Thứ Sáu, 7 tháng 12, 2012

Sống “Ngày của Chúa” thời hiện đại

Tạ Ân Phúc12/6/2012

Chuyên Đề Giáo Dục: Sống “Ngày của Chúa” thời hiện đại


“Làm việc và nghỉ ngơi”: Hai phạm trù tưởng chừng đơn giản, bù trừ lẫn nhau nhằm giúp đời sống con người được cân bằng. Nhưng trong thực tế lại khác. Người ta bị cuốn hút vào công việc đến độ quên cả nghỉ ngơi, bồi dưỡng; nhất là, trong hoàn cảnh kinh tế khó khăn, chật vật. Cứ ngỡ rằng làm việc quần quật để kiếm đồng tiền bát gạo là có thể mưu cầu cuộc sống ấm no hạnh phúc. Trái lại, đã có biết bao gia đình đổ vỡ, ly tán vì chứng “nghiện công việc”. Đối với người Công giáo, ngày Chúa nhật là ngày thiêng liêng, ngày được thánh hóa để nghỉ ngơi và dành thời gian cho Thiên Chúa và tha nhân. Nhưng, có bao nhiêu người dám hy sinh công việc để sống đúng ý nghĩa “Ngày của Chúa”?

“Hãy trả lại cho Chúa Ngày của Chúa.” Đó là lời mời gọi khẩn thiết của Sr. Maria Nguyễn Thị Hồng Quế, OP khi chia sẻ đề tài “SỐNG ĐỨC TIN TRONG NHỮNG NGÀY LỄ NGHỈ” vào chiều thứ Bảy 24/11/2012 tại Trung tâm Mục vụ TGP. Sài Gòn do Chương trình Chuyên đề Giáo dục, thuộc Ban Mục vụ Gia đình TGP tổ chức.

Giáo huấn của Đức Thánh Cha về Đức Tin

Trong phần dẫn nhập, Sr. Maria đã trích dẫn các bài huấn dụ của Đức Thánh Cha Bênêđcitô XVI trong loạt bài giáo lý các buổi triều yết chung thứ Tư hằng tuần trong Năm Đức Tin để các tham dự viên hiểu rõ hơn về khái niệm đức tin trong cuộc sống hôm nay. Trong bài giáo lý đầu tiên về Năm Đức Tin, Đức Thánh Cha đã nhấn mạnh đến vấn đề phải làm sao hiện thực hóa đức tin trong đời sống: “Đức tin vào Chúa ... là một thứ thay đổi bao gồm toàn thể cuộc sống của chúng ta: các thứ tình cảm của chúng ta, tâm can của chúng ta, trí khôn của chúng ta, ý muốn của chúng ta, thân xác của chúng ta, các cảm xúc của chúng ta và những liên hệ về con người của chúng ta". Nghĩa là, nếu chúng ta thực sự sống đức tin thì đó là một đời sống tương quan với Chúa bằng chính hơi thở, bằng cuộc sống của mình, bằng cả tâm hồn và thể xác vì "Đức tin không phải là một cái gì đó xa lạ và tách biệt khỏi đời sống thực tế, trái lại, nó là chính hồn sống của đời sống".

“Gia đình - Công việc - Ngày lễ”

“Hãy trả lại cho Chúa Ngày của Chúa.” Đây không chỉ là thao thức của riêng Sr. Maria mà còn là thao thức chung của toàn thể Giáo hội, được thể hiện qua những ngày hội thảo tại Đại hội Gia đình Thế giới (Diễn ra từ ngày 29/05 đến 03/06/2012 tại Milan, Ý). Là một trong ba người đại diện cho Việt Nam tham dự suốt một tuần lễ của Đại hội, Sr. Maria muốn chia sẻ lại kinh nghiệm của một tham dự viên đã được truyền thụ những bài giáo lý gây xúc động và giúp ích rất nhiều cho đời sống đức tin của con người thời nay, những bài giáo lý vốn thấm nhuần chủ đề của Đại hội: “Gia đình - Công việc - Ngày lễ”.

Sau khi giới thiệu sơ lược về Đại hội Gia đình Thế giới, Sr. Maria đã trích lời của Đức Hồng y Ennio Antonelli, Chủ tịch Hội đồng Giáo Hoàng về Gia Đình, Trưởng Ban Tổ chức Đại hội để nêu bật chủ đề của Đại hội: “Gia đình, công ăn việc làm và nghỉ ngơi là ba giá trị cơ bản cho một cuộc sống tốt. Đó là một cuộc sống mọi người cần phải có và được tận hưởng. Kinh Thánh trình bày chúng như là ba phước lành, luôn luôn đáng đề cao”; “Khi nói đến sống một cuộc sống gia đình lành mạnh, cả ba yếu tố trên đều là cần thiết. Nhưng làm sao để cân bằng những yếu tố này luôn luôn là một vấn nạn với nhiều gia đình”. 

