. Phi hành đoàn 6 người gồm 1 Trung úy, 1 Thiếu uý và 4 quân nhân. Thân phụ tôi đã dùng chữ Hán tiếp xúc với Trung úy Trưởng đoàn, ông muốn có một nơi tạm trú cho phi hành đoàn. Ba tôi đã mời cả 6 người về nhà và cung cấp ẩm thực trong 7 ngày, cho đến khi họ liên lạc được với Bộ Tư Lệnh Bộ Binh Nhật ở Huế cho xe đến đón.

Cạnh phi trường nầy có một sở Tằm (Sở Canh nông) cung cấp trứng tằm giống, cố vấn việc nuôi tằm, giới thiệu giống dâu năng suất cao (lá to và nhiều lá).

Gần phi trường có một sân vận động nhỏ và một trường học tọa lạc trên đất xã An du, sát tỉnh lộ, cạnh sân banh của Tiểu chủng viện An ninh, trên cổng trường có một bảng lớn đề : “École élémentaire d’An-du”.

Người Cửa Tùng gọi trường này là “Trường Hương sư”, thời Pháp thuộc chỉ có ba lớp: Đồng ấu (cours enfantin), Dự bị (cours préparatoire) và Sơ đẳng (cours élémentaire). Lúc đầu chỉ có thầy giáo Thạnh, người làng An du tây dạy 2 lớp đồng ấu và dự bị, sau thầy Thạnh là 2 thầy Nguyễn quang Yêng , người làng An du Nam và thầy Phiên người làng Sơn công Sơn quả tỉnh Thừa thiên, dạy 3 lớp Đồng ấu, Dự bị và Sơ đẳng. Hai thầy Yêng và Phiên thuyên chuyển, hai thầy khác đến thay là thầy Lê văn Thử người làng Vĩnh an và thầy Nguyễn văn Nghi người làng An ninh. Các thầy phục sức chỉnh tề: khăn đóng, áo dài đen, quần trắng, mang guốc hay sandale, thỉnh thoảng áo chemise trắng, quần tây xanh đậm. Cả trường chỉ có một cái đồng hồ để bàn của thầy Hiệu trưởng. Hộc bàn thầy nào cũng có một cây roi ngắn để “trị” các trò không thuộc bài. Đặc biệt bài “Học thuộc lòng”phải thuộc làu, đọc suôn sẻ như tụng kinh. Năm 1940, đệ nhị thế chiến diễn ra khốc liệt tại châu Âu, Chính phủ Bảo hộ Pháp kêu gọi người Việt đi lính sang giúp Pháp đánh Đức, đã truyền hịch “Tùng chinh”, được thầy cắt làm 3 đoạn bắt học thuộc lòng như sau:

Hỡi anh em bạn tùng chinh,
Vì sao nước Pháp hưng binh phen này.
Chỉ vì nước Đức cố gây,
Muốn làm bá chủ đông tây một mình.
Bấy lâu sinh sự hoành hành,
Chiếm xong Áo Tiệp lại dành Ba lan.
Kể sao xiết nỗi hung tàn,
Giết người cướp của dã man vô cùng.
Pháp Anh hai nước một lòng,
Quyết phò công lý, chẳng dung cường quyền
Đồng minh quân đội kết liên,
Với quân Thuộc địa khắp miền gần xa.
Binh hùng tướng dũng kéo ra,
Dưới cờ Đại Pháp kể là rất đông.
Thù giặc Đức, cũng thù chung,
Nếu không chinh phạt thời không hoà bình.
Đánh cho Quốc xã tan tành,
Hít-le đến phải thất kinh oai trời.
Anh em Nam Việt ta ơi!
Vốn dòng nghĩa khí, vốn nòi thông minh.
Trong lòng vốn sẳn cảm tình,
Biết ơn Bảo hộ với mình lâu nay.
Tùng chinh lại gặp hội này,
Đền ơn ta phải góp tay với người.
Quản gì vượt biển ra khơi,
Chí nam nhi đặng gặp thời càng hay.
Sắt son ghi tạc dạ này,
Lo tròn phận sự cho tày người ta.
Khi về cổi bức chiến bào,
Hai Nhà nước thưởng công lao cho mình.
Ngoài xã hội, trong gia đình,
Tháng ngày vui hưởng thái bình phước chung
Anh em nên cố gắng công!.

