Thứ Năm, 17 tháng 5, 2012

Bốn bí quyết cho một gia đình hạnh phúc

Gia đình chính là nơi hạnh phúc và yên ấm nhất nhất. Ở đó, những mối quan hệ thân thương và gần gũi giúp ta có thêm nguồn sức mạnh và tinh thần bất tận. Nhưng để tạo nên và giữ gìn hạnh phúc trong gia đình đòi hỏi mỗi cá nhân phải có sự nỗ lực hết mình và thái độ xây dựng để đem lại niềm hạnh phúc đó. Điều này được đúc kết trong bốn bí quyết sau:

Bí quyết đầu tiên và cũng là quan trọng nhất: TÌNH YÊU


Về lý tưởng thì đó là thứ tình yêu không vị kỷ, mang hai người khác giới đến với nhau, tạo nên một gia đình bằng những niềm vui và những đứa trẻ. Tình yêu này chính là sự thúc đẩy tự nhiên, ràng buộc các thành viên gia đình lại với nhau.

Thế nhưng, nếu không được chăm sóc tình yêu cũng có thể bị khô héo và chết đi. Vì thế, chỉ có sự gắn kết gần gũi, quan tâm và chăm sóc lẫn nhau mới duy trì được tình yêu ấm áp trong gia đình. Khi cha mẹ quá bận công việc hay dành ít thời gian cho con cái, thì khoảng cách sẽ dần hình thành. Trẻ con yêu cha mẹ theo lẽ tự nhiên và mong muốn có được tình yêu thương ngược lại từ cha mẹ. 

Nhiều trẻ đã bộc lộ sự chán nản và cay cú khi cha mẹ chỉ biết đến công việc và sau công việc là “dán mắt” vào tivi cho đến giờ đi ngủ. Bởi lẽ trẻ cũng cần có cơ hội bộc lộ cảm xúc của mình với cha mẹ và được cha mẹ yêu thương lại. 

Vì thế, tình cảm nồng ấm được thể hiện rõ nhất ở sự quan tâm, sự chăm sóc nhau tránh những bất hòa và khó chịu trong gia đình. Đó là nguồn hạnh phúc lớn lao nhất ở mỗi gia đình mà không một đồ vật giá trị nào có thể thay thế được.

Bí quyết thứ hai để có hạnh phúc gia đình là NIỀM TIN:

Niềm tin ở đây bao gồm các khía cạnh: thật thà, tin tưởng và tín nhiệm lẫn nhau, những yếu tố này hợp lại tạo nên hạnh phúc. Niềm tin là nền tảng vững chắc để mang lại hạnh phúc trong gia đình điều đó đồng nghĩa với việc một gia đình được coi là hạnh phúc khi cha mẹ biết điều khiển bản thân để có niềm tin tuyệt đối vào những thành viên khác và truyền niềm tin đó cho con cái mình.

Trong cuộc sống, nếu cha mẹ thể hiện lòng trung thành với Thiên Chúa là Đấng Tạo Hóa thì chắc chắn theo bản năng họ sẽ nhận được sự tin tưởng của con cái mình và ngược lại, con cái cũng có niềm tin vào cha mẹ. 

Bí quyết thứ ba để hạnh phúc là TỰ GIÁC 

Sự tự giác chỉ được hình thành dần dần và rút ra một cách khó khăn từ kỷ luật. Một thế hệ trước, chúng ta xem xét lứa tuổi cho phép trẻ em được ra quyết định của mình và được tự do làm mọi thứ. Ngày nay, các chuyên gia thần học hầu như hoàn toàn đồng ý rằng những sự cho phép như trên không những không làm cho trẻ vui vẻ hơn mà còn là bi kịch đối với cả con cái và cha mẹ. Điều này khiến trẻ tìm tới rượu, sử dụng thuốc kích thích, phạm tội, bỏ nhà đi, thậm chí là tự tử. 

Đến khi, trẻ trưởng thành đến một ngưỡng nào đó về tính cách và sự suy xét, biết tự quản lý tính tự giác của bản thân thì cha mẹ càng cần phải quan tâm, hướng dẫn con cái về mọi vấn đề. Cha mẹ cần biết, khả năng quan sát của con còn hạn chế nên cần nhấn mạnh với con rằng có những điều đúng và có những điều sai. Khi có sự hướng dẫn và nguyên tắc trở thành điều cần thiết thì mọi việc sẽ được thực hiện với tình cảm chứ không hề có sự tức giận hay phá hoại.

Bí quyết thứ tư là TRÁCH NHIỆM 

Trách nhiệm là sự phát triển tự nhiên từ 3 bí quyết trên. Một gia đình tràn ngập tình yêu, và sự tin tưởng tuyệt đối lẫn nhau và có sự hướng dẫn và sửa chữa tính tự giác cho nhau thì kết quả tự nhiên là sinh ra trách nhiệm. Mỗi thành viên trong gia đình cảm thấy có trách nhiệm với người khác, một thứ trách nhiệm xứng đáng với sự tin tưởng và lòng tin cậy vào một lời hứa, vào việc thực hiện công việc hay nhiệm vụ của mình. 

Khi ý nghĩa của trách nhiệm trở thành một thói quen, nó sẽ không chỉ dừng ở gia đình mà còn mở rộng tới bạn bè, đồng nghiệp, nhân viên…

Nếu các thành viên trong gia đình có một chút hay không có chút nào sự tin tưởng lẫn nhau, khi mọi người gần như không phụ thuộc vào những gì người khác làm và định làm thì hậu quả tất yếu không thể tránh được là sự bất hạnh và bi kịch trong gia đình. Ngược lại, khi các thành viên gia đình có lòng tin vào nhau, thông qua tính tự giác xây dựng một thói quen trách nhiệm thì đảm bảo đó sẽ là một nền tảng vững chắc cho một gia đình không những chỉ hạnh phúc mà còn rất thành công trong cuộc sống. 


Theo Afamily

Thứ Hai, 14 tháng 5, 2012

Những hoang mang tiếp theo việc Obama tuyên bố ủng hộ “hôn nhân đồng tính”


J.B. Đặng Minh An5/11/2012

Hôm thứ Tư, Obama, người đã từng viện dẫn Kinh Thánh để chống lại việc coi “hôn nhân đồng tính” ngang hàng với hôn nhân truyền thống - giữa một người nam và một người nữ - trong cuộc tranh cử tổng thống 4 năm về trước, thì nay lại cũng viện dẫn Kinh Thánh để ủng hộ cho “hôn nhân đồng tính”.