Một trong ba yếu tố mang tầm quan trọng được Giáo hội lưu tâm qua Đại hội Gia đình chính là Ngày lễ. Sr. Maria đã đi vào đề tài của mình bằng cách đặt ra câu hỏi: Trong ngày Chúa nhật, ai được nghỉ ngơi hoàn toàn từ 8 tiếng trở lên? Ai được nghỉ ngơi hoàn toàn từ 4 tiếng trở lên? Ai được nghỉ ngơi hoàn toàn từ 2 tiếng trở lên? Những câu hỏi có thể làm ai đó giật mình nhìn lại để thấy rằng mình đã chông chênh trong cách quản lý thời gian cho cuộc sống.

Ngày nay, người ta đánh mất chỗ đứng và giá trị của gia đình, họ cướp mất nhiều thứ của gia đình, đáng kể nhất là thời gian. Ngoài những vấn nạn gây nghiện trong xã hội như ma túy, rượu bia, thuốc lá, game oline, internet, phim Hàn quốc, tám chuyện... người ta còn bị một chứng nghiện khác, đó là “nghiện công việc”. Cuộc sống xã hội đã đẩy con người lao vào công việc: những người lao động ở các khu công nghiệp bị dồn ép tăng ca mới có đủ thu nhập trang trải cuộc sống, phải đi làm ngay cả ngày Chúa nhật, thậm chí không có giờ tham dự Thánh lễ. Những người buôn bán tại Việt Nam thì rất khó để nghỉ ngơi ngày lễ và Chúa nhật. Người ta bị cám dỗ kiếm thật nhiều tiền trong những ngày này. Trước vấn nạn trên, Đại hội Gia đình khuyến cáo: “Con người sống trong xã hội hưởng thụ hôm nay đã đánh mất ý nghĩa của ngày nghỉ lễ. Cần phải khôi phục ý nghĩa của ngày lễ, và đặc biệt của ngày Chúa nhật, là “Ngày của Chúa” thời gian dành cho con người và Thiên Chúa…” (GL ĐHGĐTG 7 b.8). 

Theo Sr. Maria, để “Ngày của Chúa” mang lại ý nghĩa đích thực, chúng ta cần phải hiểu và sống ngày lễ theo 3 chiều kích như là 3 cột trụ không thể thiếu trong đời sống mỗi người: thời gian dành cho Chúa, thời gian dành cho gia đình và thời gian dành cho cộng đoàn

Ngày Lễ - Thời gian dành cho Thiên Chúa

Chúa nhật chính là ngày thứ 7 của tạo dựng vì sau sáu ngày làm việc, ngày nghỉ lễ là sự hoàn tất công trình tạo dựng của Thiên Chúa. Sách Sáng Thế đã minh định điều đó: “Thế là trời đất cùng với mọi thành phần đã hoàn tất. Ngày thứ bảy, Thiên Chúa đã hoàn thành công việc Người làm. Khi làm xong mọi công việc của Người, ngày thứ bảy, Thiên Chúa nghỉ ngơi. Thiên Chúa ban phúc lành cho ngày thứ bảy và thánh hoá ngày đó, vì ngày đó Người đã nghỉ, ngưng làm mọi công việc sáng tạo của Người. Đó là gốc tích trời đất khi được sáng tạo” (St 2,1-4a).

Chúa nhật đối với người Kitô hữu là “Ngày của Chúa”, là ngày mừng kính Đấng Phục sinh hiện diện sống động trong cộng đoàn Kitô hữu, trong gia đình và trong đời sống cá nhân. Để thánh hóa ngày nghỉ lễ, dân Chúa cần phải dành một thời gian cho Thiên Chúa và cho con người: “Ngươi hãy nhớ ngày sabat, mà coi đó là ngày thánh. Trong sáu ngày, ngươi sẽ lao động và làm mọi công việc của ngươi. Còn ngày thứ bảy là ngày sabat kính Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi. Ngày đó, ngươi không được làm công việc nào, cả ngươi cũng như con trai con gái, tôi tớ nam nữ, gia súc và ngoại kiều ở trong thành của ngươi. Vì trong sáu ngày, Đức Chúa đã dựng nên trời đất, biển khơi, và muôn loài trong đó, nhưng Người đã nghỉ ngày thứ bảy. Bởi vậy, Đức Chúa đã chúc phúc cho ngày sabat và coi đó là ngày thánh (Xh 20,8-11). 

Ngày Chúa nhật còn để mừng ngày con người được giải phóng vì ngày sabat của Thập giới có một ý nghĩa xã hội và giải phóng: “Ngươi hãy nhớ ngươi đã làm nô lệ tại đất Ai Cập, và Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, đã dang cánh tay mạnh mẽ uy quyền đưa ngươi ra khỏi đó... Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi đã truyền cho ngươi cử hành ngày sabat” (Đnl 5, 15). “Giữ ngày sabat” là lệnh truyền của Chúa, để kỷ niệm con người được giải phóng, vì Chúa đã giải phóng cha ông chúng ta. Nhưng lâu nay, chúng ta quên mất điều đó. Hơn nữa, ý nghĩa sâu xa của việc giữ ngày sabat chính là thực hiện một cuộc “xuất hành”, vì tự do của con người, vượt qua từ “kiếp nô lệ” đến “phục vụ”. Ngày sabat giúp con người thoát khỏi tình trạng lao dịch / nô lệ để đưa vào tình trạng phục vụ trong tự do, hân hoan và chúc tụng. 