Không biết tác giả bài nầy, nhưng được thầy giáo bắt học thuộc lòng và bảo đọc lớn
tiếng cho trong nhà và hàng xóm nghe để cổ động đi lính qua Pháp đánh Đức.

Mỗi chiều, nửa giờ trước khi bãi, thầy tập hát. Thời đó chưa có tân nhạc, chỉ có cổ nhạc theo điệu dân ca Bình Trị Thiên, cũng gọi là dân ca Huế.

Một vài bài điển hình sau đây:

1) Khuyến học (điệu lý con sáo)

Bớ trò đi học nhà trường,
Phải chăm, phải chăm mà bước,
Kẻo đường ơi trò ơi còn xa.
Giữa đường chớ giỡn chớ la,
Phải so, phải so ngày tháng,
Thoát đà ơi trò ơi nhường thoi.

2) Đạo làm trai (điệu kim tiền)

Sanh ra đạo làm trai, chăm lo học cho đặng nên người. Để đua trí đua tài kịp người ta, đường lớn xa. Khi bên thầy, khi bên bạn, khi bên đèn. Lấy văn tự đêm ngày đặng mà coi. Này con ơi! Này con! gắng công mà học cho đặng nên người, gặp thời giúp đời. Ai mà chăm chỉ thì nên. Cố công rèn tập ư thời gặp, thời gặp hội rồng mây. Cố công rèn tập ư thời gặp.

Trường tuy nhỏ nhưng cũng qui tụ học sinh các làng ở xa 3,4 cây số, đem theo cơm trưa, ngày học hai buổi mai chiều, tuần nghỉ hai ngày thứ năm và chủ nhật. Mỗi sáng nghe trống đánh 1 hồi 3 dùi, học trò sắp hàng trước cửa lớp, thầy bảo “Entrez”, học sinh đáp ”Nous entrons” rồi lễ phép đi vào lớp, đứng tại chỗ, thầy cho lệnh ”Asseyez-vous”, học sinh đáp ”Nous nous asseyons” rồi ngồi xuống. Thầy mở sổ “appel” gọi tên từng trò, học sinh lần lượt trả lời “présent”. Chiều bãi, ông phu trường đánh một hồi trống, học sinh xếp sách vở. Thầy hô ”Levez-vous”, học trò đứng dậy và nói “Nous nous levons”.Thầy nói tiếp “Sortez”, học sinh đáp “Nous sortons” rồi lần lượt ra cửa. Học sinh xưng hô với nhau bằng “trò” không được nói tao mi. Ra đường gặp thầy, phải cất nón chào thầy. Đúng là tiên học lễ hậu học văn.

Thời ấy (Pháp thuộc), quá tuổi không cho nhập học nên một số học sinh ở thôn quê khai hạ tuổi. Đi học để vừa biết chữ vừa kiếm mảnh bằng “Sơ Học Yếu Lược” (Certificat élémentaire) để trình làng, được miễn tạp dịch và sau nầy ra làm hương lý gánh vác việc Làng việc Tổng, xin làm Cai Lục lộ (Công chánh), hoặc ông Cai ông Bếp lính Khố xanh hay xin học làm y tá hương thôn, nữ hộ sinh hương thôn, v.v...Học hết lớp ba (cours élémentaire) ở trường Hương sư, muốn học tiếp thì lên Phủ (quận) học École primaire, xa 10 km, ở trọ nhà quen, góp gạo và tiền mua thức ăn.

Cùng học chung với nhau từ thuở tấm bé lớp Đồng ấu đến lớp Sơ đẳng trong ba năm liên tiếp, theo thứ tự ghi trong sổ appel của thầy, gồm có các trò : Niên, Nước, Thiên, Tới, Lự, Phận, Vị, Để, Hồng, Nghi, Ân, Niệm, Bỉnh, Tuấn, Tường, Tường, Lội, Hoè , Thảo, Điền, Cư, Đinh, Khánh, Cung, Bỉnh, Ba. (Hai mươi sáu trò, 66 năm qua, bây giờ ai còn ai mất, xin hoài niệm).

Khoảng năm 1940, có lần học sinh được xếp hàng dọc theo tỉnh lộ, tay cầm cờ long tinh nhỏ, miệng hô to “Vive l’Empereur” khi xe hoàng đế Bảo Đại đi qua để về Thừa lương. Cũng dịp nầy, một đoàn Hướng đạo đến đóng trại, ca hát, lửa trại, hài kịch rất vui.