Giải thích cho lập trường bất nhất này của mình, Obama nói rằng tư duy của mình đã “tiến hóa”. Obama đã nói với một giọng điệu thương cảm rất điêu luyện về kịch nghệ, chỉ chút xíu nữa là rơi nước mắt.



Trước diễn biến này, Đức Hồng y Timothy Dolan, chủ tịch Hội Đồng Giám Mục Hoa Kỳ, đã ra tuyên bố chỉ trích lập trường của Tổng thống Barack Obama về hôn nhân đồng tính. Ngài nói rằng ngài cầu nguyện cho tổng thống và chính quyền của ông "hành động một cách đúng đắn để duy trì và bảo vệ hôn nhân như sự hợp nhất của một người đàn ông và một người nữ."



Đức Hồng Y cho rằng ý kiến của tổng thống về hôn nhân đồng tính "theo sau những hành động khác đã được thực hiện bởi chính quyền Hoa Kỳ đang làm xói mòn hoặc xem thường ý nghĩa độc đáo của hôn nhân."



Ngài nói, "Chúng ta không thể im lặng khi đối mặt với những lời nói hay hành động làm suy yếu định chế hôn nhân, là nền tảng của xã hội chúng ta”



Tuy nhiên, quan điểm của Đức Hồng Y nhanh chóng bị “chết ngộp” trong vô số những bài tường thuật trên thế giới về quan điểm liên quan đến vấn đề này của ba “thần học gia Công Giáo” đang giảng dạy tại các học viện thần học của Dòng Tên tại Hoa Kỳ.



Theo Catholic World News, ba nhà thần học Paul Lakeland của Fairfield University, Daniel Maguire trường đại học Marquette, và Frank Parella của Đại học Santa Clara - đã nhanh chóng lên án quan điểm về “hôn nhân đồng tính” của Đức Hồng Y Dolan và Hội Đồng Giám Mục Hoa Kỳ.



Daniel Maguire nói: "[Đức Hồng y Timothy] Dolan và Hội nghị Công giáo Hoa Kỳ đang giải thích sai lạc giáo huấn Công giáo, và đang cố gắng để trình bày quan điểm thiểu số mang phong cách riêng của họ như là quan điểm của Giáo Hội Công Giáo."



"Các giám mục chắc chắn sẽ đứng về phía [Đức Hồng y Timothy] Dolan và Hội Đồng Giám Mục Hoa Kỳ. Nhưng về vấn đề này, họ đang ly giáo về luân lý trong một Giáo Hội đã thay đổi theo chiều hướng có một cái nhìn nhân đạo hơn về quyền của những người mà Thiên Chúa đã làm cho đồng tính."



Daniel Maguire, một cựu linh mục Dòng Tên, đã xuất ra để lập gia đình nói tiếp: "Hầu hết các nhà thần học Công giáo chấp nhận hôn nhân đồng tính và người Công giáo nói chung không có quan điểm khác biệt với những người khác về vấn đề này". Maguire cũng là một người bảo vệ kiên quyết phá thai hợp pháp.



Trong khi đó, “thần học gia” Parella cho biết ông thấy "không tìm thấy gì trong các sách Tin Mừng" là cơ sở hướng dẫn Giáo Hội phản đối “hôn nhân đồng tính”.



Trong khi đó, “thần học gia” Lakeland nói rằng “chẳng có cơ sở thần học nào biện minh cho lập trường của các giám mục Hoa Kỳ phản đối ‘hôn nhân đồng tính’” 



Từ Vatican, Đức Tổng Giám Mục Thomas Wenski đang trong chương trình adlimina cho biết ngài tin rằng Obama hỗ trợ cho hôn nhân đồng tính là một động thái chính trị cố ý gây ra một sự phân tâm trong chiến dịch bầu cử năm nay.



Đức Cha Thomas Wenski cho rằng Obama đã cố ý hướng dư luận chú ý đến vấn đề “hôn nhân đồng tính” mà quên đi những thảm hại về kinh tế trong 4 năm cầm quyền của mình.



Ngài nói: "Cần lưu ý đến thời điểm cụ thể mà tổng thống nêu lên lập trường này. Tuần trước, báo chí đã nói rằng trọng tâm của cuộc bầu cử này sẽ là nền kinh tế. Và tôi nghĩ rằng nền kinh tế đã không được cải thiện theo chiều hướng mà mọi người đã hy vọng.” 



Giáo Hội đang đứng trước những khó khăn nhất định khi những lập trường đứng đắn của mình lại bị chính các “thần học gia” phê phán là “bảo thủ” và “phi nhân bản”.



Chúng tôi xin trích thuật dưới đây tài liệu chính thức của các Giám Mục Hoa Kỳ về các kết hiệp đồng tính.



Dẫn Nhập



Ngày nay một trào lưu đang lớn mạnh muốn đưa những mối quan hệ thường được gọi là sống chung đồng tính lên ngang hàng về mặt luật pháp với hôn nhân. Tình trạng này thách đố những người Công Giáo - và tất cả những ai tìm kiếm sự thật - phải nghĩ sâu xa về ý nghĩa của hôn nhân, mục đích của nó và giá trị của nó đối với những cá nhân, gia đình và xã hội. Suy niệm về vấn đề này, qua sự vận dụng cả lý trí và đức tin, là một khởi đầu thích hợp và là khuôn khổ cho sự bàn bạc hiện nay. 



Chúng tôi, các Đức Giám Mục Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ, xin được đưa ra nơi đây những sự thật căn bản để giúp hiểu biết giáo huấn Công Giáo về hôn nhân và giúp đề cao hôn nhân cũng như tính chất thánh thiêng của nó.



1. Hôn nhân là gì? 



Hôn nhân, như đã được thiết lập bởi Thiên Chúa, là một sự kết hiệp trung tín, độc quyền và suốt đời giữa một người nam và một người nữ được kết hiệp trong một một cộng đoàn mật thiết của đời sống và tình yêu. Họ dâng hiến hoàn toàn chính họ cho nhau và cho bổn phận diệu kỳ là đem con cái của họ vào trong thế gian này và nuôi dưỡng chúng. Ơn gọi hôn nhân được đan sâu trong tâm trí con người. Nam cũng như nữ. Tuy nhiên, như đã được tạo dựng, họ tuy khác biệt nhưng đã được tạo ra cho nhau. Sự bổ túc lẫn nhau này, bao gồm cả sự khác biệt về giới tính, lôi kéo họ lại với nhau trong một sự kết hiệp yêu thương lẫn nhau và luôn mở ngõ cho sự sản sinh con cái (x. Sách Giáo Lý Công Giáo - SGLCG- số 1602-1605). 