Vào thời Chúa Giêsu, người ta giữ ngày sabat đến độ nô lệ ngày sabat. Nhưng Chúa Giêsu đến để kiện toàn ngày sabat, làm cho ngày sabat có một ý nghĩa, vì ngày sabat được lập ra cho con người, để phục vụ con người. Chính vì thế, Đức Giêsu là “Chúa” của ngày sabat. Hầu như các phép lạ Chúa Giêsu làm đều tập trung vào ngày này: bứt bông lúa trong ngày sabat (Mc 2,23-28); chữa lành người bị bại tay (Mc 3,1-6), người phụ nữ còng lưng (Lc 13,10-17), người mắc bệnh phù thũng (Lc 14,1-6), người mù từ khi mới sinh (Ga 9,1-41)… 

Để thực sự sống ý nghĩa “Ngày của Chúa”, mỗi người cần phải tái khám phá ý nghĩa ngày Chúa nhật nhằm dành thời gian hoàn toàn cho “sự tưởng niệm” hằng tuần việc Chúa Giêsu sống lại, để tham dự Thánh lễ nhằm cử hành “sự hiện diện”của Chúa Phục Sinh trong tâm tình mong đợi “lời hứa” trở lại của Chúa trong vinh quang. 

Ngày Lễ - Thời gian dành cho gia đình 

Thực trạng xã hội hôm nay cho thấy người ta quá bận rộn đến nỗi các bậc cha mẹ không còn thời gian dành cho con cái. Một xã hội có vẻ như giàu có không thiếu gì cả nhưng lại thiếu thời gian. Đôi khi mải mê với công việc, người ta tiếc với con cái từng phút, để rồi sau đó xảy ra những chuyện đáng tiếc. Nhiều cha mẹ hôm nay sống trong khổ đau, trong gia đình tan nát vì sự vô tâm, hờ hững, ngang bướng của con cái, chỉ biết sống cho riêng mình, coi gia đình như quán trọ. Để minh họa cho bài nói chuyện thêm sinh động, Sr. Maria đã trình chiếu những đoạn video clip diễn tả nỗi nhớ cha trong khắc khoải của một đứa trẻ hay nỗi thất vọng của một đứa bé khác khi phải ăn cơm hộp do người mẹ quá bận rộn không thể lo bữa cơm cho gia đình.

Tương tự như thế, ngày nay tu sĩ cũng “nghiện công việc”. Các tu sĩ có máy vi tính riêng, có phòng riêng và chỉ biết ở trong phòng mình và lo làm việc, không có sự tương tác với người khác, những anh chị em xung quanh mình. Một vấn đề nữa, tại Việt Nam, tu sĩ cực hơn: ngày thường đã đi làm rồi, và thứ Bảy, Chúa nhật lại làm nhiều hơn. Có lẽ những người có trách nhiệm quản lý con người phải sắp xếp làm sao để anh chị em có thời gian nghỉ ngơi, hầu lấy sức phục vụ người khác.

Trước thực trạng đó, chúng ta cần phải khôi phục ý nghĩa ngày Chúa nhật, ngày nghỉ lễ như thời gian dành cho con người, đúng hơn là thời gian dành cho gia đình của mình, cộng đoàn của mình. Gia đình cần phải sống ý nghĩa của ngày nghỉ lễ, làm sao để sống mà không chỉ như chạy theo mưu sinh nhưng là cuộc gặp gỡ. Gặp gỡ Thiên Chúa và tha nhân chính là trọng tâm của ngày nghỉ lễ. 

Để làm được điều đó, cha mẹ và các thành viên trong gia đình cần có nhiều sáng kiến để tạo bầu khí trong ngày nghỉ cuối tuần, cần giảm những công việc nhà trong ngày nghỉ, chia sẻ bớt gánh nặng công việc cho người phụ nữ trong ngày nghỉ. Cần tập thói quen cho các thành viên trong gia đình biết quý trọng ngày Chúa nhật là “ngày thánh thiêng” dành cho Thiên Chúa và những người thân yêu trong gia đình. Vì thế, nhất quyết không làm việc, không buôn bán trong ngày này. Ngày Chúa nhật cũng là dịp để gia đình chia sẻ với nhau những hoạt động chung như cùng nhau xem phim, đọc sách đạo đức. 

Trong đời sống hôn nhân, đời sống gia đình cũng như cộng đoàn, chúng ta cần lưu tâm nhớ đến những ngày kỷ niệm để các thành viên nhớ đến nhau và có cơ hội tặng quà cho nhau, thể hiện sự quan tâm chăm sóc lẫn nhau: Ngày sinh nhật, ngày lễ bổn mạng, ngày Tết, ngày phụ nữ, ngày lễ của cha, mẹ… Đôi khi những chuyện nhỏ nhặt như viết thư cho nhau, tặng cho nhau những món quà nho nhỏ trong những dịp kỷ niệm lại có sức mạnh biến đổi rất lớn trong đời sống vợ chồng, gia đình.