Hằng năm đến ngày 14 Juillet, Quốc khánh Pháp, có đội kèn tây về trình diễn âm nhạc, buổi tối có chiếu phim lộ thiên cho tây và ta xem.

Khu vực Cửa Tùng gồm 10 làng: An du đông, An du tây, An du nam, An du bắc, An ninh, Di loan (Di luân) Cổ trai, Tân trại, Tùng luật và Vĩnh an. Ranh giới khu vực được giới hạn đông giáp biển, nam giáp sông Bến hải, tây giáp làng Liêm công, bắc giáp làng Thủy cần và Thạch bàn.

Một vài làng điển hình sau đây :

- Xã An du cũng gọi là An do rộng lớn hơn cả, xưa kia là một đại xã. Vị khai khẩn là ông Nguyễn như Long, ông có người em ruột là Nguyễn như Hổ là vị khai khẩn làng Tân trại. Hằng năm, lễ giỗ khai khẩn, An du xướng tên cả hai vị “Nguyễn như Long, Nguyễn như Hổ”, Tân trại cũng xướng tên hai vị nhưng ngược lại “Nguyễn như Hổ, Nguyễn như Long”. An du có một ngôi chợ khá lớn gọi là chợ Do (An do), giữa chợ có đình chợ lợp ngói, ba bốn cây sanh cây đa rợp bóng mát, mặt tiền chợ là cánh đồng nho nhỏ, ba mặt hậu, tả, hữu là nhà cửa, quán xá, 2 tiệm thuốc bắc, 2 tiệm may, ba bốn sạp vải, nhiều sạp tạp hoá. Chợ mua bán nhiều loại nông sản, hải sản, thịt gia súc, chim chóc, đồ thủ công như nón lá, tơi lá, dần, sàng, thúng, mủng, v.v... Chợ nhóm suốt buổi mai đến xế trưa, đông đúc, nhộn nhịp mang vẻ sầm uất nơi thôn dã.

Bởi cư dân ngày càng đông, xã An du được chia làm hai làng: An du đông và An du nam. Về sau, để đáp ứng việc gia tăng dân số, chính quyền tỉnh Quảng trị cho chia làng An du đông thêm làng An du bắc, làng An du nam thêm làng An du tây. Về điền thổ không chia, chỉ chia dân số theo tiêu chuẩn tín ngưỡng: An du đông lương, An du bắc công giáo, An du nam lương, An du tây công giáo. Tuy chia như vậy nhưng nhân hoà đoàn kết, nhân tâm vui vẻ.

- Làng Di loan (Di luân), quê quán của đức cha Lê hữu Từ, Giám mục Giáo phận Phát diệm. Di loan trước kia là một xã lớn, vì dân số đông nên vào năm 1950 cho một phường xuất làng mang tên là làng Di loan bắc, làng nầy chiếm 2/3 dân số giáo xứ Loan lý, ở sát bãi tắm Cửa Tùng.

Phong cảnh làng Di loan khá đẹp, mặt tiền làng hướng về phiá nam nơi dòng sông Bến hải lững lờ chảy ra biển. Dọc bờ sông, tầng thấp làm ruộng muối, tầng cao ruộng lúa, đến một con đường khá rộng suốt từ đầu làng đến cuối làng. Sau con đường nầy là cư dân, nhà cửa, vườn tược xanh tươi. Giữa làng, phía mặt tiền nhìn ra sông, một ngôi thánh đường trang nghiêm cổ kính với ba quả chuông lớn. Chánh xứ coi sóc họ đạo Di loan là linh mục Léopold Cadière, tên Việt là cố Cả, thuộc hội Thừa sai Ba lê (Mission Étrangère de Paris), đến Việt nam năm 1892, làm giáo sư Tiểu chủng viện An ninh Cửa Tùng 1893-1894, Chính xứ Di loan kiêm Hạt trưởng Giáo hạt Đất đỏ (Cửa Tùng) từ tháng 9 năm 1918 đến tháng 3 năm 1945, bị Nhật bắt giam 5 tháng trong dịp Nhật đảo chánh Pháp. Ngày 19.12.1946 bị Việt minh bắt đi an trí tại Vinh (Xã đoài) cho đến ngày đình chiến, được trả tự do và hưu trí tại nhà Hưu dưỡng toà Giám mục Huế. Ông là một học giả kiệt xuất, giỏi hán, nôm, quốc ngữ, thông thuộc sử sách, địa dư, phong tục, tập quán Việt nam, Trung hoa, Cambodge và Lào. Năm 1990, Chính quyền Hà nội đã vinh danh Léopold Cadière là “Nhà Huế Học” và là “Nhà Việt nam Học”do những công trình nghiên cứu của Ngài đã làm cho thế giới biết đến văn hoá, nghệ thuật, kiến trúc và lịch sử Việt nam.