Những sự thật về hôn nhân này hiện hữu theo trật tự tự nhiên và có thể lĩnh hội dưới ánh sáng của lý trí con người. Những sự thật này đã được xác nhận trong Mạc Khải Thánh Thiện của Thánh Kinh.



2. Đức tin nói với chúng ta điều gì về hôn nhân?



Hôn nhân xuất phát từ bàn tay từ ái của Thiên Chúa, Đấng đã tạo nên cả người nam và người nữ giống hình ảnh thánh thiện của Ngài (x. Kn 1:27). Người đàn ông "lìa cha mẹ mà gắn bó với vợ mình, và cả hai thành một xương một thịt" (Kn 2:24). Người đàn ông nhận người đàn bà như là "xương bởi xương tôi, thịt bởi thịt tôi!" (Kn 2:23). Thiên Chúa chúc phúc cho hai người nam nữ và ra lệnh cho họ "Hãy sinh sôi nảy nở thật nhiều" (Kn 1:28). Chúa Giêsu cũng đã lập lại những lời dạy trong Sách Khởi Nguyên khi nói: "Thiên Chúa đã làm nên con người có nam có nữ; vì thế, người đàn ông sẽ lìa cha mẹ mà gắn bó với vợ mình, và cả hai sẽ thành một xương một thịt. Như vậy, họ không còn là hai, nhưng chỉ là một xương một thịt." (Mc 10:6-8).



Những đoạn Thánh Kinh này giúp chúng ta hiểu chương trình của Thiên Chúa dành cho hôn nhân. Đó là một sự kết hiệp mật thiết trong đó những người phối ngẫu, như những con người bình đẳng với nhau, ban tặng chính mình cho nhau hoàn toàn và đầy thương yêu. Qua món quà trao tặng nhau là chính mình, họ hợp tác với Thiên Chúa trong việc sinh sản con cái và chăm sóc cho chúng. 



Hôn nhân vừa là một cơ chế tự nhiên, vừa là một sự kết hiệp thánh thiêng bởi vì nó bắt rễ từ chương trình tạo dựng thánh thiện của Thiên Chúa. Thêm vào đó, Giáo Hội dạy rằng hôn nhân hợp pháp của những người đã chịu phép Rửa Tội là một bí tích - một thực tại cứu độ. Đức Giêsu Kitô đã biến hôn nhân thành một biểu tượng cho tình yêu của Ngài đối với Giáo Hội (x. Eph 5:25-33). Điều này nghĩa là một cuộc hôn nhân bí tích làm cho thế giới thấy, theo khía cạnh nhân loại, những điều gì đó về tình yêu trung tín, sáng tạo, phong phú và cho đi của Đức Kitô. Một hôn nhân chân thật trong Chúa với ơn sủng của Ngài sẽ mang đến sự thánh thiện cho những người phối ngẫu. Tình yêu của họ một khi được diễn tả nơi sự trung tín, nhiệt thành, sinh sản, quảng đại, hy sinh, tha thứ, và chữa lành sẽ đem tình yêu của Thiên Chúa đến cho gia đình, cộng đoàn và xã hội của họ. Ý nghĩa Kitô Giáo này xác nhận và củng cố giá trị nhân bản của sự kết hiệp hôn nhân (SGLCG số 1612-1617; 1641-1642). 



3. Tại sao hôn nhân chỉ tồn tại giữa người nam và người nữ?



Cấu trúc tự nhiên của tính dục con người khiến cho người nam và người nữ trở nên những đối tác bổ túc lẫn nhau trong việc di truyền sự sống con người. Chỉ có sự kết hiệp giữa người nam và người nữ mới diễn tả sự bổ khuyết tính dục theo ý Chúa định cho hôn nhân. Cam kết vĩnh viễn và độc quyền của hôn nhân là bối cảnh cần thiết cho sự thể hiện tình yêu đôi lứa mà Thiên Chúa đã định nhằm di truyền sự sống con người và xây đắp mối giây ràng buộc giữa người chồng và người vợ. (x SGLCG số 1639-1640). 



Trong hôn nhân, người chồng và người vợ ban tặng hoàn toàn chính họ cho nhau trong nam tính và nữ tính của họ (SGLCG số 1643). Họ bình đẳng như những con người, nhưng khác biệt nam và nữ để bổ sung lẫn nhau qua sự khác biệt tự nhiên này. Sự bổ khuyết độc đáo này khiến cho mối giây ràng buộc hôn nhân, là trung tâm điểm của đời sống hôn nhân, có thể thực hiện được 



4. Tại sao kết hiệp đồng tính không thể so sánh với hôn nhân?



Có những lý do cho thấy kết hiệp đồng tính trái ngược với bản chất của hôn nhân: nó không dựa trên sự bổ khuyết tự nhiên của người nam và người nữ; nó không hợp tác với Thiên Chúa trong việc tạo dựng sự sống mới; và mục đích tự nhiên của kết hiệp lứa đôi không thể đạt được qua hôn nhân đồng tính. Những người trong mối liên hệ đồng tính không thể tiến vào một sự kết hiệp hôn nhân phu phụ. Do đó, là sai lầm khi đánh đồng quan hệ của họ với hôn nhân. 



5. Tại sao đối với xã hội điều quan trọng là phải bảo tồn hôn nhân như một kết hiệp duy nhất giữa một người nam và một người nữ? 



Vượt trên thời gian, và những khác biệt rất xa về văn hóa và tín ngưỡng, hôn nhân luôn là căn bản của gia đình. Đến lượt mình, gia đình là đơn vị căn bản của xã hội. Vì vậy, tuy hôn nhân là một quan hệ riêng tư, nó có một ý nghĩa đại chúng.



Hôn nhân là khuôn mẫu căn bản cho những mối quan hệ nam nữ. Nó đóng góp cho xã hội bởi vì nó tạo ra khuôn mẫu theo đó những người nam nữ sống phụ thuộc vào nhau và cam kết tìm kiếm điều tốt đẹp cho nhau trong suốt cuộc đời. 