Trong cuộc sống hằng ngày, bữa ăn gia đình tưởng chừng như là chuyện hiển nhiên xưa nay, nhưng thực tế thật không dễ chút nào khi chúng ta đang sống với tốc độ của thời đại, luôn phải ăn cơm hộp, cơm bụi, cơm bờ, phải bận rộn với những buổi tiệc chiêu đãi… chồng ăn một nơi, vợ một nơi, con một nơi, mạnh ai nấy lo cho bữa ăn của mình. Đó là một trong những nguyên nhân gây đổ vỡ đời sống gia đình, vì thế hãy giữ bếp lửa trong gia đình, hãy giữ giờ cơm trong gia đình. Mỗi ngày, chúng ta cố gắng có được ít nhất một bữa ăn chung đông đủ cả nhà quây quần bên nhau vì bữa ăn gia đình là điểm hội tụ, là chất keo gắn bó mọi thành viên trong gia đình với nhau, tạo nên khuôn mẫu cuộc sống và tính cách con người, số phận của gia đình. Bữa ăn cũng là nơi biểu hiện, gắn kết tình yêu qua việc thể hiện các hành vi, cử chỉ quan tâm tới nhau một cách rất đặc biệt: hy sinh thời gian cho nhau, biết chờ đợi khi một thành viên vắng mặt, cả nhà cùng trò chuyện, chia sẻ, thông tin cho nhau những sự kiện xảy ra trong ngày. Chính bữa ăn là nơi gặp gỡ, quy tụ mọi người đang tản mác mỗi nơi vì công việc của mình, và qua bữa ăn, cả nhà sống trong tâm tình cầu nguyện, tạ ơn.

Ngày Lễ - Thời gian dành cho cộng đoàn

Nếu chỉ dành thời gian cho gia đình hay cộng đoàn nhà tu của mình thôi vẫn chưa đủ. Giáo hội mời gọi chúng ta hãy mở rộng cánh cửa của mình đi ra với thế giới và hãy mở rộng cánh cửa để thế giới đi vào trong cung lòng gia đình của mình. Điều này thể hiện bản chất Giáo Hội của Đức Tin khi Công Đồng Chung Vaticanô II nhắc nhở chúng ta rằng: “Thiên Chúa không thánh hóa con người và cứu độ con người thuần túy theo cá nhân, không liên hệ hay dính dáng gì giữa họ với nhau. Trái lại, Ngài muốn mang con người lại với nhau thành một dân tộc duy nhất, một dân nhận biết Ngài trong chân lý và phụng sự Ngài trong thánh thiện” (Dogmatic Constitution, Lumen Gentium, 9) 

Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI, trong bài giáo lý số 3 về Bản chất Giáo hội của Đức tin vào ngày 31/10/2012, cũng đã hướng chúng ta về một chiều kích Giáo hội của Đức tin. Ngài đã tái khẳng định đức tin vừa là một tặng ân của Thiên Chúa vừa là một đáp ứng của con người, nhờ đó con người được biến đổi: “Đức tin là một tặng ân biến đổi đời sống của chúng ta, vì đức tin giúp chúng ta có thể trông nhìn bằng cặp mắt của Chúa Giêsu, Đấng hoạt động trong chúng ta và hướng chúng ta về tình yêu mến Thiên Chúa và những người khác.” 

Đức tin là một nhân đức đối thần do Thiên Chúa ban nhưng được Giáo hội truyền đạt qua giòng lịch sử. Chính trong cộng đồng Giáo hội mà đức tin của cá nhân mới tăng trưởng và chín mùi. 

Ngày Chúa nhật chúng ta cần phải tham dự Thánh lễ và các sinh hoạt của giáo xứ vì “Ngày của Chúa” là ngày của sự hiệp thông, ngày sống cho nhau, ngày của hiệp thông và sứ vụ. Thánh Thể liên kết chúng ta lại với nhau trong cùng một tấm bánh. Hội Thánh địa phương và giáo xứ là sự hiện diện cụ thể của Tin Mừng giữa lòng đời sống nhân loại. Trong giáo xứ, các gia đình là “Hội Thánh tại gia”, vừa làm thành cộng đoàn giáo xứ vừa là một Hội Thánh giữa các gia đình nhân loại. Cộng đoàn giáo xứ phải lưu tâm đến các gia đình, giúp gia đình thoát khỏi cám dỗ khép kín trong “căn hộ” của mình và mở ra với cuộc lữ hành đức tin.

Chúa nhật còn là ngày của đức ái vì việc bác ái là một đặc điểm của ngày Chúa nhật Kitô giáo. Việc bác ái được đề nghị như một bổn phận thiết yếu của các gia đình và cộng đoàn. Các gia đình được mời gọi một năm nên có một đến hai lần cả nhà cùng đến thăm và chia sẻ với một mái ấm của trẻ cô nhi, các cụ già neo đơn... để con trẻ có thể tận mắt chứng kiến đời sống cơ cực ở trại mồ côi, những người già neo đơn như thế nào, để chúng có thể được biến đổi và sống trong tâm tình tạ ơn vì chúng có cha, có mẹ và có một cuộc sống đầy đủ.