Sau vườn nhà thờ Di loan là Nữ Tu viện dòng Mến Thánh giá Di loan, sống âm thầm trong một khuôn viên khá rộng, cây cối rợp bóng quanh năm. Hằng ngày, các Dì Phước, luôn đi cặp đôi, đến các trường học giáo xứ để dạy giáo lý và khai tâm quốc ngữ miễn phí cho các em nhỏ. Nhờ công khai trí ấy mà tất cả người công giáo Cửa Tùng đều biết đọc chữ quốc ngữ. Các nữ tu lo tu hành nhưng cũng góp phần vào việc phát triển kinh tế như sản xuất muối ăn, nuôi tằm, dệt tơ lụa. Thuở ấy các loại vải nội hoá khổ ngắn, nhưng tu viện Di loan đã dệt được lụa khổ rộng như hàng ngoại hoá nhờ biết cải biến khung cửi (máy dệt bằng tay). Tu viện cũng cung cấp các loại thuốc tây thay các loại cao đơn hoàn tán để trị các bệnh thông thường như cảm mạo, nhức đầu, đau bụng, ghẻ chốc,v.v...

Đầu làng Di loan có 2 lò vôi cung cấp vôi ăn trầu, xây nhà, quét tường đủ cho nhu cầu địa phương.

Nơi giáp ranh làng Di loan với làng Tùng luật có một trạm Thương-chánh để thu thuế toàn vùng do một người Pháp làm Trưởng trạm và vài nhân viên người Việt. Ai sản xuất muối, rượu hay thuốc lá phải khai báo. Muối lậu, rượu lậu, thuốc lá lậu sẽ bị tịch thu và nộp phạt. Vì vậy đã có những xích mích dẫn đến đánh lộn với vài người địa phương.

- Làng Cổ Trai: Theo tương truyền thì làng Cổ Trai là quê của bà Nguyễn thị Băng, vợ của chúa Nguyễn phúc Nguyên tức chúa Sãi (1613-1635). Nghe các cụ nói hồi xưa có vụ tranh chấp giữa hai làng Cổ trai và Tân trại về chủ quyền một con đê. Quan phủ Vĩnh linh xử cho làng Tân trại thắng, làng Cổ trai phản kháng, Hội đồng Kỳ mục làng đi thẳng vào Huế xin Hội đồng Hoàng tộc can thiệp, lấy cớ Cổ trai là quê quán của nguyên phi của Sãi vương, nếu Cổ trai thất kiện thì tổn thương danh dự hoàng gia. Bởi vậy, Quan phủ được lệnh xử lại và cho Cổ trai thắng kiện.

Các cụ cũng kể chuyện vui, xưa kia Tri phủ (Quận trưởng) hành hạt thăm các làng, thường đi cáng (võng có mui hai người gánh), đến làng nào làng ấy lo cắt cử phu gánh cáng quan đến làng kế tiếp. Lúc đi qua khu rừng gần làng Cổ trai, quan phủ nằm trên cáng hỏi ông Lý trưởng (Xã trưởng):

-Này Xạ nầy! nghe nói ở rừng nầy có cọp phải không ?

-Ông Xạ trả lời: Bẩm quan đừng có lo, cỡ một đòn thì tui coi thường. (Ý nói cọp lớn nặng cỡ 1 đòn (2 người gánh), ám chỉ quan cũng một đòn. Quan làm thinh, biết ông Xã nói xỏ mình).

Đi thêm một đoạn đường nữa, ông Xã ra dấu cho hai người phu khiêng cáng, rồi hô to: Cọp! Cọp! Cọp! ơi quan cọp!. Hai người khiêng đồng loạt vứt cáng xuống đất rồi cùng ông Xã chạy thoát khỏi rừng. Quan bị té như khúc gỗ từ trên cao rơi xuống mặt đường, lổm ngổm ngồi dậy và chạy theo ông Xã.

(Còn tiếp)
Dương Bỉnh (là trưởng nam của Ông Vịnh- và là cháu nội của Bà Nghĩa-Ông Viên)