Kết hiệp hôn nhân cũng đem lại những điều kiện tốt nhất để nuôi dạy trẻ em: chẳng hạn, quan hệ vững bền và yêu thương của một người mẹ và một người cha chỉ hiện hữu trong hôn nhân. Nhà nước đúng đắn khi nhìn nhận mối quan hệ này như là một định chế công cộng trong luật của mình bởi vì quan hệ này tạo ra một đóng góp độc đáo và thiết yếu cho thiện ích chung.



Luật pháp đóng một vai trò giáo dục vì chúng hình thành khuôn mẫu tư duy và hành vi, đặc biệt về những điều mà xã hội cho phép và được chấp nhận. Thành thử, khi ban cho những kết hiệp đồng tính một tình trạng pháp lý ngang bằng với hôn nhân nó cũng công khai ban một sự chuẩn thuận cho hành vi đồng tính luyến ái và coi đó như một điều vô thưởng vô phạt về mặt luân lý. 



Khi hôn nhân được tái định nghĩa sao cho những quan hệ khác được ngang bằng với nó, định chế hôn nhân bị hạ giá và bị suy yếu hơn nữa. Việc làm suy yếu định chế căn bản này ở mọi cấp độ và bởi các thế lực khác nhau đã khiến cho xã hội phải trả một giá quá đắt.



6. Có phải từ chối hôn nhân của những người đồng tính là thể hiện một sự phân biệt bất công và một sự thiếu tôn trọng họ như những con người không?



Việc phủ nhận tình trạng pháp lý của các kết hiệp đồng tính không phải là bất công bởi vì hôn nhân và các kết hiệp đồng tính là những thực tại khác biệt nghiêm trọng. Thực ra, chính công lý đòi hỏi xã hội phải hành động như thế. Để giữ ý định của Thiên Chúa dành cho hôn nhân, trong đó quan hệ tính dục có vị trí đúng đắn và độc quyền, không phải là xúc phạm đến phẩm giá của những người đồng tính. Những người Kitô hữu cần phải là chứng tá cho toàn bộ sự thật luân lý và chống lại, như một điều vô luân, cả những hành vi đồng tính luyến ái lẫn việc kỳ thị bất công những người đồng tính. 



Sách Giáo Lý của Giáo Hội Công Giáo khuyến khích những người đồng tính luyến ái "được chấp nhận với sự tôn trọng, lòng thương yêu, và sự tế nhị" (số 2358). Sách Giáo Lý cũng khuyến khích tình bằng hữu thanh sạch "Sự khiết tịnh được biểu lộ cách cao thượng nơi tình bằng hữu với tha nhân. Dù nó được nảy nở giữa những người cùng giới hay khác giới, tình bằng hữu đem lại một sự tốt đẹp cao cả cho mọi người". (số 2347). 



7. Những người đang sống trong các mối quan hệ đồng tính có đáng được hưởng những phúc lợi xã hội và kinh tế dành cho các cặp vợ chồng không?



Nhà nước có trách nhiệm đề cao gia đình, bắt rễ từ hôn nhân. Do đó, nhà nước đúng đắn khi chỉ cấp cho những cặp vợ chồng các quyền lợi và phúc lợi mà không nới rộng cho những kết hiệp khác. Nói cho cùng, sự ổn định và phát triển của xã hội tùy thuộc vào sự ổn định và phát triển của đời sống gia đình lành mạnh.



Việc nhìn nhận hợp pháp hôn nhân, bao gồm cả những phúc lợi đi liền với nó không chỉ là vì chuyện riêng tư cá nhân, nhưng còn là vì sự cam kết xã hội của vợ chồng trong việc làm thăng tiến xã hội. Sẽ là sai lầm khi định nghĩa lại hôn nhân vì muốn cung ứng các phúc lợi cho những ai không thể chính đáng bước vào đời sống hôn nhân.



Nhiều phúc lợi hiện nay những người sống trong các loại kết hiệp đồng tính đã có thể nhận được bất kể tình trạng hôn nhân. Chẳng hạn, các cá nhân có thể đồng ý sở hữu tài sản chung với người khác, và họ có thể chỉ định ai là người thừa kế di chúc hay ai là người có quyền quyết định trong việc chăm sóc sức khoẻ cho họ một khi họ đau yếu liệt lào. 



8. Dưới ánh sáng của giáo huấn Công Giáo về sự thật và vẻ đẹp của hôn nhân, người Công Giáo nên làm gì?



Không thể có sự tách biệt giữa đức tin của ta với đời sống dù là trong phạm vi riêng tư hay công cộng. Tất cả mọi người Công Giáo phải hành động theo đức tin của họ với một lương tâm trưởng thành theo Thánh Kinh và Thánh Truyền. Qua tiếng nói và lá phiếu của họ, họ nên đóng góp cho sự hưng thịnh của xã hội, cũng như phê phán đời sống xã hội qua những tiêu chí của lý trí đúng đắn và sự thật Tin Mừng. Thi hành bổn phận công dân có trách nhiệm là một nhân đức. Dự phần trong tiến trình xã hội là một bổn phận luân lý. Đây là một điều cấp thiết dưới ánh sáng của nhu cầu cần phải bảo vệ hôn nhân và chống lại việc đánh đồng về mặt luật pháp giữa hôn nhân và các loại kết hiệp đồng tính. 



Chính những cặp vợ chồng, qua chứng tá của tình yêu trung tín và cho đi, là những trạng sư tốt nhất cho hôn nhân. Qua gương sáng của họ, họ là những nhà giáo đầu tiên của thế hệ tiếp theo về thế giá của hôn nhân và nhu cầu phải bảo vệ nó. Như những nhà lãnh đạo của gia đình - mà Công Đồng Vaticanô II đã gọi là "một giáo hội tại gia" (Hiến Chế Ánh Sánh Muôn Dân số 11), các cặp vợ chồng nên đem những ơn huệ cùng như những nhu cầu của họ đến với Giáo Hội rộng lớn hơn. Nơi đó, với sự trợ lực của những cặp vợ chồng khác và những mục tử cũng như những cộng tác viên, họ có thể củng cố cam kết của họ và nuôi dưỡng bí tích hôn nhân của họ suốt đời. 



Kết luận



Hôn nhân là một định chế căn bản của loài người và xã hội. Dù hôn nhân bị chi phối bởi luật dân sự và Giáo Luật, hôn nhân không xuất phát từ Giáo Hội hay nhà nước, nhưng từ Thiên Chúa. Do đó, cả Giáo Hội lẫn nhà nước đều không có quyền thay đổi ý nghĩa và cấu trúc cơ bản của hôn nhân. 