Chúa nhật cũng là ngày của bài sai sứ vụ khi Chúa mời gọi chúng ta hãy ra đi khỏi căn nhà của mình như Mẹ Maria ra đi lên đường đi viếng bà Êlisabeth. Gia đình được mời gọi để loan báo Tin Mừng theo cách riêng của mình và không ai thay thế được: trong nội bộ gia đình, trong môi trường của mình (hàng xóm, bạn bè, họ hàng), trong cộng đoàn Hội Thánh, trong xã hội. Cha mẹ có nhiệm vụ đào tạo cho con cái biết sống yêu thương, làm việc tông đồ, bác ái, cống hiến cho xã hội vì chúng ta không thể nào mến Chúa mà không yêu thương anh em. “Khi sống đức ái mến Chúa yêu người thì chính từng cá nhân và gia đình được kín múc hoa trái của Chúa Thánh Linh” (FC 64). 

Thay cho lời kết, Sr. Maria đã đưa ra lời cầu nguyện để mọi người ý thức được trách nhiệm của mình nhằm sống “Ngày của Chúa” cách trọn vẹn:

Lạy Chúa, xin cho mỗi người chúng con luôn biết giúp cho cả gia đình/cộng đoàn sống đúng giới răn Chúa dạy, giữ ngày Chúa nhật, ngày của Chúa. Biết dành thời gian cho Thiên Chúa qua việc tham dự Thánh lễ, giữ giờ kinh nguyện trong gia đình. Biết dành thời gian cho gia đình/cộng đoàn bằng sự quan tâm, chăm sóc từng thành viên trong gia đình. Biết góp phần xây dựng gia đình Hội Thánh qua việc tham gia các sinh hoạt trong giáo xứ, giáo phận. Biết yêu thương giúp đỡ người nghèo khổ trong khu xóm, xứ đạo của mình để Tin Mừng của Chúa được lan toả trong lòng xã hội hôm nay. Amen.

Tạ Ân Phúc

Nguồn: http://vietcatholic.net/News/Html/101436.htm

Thứ Năm, 6 tháng 12, 2012

Mối lo thật sự từ phong trào luyện chữ đẹp

6/12/2012 06:04
    Luyện chữ đẹp khi đó không chỉ là phong trào - tự phát hoặc có chỉ đạo - mà đã do một triết lý - có gốc rễ rất sâu ở giới quản lý chi phối. Đây mới là mối lo thật sự" - độc giả Lãnh Nguyên nêu ý kiến khi tham gia diễn đàn "viết chữ đẹp: thế nào là đủ"?
Ảnh minh họa

Câu hỏi thời sự
Đi học, biết chữ, là để đọc lên, viết ra. Nhưng viết bằng bút hay bằng máy tính? Câu hỏi này chưa cần trả lời ngay.
Còn câu hỏi thời sự là: Bọn trẻ hiện đang tập viết (kể cả đang “luyện chữ” để tạo “nết người”); vậy 15 hay 20 năm nữa các cháu sẽ ứng dụng ra sao cho bõ cái công khổ luyện hôm nay?
Dù thờ ơ hay day dứt với câu hỏi, chúng ta vẫn phải xuất phát từ thực tế đất nước. Nước Việt Nam ta vẫn là nước nghèo, chưa thể so sánh với Mỹ, Anh hay Đức…, không thể quá sốt ruột khi thấy những nước này bắt đầu lộ trình thay hẳn chữ viết tay kiểu uốn lượn, mềm mại, bằng thứ chữ “giống chữ in” - để có thể viết nhanh và dễ đọc (thì giờ tập viết dôi ra sẽ dành cho kỹ năng sử dụng bàn phím). Nói khác, vẫn phải tạm để bọn trẻ nước ta tập viết như hiện nay. Vấn đề là chúng cần tập viết tới mức nào và còn kéo dài bao lâu nữa? 
Dẫu sao, các bậc cha mẹ - nếu định lo xa cho con cái - bắt buộc phải tìm câu trả lời cho câu hỏi trên. Và phải có những chữ “nếu” để cân nhắc các trường hợp, vì ai mà dám chắc con cái mình sẽ làm nghề gì sau này?. Nhưng dù “nếu” gì đi nữa, thì 15 hay 20 năm tới máy tính cũng phổ biến, dễ mua và rẻ gấp 5 hay 10 lần bây giờ - nhất là khi so với ngân quỹ gia đình thời đó. Vấn đề là khi đó, con cái chúng ta (ngoài năng lực viết tay), liệu đã quen dùng cả 10 ngón tay để bắt cái bàn phím phải dốc hết năng lực hầu hạ mình hay chưa?. Xin nhớ, bọn trẻ có khả năng mau thuộc (nhanh hơn người lớn) cách dùng cả 10 ngón tay để gõ chữ. Lợi thế của tuổi trẻ là vậy. Chưa cần nói, nếu sử dụng thành thạo bàn phím, con cái chúng ta còn đủ sức tận dụng năng lực vô hạn của chiếc máy tính tương lai - tuy rất gọn nhẹ, rẻ tiền, nhưng có sức mạnh gấp bội so với những máy tốt nhất hôm nay.
Câu trả lời liệu đã dứt khoát?
Chưa thể biết nghề nghiệp tương lai của một học sinh tiểu học, ta vẫn có thể dùng “nếu” để quyết định con cái mình sẽ đầu tư công sức tập viết “chữ đẹp” tới mức nào…
- Nếu sau này đứa con may mắn trở thành người phải viết những bản thảo hàng trăm hoặc ngàn trang để xuất bản, thì viết tay không thể đắc dụng. Mà càng nắn nót để viết cho đẹp sẽ càng tốn thì giờ, vô bổ. Chẳng qua, đó chỉ là lao động chân tay. Nó lạm vào thì giờ tư duy sáng tạo.
- Nếu cha mẹ hy vọng đứa trẻ sẽ trở thành nhà thư pháp, sống bằng nghề (không phải nghiệp dư, hay thú vui)? Trường hợp này, càng cần sớm đánh giá nghiêm chính năng khiếu đứa con mình. Mà chỉ năng khiếu cũng vẫn không đủ, còn phải biết chắc rằng con mình có một năng lực thiên phú, thiên bẩm (trời cho) mới dám quyết định. Chữ thư pháp không chỉ đẹp, còn phải mỹ thuật, bay bổng, toát lên vẻ đẹp cao thượng… Bán chữ kiếm sống thời nay không dễ…  
- Nếu khả năng viết chỉ được dùng để ghi ra mảnh giấy những việc cần làm trong ngày (lắm việc tới mức không nhớ nổi), hoặc danh sách thức ăn cần mua cho bữa tiệc sinh nhật, cho mâm cỗ ngày giỗ… (loại này, mỗi năm sài vài lần là nhiều)… Đôi khi đó chỉ là mảnh giấy cài lên cánh cửa để dặn dò đứa con vài điều phải làm… Loại chữ cho việc này cần luyện tới mức nào?
- Để viết đơn xin việc? Liệu khi đó nhà tuyển dụng có còn dựa vào chữ viết để suy ra “nết người” - như ta nghĩ hôm nay? Nếu chỉ nhờ “chữ tốt” mà trở nên thành thạo trong việc “viết đơn xin việc” thì thật… bất hạnh. Năng lực ra sao mà con người này cứ phải viết hết đơn này tới đơn khác - tới mức thành thạo?
- Xin các bậc cha mẹ cứ “nếu” tiếp, để có quyết định phù hợp cho đứa con mình.Và, cái tiêu chuẩn “đủ nét, đủ dấu và viết nhanh” (như có người đề xuất) có phù hợp cho số học sinh đông đúc tới nhiều triệu?.  
Cân bằng suy xét, không nghiêng sang một cực
Không chấp nhận luyện chữ có nghĩa là… mặc kệ cho con em chúng ta viết chữ xấu (!). Sao có thể suy nghĩ thiếu cân bằng như vậy?. Thế giới muôn màu, sao cứ tự ý đề ra quy tắc cực đoan: “nếu không trắng, tức là đen” (?!).
Mục tiêu “cứng” của môn Tập Viết là thanh toán chữ xấu cho cả lớp, cả trường. Thầy cô có nghĩa vụ như vậy, không châm chước. Còn “viết đẹp” là mục tiêu “mềm”, không thể dành cho cả lớp, cả trường. Và không thuộc trách nhiệm của thầy cô.  
Nói cho công bằng, việc đầu tư thêm công sức và thời gian để “luyện chữ” (ngoài thời gian quy định “tập viết” trong chính khóa) là quyền riêng tư, không ai có thể cấm đoán. Những người có năng khiếu cứ việc lập câu lạc bộ, cứ luyện, cứ thi. Và có giải. Bên cạnh nó là những câu lạc bộ Toán, Văn, Sử, Địa… Rất đáng khuyến khích.Nhưng cũng không ai được phép cưỡng ép các cháu luyện chữ, buộc các cháu phải tham gia câu lạc bộ, này hay khác.
Có một số thầy cô thừa sức luyện chữ đẹp cho học sinh lớp mình; nhưng cũng có nhiều thầy cô không đủ sức làm việc đó. Đây là việc tùy tâm, không ai dám bắt buộc các thầy cô. Nhưng tất thảy mọi thầy cô đều phải có bốn phận (trách nhiệm) dạy cho 100% học sinh lớp mình tập viết chữ không xấu - tức là đủ nét, đủ dấu, dù viết nhanh. Xin hãy cân nhắc giữa gây dựng “phong trào chữ đẹp” với “phong trào thanh toán chữ xấu”. Giá mà… làm được cả hai thì còn gì bằng. Vấn đề là nếu chỉ làm được một, thì sao? Chọn cái nào?   
Cái gì làm chúng ta thật sự lo lắng
Đã có nhiều trường hợp (báo chí nêu) thầy cô động viên (bắt buộc?) cả lớp dự thi “chữ đẹp”, tới mức tháo vở, xé trang (để thay những tờ viết chưa đẹp hoặc lỡ dây bẩn)… và cháu chữ đẹp phải “tương trợ” (viết thay) cháu viết chưa đẹp… Tuy đây là hiện tượng đáng lo - triệu chứng lồ lộ của “bệnh thành tích”; nhưng còn đáng lo hơn nữa, nếu người quản lý dùng quyền lực đặt ra những kỳ thi “chữ đẹp”, từ cấp trường, cấp quận-huyện, tới tỉnh và tận trung ương - nghĩa là đã hợp pháp hóa và pháp lệnh hóa nó. Đã có cháu được giải toàn quốc về chữ đẹp (!). Luyện chữ đẹp khi đó không chỉ là phong trào - tự phát hoặc có chỉ đạo - mà đã do một triết lý - có gốc rễ rất sâu ở giới quản lý chi phối. Đây mới là mối lo thật sự. 
Ta thương các cụ hay các cụ thương ta?
     - Cách đây 50 năm, ai có cái “bút máy” là oai lắm, vì không cần chấm vào lọ mực mà vẫn viết liên tục suốt buổi học. Chỉ riêng việc gọi cái bút (khá thô sơ) này là “máy” đã đủ nói lên nhiều điều. Thật đáng ái ngại cho trình độ dân trí của các cụ thời đó. Vậy thì hôm nay, chẳng cần đợi 50 năm, mà chỉ cần 10 năm nữa thôi, ta sẽ thấy những máy tính “hiện đại” của năm 2012 sẽ không còn hiện đại nữa. Ấy thế mà chúng ta vẫn say sưa khuyến khích con cái luyện chữ - giống như cái thời chữ Hán còn độc tôn. Mà không phải chỉ luyện cho cháu nào có năng khiếu, mà còn muốn… luyện tất (!). Liệu thế hệ sau nhìn lại ta, họ có thương ta?
     - Cách đây cả trăm năm (thời Đông Kinh Nghĩa Thục, 1906) các bậc tiền bối đã đưa ra phương châm Thực Học - Thực Nghiệp (học “thật”, học những gì “thiết thực” - để có một nghề “đúng nghĩa”). Vậy, luyện chữ gian khổ đến vậy, có thiết thực?
Chúng ta đánh giá người xưa là thiển cận hay viễn kiến? Các cụ có bảo thủ hơn chúng ta hôm nay? Chúng ta thương cảm người xưa, hay ngược lại: các cụ trách chúng ta?
  • Lãnh Nguyên