Hôn nhân, với bản chất và những mục đích được thiết lập bởi Thiên Chúa, chỉ có thể là sự kết hiệp giữa một người nam và một người nữ và phải được giữ nguyên như thế trong luật pháp. Trong một thể thức không giống bất kỳ một thứ quan hệ nào khác, hôn nhân tạo ra một sự đóng góp độc đáo và không thể thay thế được cho thiện ích chung của xã hội, đặc biệt thông qua việc sinh sản và giáo dưỡng con cái. Sự kết hiệp suốt đời giữa một người nam và một người nữ trở thành một điều tốt cho chính họ, gia đình, cộng đoàn và xã hội của họ. Hôn nhân là một ơn sủng phải được tán dương và bảo vệ. 



Đức Ông. William P. Fay 



Tổng Thư Ký Hội Đồng Giám Mục Hoa Kỳ



Xem Thêm



Second Vatican Council. Pastoral Constitution on the Church in the Modern World (Gaudium et Spes), nos. 47-52. December 1965. Available online at www.vatican.va.



Catechism of the Catholic Church, nos. 369-373, nos. 1601-1666, and nos. 2331-2400. Washington, DC: United States Conference of Catholic Bishops-Libreria Editrice Vaticana, 2000.



Pope John Paul II. On the Family (Familiaris Consortio). Washington, DC: United States Conference of Catholic Bishops, 1982.



Congregation for the Doctrine of the Faith. Considerations Regarding Proposals to Give Legal Recognition to Unions Between Homosexual Persons. July 2003. Available online at www.vatican.va. 



United States Conference of Catholic Bishops. Follow the Way of Love: A Pastoral Message of the U.S. Catholic Bishops to Families. Washington, DC: United States Conference of Catholic Bishops, 1993.



United States Conference of Catholic Bishops. Faithful Citizenship: A Catholic Call to Political Responsibility. Washington, DC: United States Conference of Catholic Bishops, 2003.

Thứ Tư, 9 tháng 5, 2012

Văn Hoá Ứng Xử Của Giới Trẻ

Bên cạnh những cái "được" dễ thấy của người Việt trẻ như kiến thức rộng, tiếp thu nhanh các tiến bộ khoa học kỹ thuật, tư duy nhạy bén... thì cũng có những điều trái khoáy: các bạn "thiếu văn hóa" một cách trầm trọng trong ứng xử. Chúng ta vẫn thường nghe "Thanh niên là rường cột của nước nhà", là "hy vọng của quốc gia" và nhiều nữa. Vậy thì Việt Nam ta rồi sẽ về đâu, với một thế hệ trẻ thừa-kiến-thức nhưng lại thiếu-văn-hóa như thế nhỉ?

Nhấc điện thoại lên, tiếng quát bên kia đầu dây: "Mày đang ở đâu đó con... ngựa kia?" làm tôi hốt hoảng dù vẫn biết đó là cô bạn thân của mình. Bạn trẻ vào quán cà phê vô tư cho cả... 4 chân lên ghế cũng không còn là chuyện lạ và họ vẫn mặc nhiên xem đó là chuyện bình thường, vì nào có ai dám nói gì họ đâu. Khách hàng là Thượng Đế kia mà! Một tiếng rít rợn cả người của cái thắng xe ngay trước câu gắt: "Đui sao, ông già?". Nhìn người đàn ông lắc đầu, vội vã bước đi, tôi chợt chạnh lòng sao các bạn trẻ lại có thể hành xử với người đáng tuổi cha chú mình như thế được nhỉ? Chẳng lẽ ở nhà các bạn cũng... chửi rủa phụ huynh mình như thế?

Chuyện các bạn trẻ chửi thề, nói tục có vẻ như không còn thuốc chữa bởi những ngôn từ ấy đã trở thành một thói quen mất rồi. Và, có lẽ là để chứng tỏ sự... sang trọng, sành điệu, đẳng cấp của mình, các bạn đã chửi thề bằng cả tiếng ngoại quốc nữa kia. Chuyện có thật trong một quầy bida, sau khi cô gái tóc nhuộm vàng hoe đánh hụt một cơ, cô giậm chân: "Oh, shit!". Chàng trai đi cùng cô, cũng đánh hụt một cơ, cũng vung cây cơ, buông tiếng "Damn it!". Chắc các bạn nghĩ rằng phải vậy mới là người văn minh mà lại không hiểu rằng đó là một sự phỉ báng tiếng Việt - ngôn ngữ là niềm tự hào của dân tộc. Các bạn đâu biết khi buông lời như thế, các bạn đang phỉ nhổ vào chính bản thân mình.

Cứ thế, những minh chứng cho lối ứng xử thiếu văn hóa của người Việt trẻ vẫn đầy dẫy, mà nếu tôi liệt kê chắc cũng được vài trăm hay vài nghìn trang giấy. Điều đó thể hiện gì? Cả một thế hệ trẻ Việt Nam là những người thiếu văn hóa. Vâng, bạn có thể cho là tôi quá lời. Nhưng hãy cứ thử nhìn ra kia mà xem. Trên những chatroom, forum trực tuyến vẫn nhan nhản những lời lẽ cục súc, miệt thị lẫn nhau. Đến cả những em bé đang theo bậc tiểu học vẫn sử dụng tiếng chửi thề làm tiếng đệm đầu môi. Nếu hỏi chúng từ đâu mà biết những từ ngữ như thế, chúng sẽ trả lời cho ta rằng chúng học được từ cha mẹ, anh chị... Từng ngày từng giờ, chúng ta đang làm nhơ nhuốc tâm hồn của trẻ thơ mà không hề cảm thấy đó là tội ác. Thậm chí khi dạy cho các em bé tập nói ta lại càng khuyến khích trẻ chửi thề qua những câu như: "Chửi nó đi con!"

Mang nỗi lòng ấy trò chuyện với vài bạn trẻ, tôi lại thêm bẽ bàng khi các bạn nhìn tôi như nhìn một sinh vật lạ từ hành tinh nào đấy. Và câu trả lời tôi nhận được là: "Chuyện bình thường thế mà cũng lôi ra nói. Điên à?" Vâng, tôi điên nên mới trăn trở về một thế hệ trẻ - tương lai của nước nhà. Tôi điên nên mới nói về những cái mà các bạn mặc nhiên thừa nhận như là chuyện thường ngày và chẳng có gì sai. Tôi điên?