 Nguồn: http://vietnamnet.vn/vn/giao-duc/99769/moi-lo-that-su-tu-phong-trao-luyen-chu-dep.html

Thứ Ba, 4 tháng 12, 2012

Tiền bạc không phải là mục đích cuối cùng

Pt Huỳnh Mai Trác phỏng dịch11/26/2012


Rome (Zenit.org) Tiền bạc “không phải chỉ dùng để sinh lợi” và “cũng không phải tự nó là cứu cánh” Đức Cha Buchel, Phó Chủ tịch Hội Đồng Giám mục Thụy sĩ trong một thông điệp gởi đi trong dịp lễ quốc khánh của xứ này. Hội đồng Giám mục gởi thông điệp này trong khi đang có khủng hoảng về tài chánh và xác định “ tiền bạc để cho con người xử dụng chứ không phải để làm chủ con người.

Tôi có thể rút từ ngân hàng số tiền mà tôi đã dành dụm được. Và tôi có thể đem số tiền dó dể xử dụng khi tôi cần đến nó. Tôi có thể dùng để thanh toán các hóa đơn, trả tiền tàu v.v. Tiền bạc có thể dùng để mua sắm đồ dùng cần thiết. Nhưng tiền bạc cũng cần thiết cho việc học hành, cho văn hoá và cho những tiện nghi. Tiền bạc rất cần thiết cho gia dụng hằng ngày trong cuộc sống.

Trái lại, những tin tức của những tháng sau cùng và những năm sau cùng này làm cho tôi rất lo lắng. Có thể nào hệ thống tài chánh của chúng ta không còn hoạt động nữa? Tôi nghe những khủng hoảng tài chánh, những khủng hoảng về những kế hoạch, những khủng hoảng kinh tế thế giới. Những nhà chuyên môn quốc tế cũng vậy và họ tiên đoán rằng hệ thống tài chánh thế giới sẽ có thể sụp đổ.

Chúng ta phải đối diện với tình trạng tài chánh thế giới mà không có một cá nhân nào, một ngân hàng nào và một chính phủ nào mà có thể kiểm soát nổi. Trái lại: dường như có những nhóm tài chánh quốc tế đang kiểm soát chặt chẻ chúng ta.