Chuyện văn hóa không chỉ dừng lại đó khi ta nhìn thấy cảnh chen lấn trước quầy vé tàu, xe, chuyện những chàng trai vô tư "ôm cây đợi thỏ" sau những cuộc nhậu triền miên, chuyện nẹt pô xe trước cổng bệnh viện, chuyện bấm kèn tin tin vào giữa đêm khuya khi ta trở về nhà... Những chuyện tưởng chừng như rất nhỏ ấy lại thể hiện một tầm nhận thức thiển cận, một chuẩn văn hóa thấp kém khiến bạn bè các nước miệt khinh ta. Không miệt khinh sao được khi mà rõ ràng là vẫn còn đấy các cô gái trẻ, đầy nhan sắc từng ngày ngồi trên net để "câu" ngoại kiều, cố sống cố chết moi cho được những đồng đô xanh đỏ...

Văn hóa ứng xử của giới trẻ: còn biết nói gì ngoài hai chữ "Hỡi ôi...!"

Sương Lam

Mời thăm và quảng bá www.giaoducconggiao.net
Chân thành cảm ơn

Thứ Bảy, 5 tháng 5, 2012

Gia Trưởng và Công Việc

Đề Tài Gia Trưởng Tháng 5/2012 : 
Gia Trưởng & Công Việc

Kính thưa quý gia trưởng !

Nếu ví gia đình như một con thuyền trên biển đời thì bậc gia trưởng chính là người cầm lái. Vượt qua phong ba bão táp ra sao, đi về phương trời nào, có đến được bến bờ bình an hạnh phúc hay không, phụ thuộc rất nhiều vào bản lĩnh của người cầm lái. Để có thể đảm đương tốt vai trò thuyền trưởng của mình, bậc gia trưởng chúng ta bên cạnh một phẩm chất đạo đức gương mẫu, còn phải có một tay nghề vững vàng mới có thể kiên cường đối mặt trước gian nan. “Tay nghề” ấy, trong một phạm vi nhất định, có thể hình dung như công việc mà người gia trưởng ngày ngày đang miệt mài thực hiện, để duy trì và phát triển cuộc sống của gia đình mình.

1. Vài ý niệm về công việc.

Tháng 5 Dương lịch mở đầu bằng ngày Quốc tế Lao động, trùng hợp với Lễ kính Thánh Giuse Thợ trong Lịch phụng vụ. Xã hội và tôn giáo đều dành một ngày để nhắc nhớ con người giá trị của công việc, qua đó đề cao phẩm giá của người lao động.

Công việc - theo định nghĩa của từ điển tiếng Việt - là “Các việc phải làm nói chung”. Trong Sáng thế ký, nhân loại đã biết làm việc ngay từ buổi đầu của thời tạo dựng. Ngay sau khi ông bà nguyên tổ phạm tội, Thiên Chúa đã truyền cùng A-đam rằng : “Ngươi sẽ phải cực nhọc mọi ngày trong đời ngươi, mới kiếm được miếng ăn từ đất mà ra. Đất đai sẽ trổ sinh gai góc cho ngươi, ngươi sẽ ăn cỏ ngoài đồng. Ngươi sẽ phải đổ mồ hôi trán mới có bánh ăn, cho đến khi trở về với đất, vì từ đất, ngươi được lấy ra. Ngươi là bụi đất, và sẽ trở về bụi đất” ( St 3 17-19). Rồi những trang tiếp theo của Sáng thế ký, ta thấy Ca-in và A-ben đã chăn nuôi và trồng trọt, để rồi dâng tiến lên Gia-vê Thiên Chúa những thành quả lao động của mình. 

Như vậy, công việc, trước hết, là để con người tồn tại. Việc săn bắt, hái lượm của nhân loại buổi đầu, chính là để sống. Rồi sau đó, qua công việc, con người còn tạo ra những giá trị thặng dư, khi ấy công việc không chỉ giúp con người tồn tại mà còn đem lại sự sung túc và phát triển. Rồi xã hội loài người tiến bộ hơn, tính chất của công việc càng thêm phong phú, và tùy theo năng lực cá nhân, nhiều hình thức lao động được hình thành như lao động trí óc, lao động chân tay, lao động dịch vụ,… tạo ra muôn vẻ các ngành nghề khác nhau. 

Kết quả của công việc không chỉ giúp con người tồn tại và phát triển, mà còn trở thành một động lực thúc đẩy sự tiến bộ của xã hội. Một nền pháp luật tiến tiến phải luôn tôn trọng và bảo vệ quyền lợi chính đáng của người lao động. Mọi biểu hiện bóc lột, chiếm đoạt thành quả lao động của người khác đều phải bị lên án.

2. Những biểu hiện sai lầm của con người trước công việc.

Lao động là bổn phận của một công dân trưởng thành. Là một gia trưởng, lao động càng trở nên ý nghĩa hơn khi nó góp phần đem lại sự thăng tiến cho các thành viên trong gia đình. Song, buồn thay, trước công việc, không ít gia trưởng đã có những ứng xử sai lầm, khiến con thuyền gia đình phải nhiều phen như mất phương hướng giữa biển đời đầy bất trắc :

- Lười biếng, chạy trốn công việc :

Chẳng có công việc nào không đòi hỏi người lao động phải bỏ công sức của mình ra. “Ngươi sẽ phải đổ mồ hôi trán mới có bánh ăn”, lệnh truyền của Thiên Chúa đã “mặc định” cho công việc một tính chất khó nhọc mà người lao động phải đón nhận mới mong có được thành quả như mong muốn. Thật khó hiểu khi có những gia trưởng lười biếng, ngại khó ngại khổ trước mọi công việc, chọn cho mình sự nhàn nhã nhất theo phương châm “Nhịn đói nằm co hơn ăn no vác nặng” ; mặc kệ cho vợ con bươn chải ngược xuôi dòng đời. Người xưa từng nói “Nhàn cư vi bất thiện”, sự lười nhác rất dễ dàng làm tha hóa con người, dễ dàng lôi kéo con người vào chỗ nghiện ngập, bê tha. Hơn thế nữa, nó thể hiện sự ích kỷ, thiếu vắng sự chia sẻ đỡ nâng đối với người vợ, và tạo ra một tấm gương mù trước con cái khiến chúng mất đi phương hướng sống trong cuộc đời sau này.

- Thiên vị công việc :

Đây là biểu hiện của người lấy tiêu chí của đồng tiền để đánh giá sang-hèn cho công việc, như xem thường những công việc lao động chân tay vất vả, khinh chê những nghề nghiệp có thu nhập thấp. Một khi dùng đồng tiền làm thước đo cho giá trị công việc, con người sẽ làm mất đi nhiều vẻ đẹp trên đời. Thử hỏi trong lịch sử nhân loại, đã có mấy họa sĩ hoặc nhà khoa học có thể sống được nhờ vào thành quả lao động của mình ? Thế nhưng, cả nhân loại sau này lại có thể nghiêng mình thán phục trước sự vô giá của một tác phẩm hội họa, hoặc được thừa hưởng trong sung sướng cái phát minh của nhà khoa học kia. Nói cách khác, vẻ đẹp của nghề thuốc nằm trong tấm lòng của lương y, vẻ đẹp của nghề dạy học nằm ở sự tận tâm của người thầy,… Vẻ đẹp và giá trị của công việc hiện ra qua sự đam mê, sự tận tâm hết mình của người lao động. Như vậy, một gia trưởng lao động chân tay vẫn có thể hoàn toàn cao cả vĩ đại trong mắt con cái mình và một gia trưởng trong giới tài phiệt, “đại gia” vẫn có thể để lại cái nhìn khinh bỉ của chính những người thân trong gia đình.

- Nô lệ cho công việc :

Cần xác định rõ, đây không phải là sự đam mê, sự tận tâm hết mình cho công việc như đã nói ở trên. Trái lại, nô lệ cho công việc là một hành vi tham lam không có điểm dừng. Đó là người khi nhìn thấy giá trị tiền bạc nhiều, lợi lộc cao sinh ra từ công việc, đã lao vào công việc bất kể thời gian, công sức, thậm chí bất chấp đạo lý ; miễn sao nguồn thu nhập ấy càng tăng nhiều càng tốt. Hành vi này có thể xảy ra ở cả người giàu lẫn người nghèo, cả người trí thức lẫn người bình dân. Ở họ, công việc không còn là một phương tiện để mưu cầu hạnh phúc, mà đã trở thành một mục tiêu tối thượng của cuộc đời. Nghiệt ngã thay, đã có không ít những tấm gương đâu đó ngoài xã hội về những gia đình, cha mẹ mải mê kiếm tiền quên đi vun đắp tình yêu cho nhau, lơ là trách nhiệm giáo dục con cái. Đến khi của cải chất đầy giữa dinh thự nguy nga, cũng là lúc nhận ra tình yêu vợ chồng lạc điệu, con cái ăn chơi hư hỏng.

- Né tránh những công việc vì lợi ích chung :

Lại có người lấy câu “Ăn cơm nhà, vác tù và hàng tổng” để mỉa mai những người nhiệt thành với công việc chung. Họ vẫn hưởng những thành quả chung ấy, nhưng lại không bỏ ra một chút công sức nào. Họ có thể ngồi không, tán gẫu hàng giờ, hàng ngày không chán, nhưng lại tính toán chi li mỗi khi việc chung cần đến. Thực ra, mỗi người là một phần tử trong cộng đồng. Và cuộc sống chung muốn trở nên tốt đẹp đòi hỏi phải có bàn tay chung sức của mọi người. Những công việc vì lợi ích chung là cần thiết và không thể xem đó là việc của riêng ai. Né tránh việc chung là thái độ sống ích kỷ, thiếu bác ái.

3. Thánh hóa công việc trong đời thường.

Thiên Chúa là Đấng quyền năng nhưng vô cùng yêu thương. Dù ông bà nguyên tổ bất trung mang án phạt “phải cực nhọc mọi ngày trong đời, mới kiếm được miếng ăn từ đất mà ra” ; song chỉ Thiên Chúa mới biết cách vẽ đường thẳng ngay trên đường cong. Chỉ mình Ngài mới có thể biến hành vi lao động vốn là một án phạt lại trở nên ngôn ngữ của tình yêu. Từ tấm gương Thánh Giuse Thợ, chúng ta dần nhận ra vẻ đẹp của công việc lao động thường ngày. Thánh nhân, trong một xóm nhỏ tồi tàn vùng Nazaret xưa, đã âm thầm thông qua nghề thợ mộc dưỡng nuôi Con Đức Chúa Trời, Đấng Cứu Thế cho cả và nhân loại. Thành quả lao động của Thánh nhân là một giá trị thần thiêng khi từ nơi Thiên Chúa Cha, chuyển gởi cho nhân loại Đức Giêsu Kitô, mà với cuộc Tử nạn và Phục sinh của Ngài, đã vĩnh viễn sẽ xóa mọi án phạt từ vườn địa đàng thuở xưa, mặc lại cho con người phẩm giá cao trọng làm con Thiên Chúa.

Ánh sáng của Thiên Chúa Phục Sinh đã chiếu tỏa lên vạn vật, lên chính công việc lao động của đời người. Từ đây, công việc không còn mang dánh hình cực nhọc của một án phạt mà đã khoác lên mình khuôn mặt vinh quang của tình yêu. Nghĩa là, qua công việc đời thường, không chỉ đem lại cho con người những giá trị nơi trần thế mà còn phát sinh những ơn ích thiêng liêng cho hạnh phúc đời sau.

Làm việc với niềm đam mê nghề nghiệp, với tình thương hướng tới những người thân, biết nghĩ đến ích chung và tha nhân, đặc biệt sốt sắng thực thi Luật Chúa. Có như thế, gia trưởng chúng ta mới có thể lèo lái con thuyền gia đình mình đến được bến bờ hạnh phúc.

* Cùng suy tư :

Ta đã làm gì để Danh Thiên Chúa được tỏa sáng và bóng dáng của tình yêu được hiện hữu qua chính công ăn việc làm của ta giữa đời thường ?

BAN ĐẶC TRÁCH GIA TRƯỞNG
GIÁO PHẬN XUÂN LỘC.

Thứ Ba, 24 tháng 4, 2012

Cho Cha Mẹ -- Thần Học của Thân Xác


*

Uploaded by  on May 8, 2011
Cha mẹ là người giáo dục đầu tiên cho con cái. Đời sống đức hạnh của cha mẹ là lời dạy quý giá mà đứa con không bao giờ quên. Dầu tuổi trẻ có đi lạc đường, những gì họ học được ở gia đình, dẫn dắt họ trên đường đời (hay dẫn họ lạc xa đường) ngay cả khi họ ở nơi thung lũng của cuộc đời. Những gì họ nhìn thấy từ cha mẹ có thể cho họ một lối thoát.
Thiên Chúa trao ban cho cha mẹ quyền năng cao cả mà lắm khi họ không nhận ra để xử dụng nó.
Xin Chân Phước Gioan Phaolô II, cầu giúp cho cha mẹ.


Video clip này là một phần của Theology of the Body for Teens của Ascension Press. Người thuyết trình chính ở đây là Jason Evert. Đề biết thêm về Jason và Cristanina Evert mời bạn đếnhttp://www.chastity.com/node/442



Thứ Hai, 16 tháng 4, 2012

Biến Gia Đình Thành Cõi Phúc An Bình


Điểm quan trọng đầu tiên là tâm tình và cử chỉ biểu lộ lòng yêu thương trìu mến. Đối với chúng tôi, đôi vợ chồng trong cuộc sống nơi gia đình, nên luôn luôn lưu ý đến việc bày tỏ tình yêu, qua các cử chỉ dịu dàng trìu mến như vuốt ve, ôm hôn nhau, đi kèm với lời nói êm ái ngọt ngào. Đôi vợ chồng nên thường xuyên ở trong trạng thái âu yếm nhau, ngước nhìn nhau, chiều đãi nhau và tìm cách làm vui lòng nhau. Nét thân mật trìu mến trong cử chỉ và lời nói, chứng tỏ một tình yêu chân thật và tràn đầy. Nếu không có nó, thì ngay trong hành động giao hợp, là hành động cao nhất trong mối liên hệ vợ chồng, cũng sẽ mất đi cái ý nghĩa chính yếu của tình yêu đôi lứa. Xin phép nói thêm rằng, thái độ cùng cử chỉ trìu mến, không phải chỉ giới hạn giữa đôi vợ chồng, mà còn lan rộng giữa mọi phần tử trong gia đình như ông bà, cha mẹ, con cái và họ hàng v.v... Làm thế nào để trong đời sống gia đình, chúng ta không bao giờ cảm thấy quá đủ, quá dư thừa trong các cử chỉ âu yếm, biểu lộ tâm tình trìu mến.

Có lẽ có người lên tiếng phản đối, cho rằng chúng tôi quá chú trọng các cử chỉ bên ngoài, và có thể rơi vào tâm thức ”trẻ con” hoặc ”tình cảm ướt át” quá độ, vô ích! Hoặc có người sẽ nói: trở thành vợ chồng rồi, không đủ sao, mà còn phải tìm kiếm thêm những cái "phụ trội” khác? Không! Chúng tôi không quá lời, khi đề nghị những cử chỉ đơn sơ nhưng vô cùng cần thiết! Tâm tình, cử chỉ và lời nói trìu mến, chính là món quà quí báu mà mỗi người có thể trao tặng người bạn đời dấu ái, và con cái của mình, trong đời sống hàng ngày, giữa lòng một gia đình hòa điệu và hiệp nhất.

Điểm quan trọng thứ hai là, tránh xa mọi chỉ trích tiêu cực trong gia đình. Thông thường, việc chỉ trích luôn ẩn chứa một tâm tình xấu, một ý hướng xấu: vạch trần một khuyết điểm, để hạ nhục người bạn đời. Đôi khi để trút bỏ nỗi hậm hực giận dữ đang sùng sục nung nấu trong lòng! Chỉ trích luôn luôn để lại hậu quả tiêu cực. Nó phá đổ lòng tin tưởng lẫn nhau, cũng như phá đổ sự tự tin, và khiến người bị chỉ trích rơi vào mặc-cảm tự-ti. Chỉ trích là liều thuốc độc giết chết sự bình an trong gia đình. Người bạn đời khi lớn tiếng nặng lời chỉ trích, thì họ quên mất rằng: "Gia Đình là nơi nương náu, là cái tổ ấm, là chốn yêu thương, mà mỗi phần tử đều yêu thích và mong mỏi tìm về, mỗi khi gặp phản bội và thất bại bên ngoài xã hội!”

Điểm quan trọng thứ ba là, hãy biến gia đình thành nơi chốn của lời khen tặng. Vợ khen chồng. Chồng khen vợ. Cha Mẹ khen tặng con cái. Hãy quảng đại trong lời khen, và cẩn trọng dè xẻn trong tiếng chê. Hãy nhìn thấy cái hay, cái đẹp, cái tích cực nơi người bạn đời, nơi người khác, để khuyến khích và để phát huy tối đa. Tâm tình tự nhiên này, giúp đôi vợ chồng Công Giáo dễ nâng tâm hồn lên chúc tụng ngợi khen THIÊN CHÚA. Hơn thế nữa, họ còn cảm tạ tri ân THIÊN CHÚA, Đấng là Tình Yêu và là Chủ Tể sự sống.

Nói tóm lại, tình yêu vợ chồng được kiến thiết ngày qua ngày, nhờ các cử chỉ và thái độ giản dị tự nhiên nhất, nhưng cũng chân thành sâu đậm nhất. Chính tâm tình trìu mến là nét đẹp dịu dàng, xóa bỏ mọi chỉ trích tiêu cực nơi gia đình, và biến gia đình thành nơi chốn của phúc lành. Có như thế, Gia Đình Công Giáo sẽ trở thành cõi phúc, chốn an bình. Mong lắm thay! Ước gì được như vậy!

...“Oán hờn và giận dữ là những điều ghê tởm, về chuyện đó kẻ tội lỗi có biệt tài. Kẻ báo thù sẽ chuốc lấy báo thù của THIÊN CHÚA, tội lỗi nó, Người xem xét từng ly. Hãy bỏ qua điều sai trái cho kẻ khác, thì khi bạn cầu khẩn, tội lỗi bạn sẽ được tha. Người với người cứ nuôi lòng hờn giận, thế mà lại xin THIÊN CHÚA chữa lành! Nó chẳng biết thương người đồng loại, mà lại dám xin tha tội cho mình! Nó chỉ là người phàm mà để tâm thù hận, thì ai sẽ xin tha tội cho nó? Hãy nhớ đến ngày tận số, mà chấm dứt thù hận, nhớ mình sẽ phải hao mòn và phải chết, mà trung thành giữ các điều răn. Hãy nhớ đến các điều răn, mà đừng oán hờn kẻ khác, nhớ đến giao ước của Đấng Tối Cao, mà không chấp nhất điều lầm lỗi”(Sách Huấn Ca 27,30/28,1-7).
 
(”La Madonna del Carmine”, Bimestrale dei Carmelitani, Anno LXIV, n.4, 2010, trang 12-13)

Sr. Jean Berchmans Minh Nguyệt