Điều gì sẽ xẩy ra? Và khủng hoảng có xẩy ra trong vùng của chúng ta không? Những cơ quan xã hội và quỷ tiền tệ hưu bổng sẽ có ở trong tình trạng nguy hiểm không? Lòng tin cậy của chúng ta về hệ thống tài chánh và kinh tế sẽ bị tổn thương. Và những nổi lo âu đó được nhiều người chia sẻ. Tại Âu châu cũng như tại nhiều quốc gia. Lòng tin cậy vào chính trị, ngân hàng và những cơ quan tài chánh đang xuống dốc.

Lòng tin cậy rất cần thiết trong địa hạt tài chánh. Hệ thống tài chánh và kinh tế không thể tiến bộ nếu không được tin cậy. Lòng tin cậy là căn bản mọi giao tiếp giữa con người.

Là người của Giáo Hội, tôi biết rỏ điều đó: lòng tin cậy sẽ mất đi và muốn tạo dựng lại rất là khó khăn. Lòng tin cậy phải được xây dựng với một nền tảng thật vững chắc. Nếu tôi đưa tiền bạc cho một ai, thì tôi hy vọng họ dùng đúng đắn và trách nhiệm. Mối liên hệ với tiền bạc được xem như đúng đắn và trách nhiệm theo quan điểm của người tin Chúa?

Tiền bạc giúp đỡ các giao dịch kinh tế. Một món hàng không thể chế tạo ra hoặc trao đổi mà không có tiền bạc. Theo lối nhìn của người Kitô hữu, điều cần biết về sinh hoạt buôn bán khi đầu tư . Xí nghiệp này có điều kiện lời lãi không? Nó có chú trọng đến những tài nguyên thiên nhiên không? Nó có tôn trọng luật pháp không? Có tôn trọng nhân phẩm của công nhân không? Đó là những vấn nạn mà đòi hỏi chúng ta phải thông suốt. Và như thế người đầu tư tiền bạc vào một xí nghiệp cũng có một phần trách nhiệm.

Tiên bạc không phải được tạo nên để tự nó sinh lợi. Tiền bạc không phải tự nó là cứu cánh. Nếu trong thế giới tài chánh trở nên độc lập, thì tài chánh trở nên vô nghĩa. Ai đầu tư và sinh lời. cũng có thể làm cho những người khác hành động vô trách nhiệm đau khổ. Tôi cũng đã gặp gở những nhà chuyên môn về tài chánh. Họ đều nói là họ công nhận cảm tưởng của tôi là kẻ không chuyên môn về kinh tế. Những thị trường tài chánh quốc tế luôn thay đổi với hệ thống nội bộ, nhiều khi không dính dáng gì đến những nhu cầu kinh tế và thật sự có thể kiểm soát được.

Chúng ta cần khẩn cấp tìm ra những phương pháp và đường lối để điều chỉnh sự mất quân bình nguy hiểm này. Về kinh nghiệm của những năm cuối này thật là vô trách nhiệm để xẩy ra những sự việc như ngày hôm nay. Bởi vậy tôi cầu chúc cho các chính trị gia và những người có trách nhiệm trong thế giới tài chánh, lựa chọn những biện pháp thay đổi cần thiết.

Không nên đầu tư vào những cuộc buôn bán có quá nhiều bất trắc rủi ro. Nhiều xí nghiệp tài chánh quốc tế dù đã thành lập lâu năm đã gom góp lại những tài sản đầy rủi ro để bán lại. Nhưng một ngày nào đó sẽ có người phải trả giá quá đắt. Chúng ta nhớ lại những đầu tư bất động sản ở Hoa Kỳ đã làm cho một số ngân hàng vở nợ và kéo luôn các ngân hàng thế giới. Đìều đó được giải thích như thế này, những rủi ro đó được một nhóm tư bản che giấu, lừa dối và cho đến ngày bị bùng nổ.

Tìm mọi cách để có thật nhiều tiền là một điều rất dể hiểu. Vì tiền bạc đem lại nhiều tiện nghi, tuy vậy cũng rất giới hạn. Giới hạn đó là không nên sống xa xỉ quá trên số tiền mà mình có thể có. Đó là sống triền miên trên nợ nần. Điều này không chỉ nói về cá nhân mà thôi mà còn áp dụng cho quốc gia nữa.Tiền lời cần phải trả nên có nhiều ngân hàng không cho khách hàng vay. Sống làm sao cho vừa đủ là một nghệ thuật. Người tìm được bí quyết này sẽ tìm ra được nhiều nguồn lợi khác nữa.

Có nhiều người không bao giờ suy nghĩ về vấn đề tiền bạc vì họ không có nhiều tiền mà chỉ nghỉ làm sao cho đủ sống. Như vậy người Kitô hữu phải làm thế nào cho việc phân phối tiền bạc cho công bình. Điều đó có thể là có một cử chỉ về chính trị hoặc một dấn thân vào công việc bác ái trong vùng, tích cực đóng góp vào các chương trình cứu trợ và phát triển. Chúng ta không chỉ dành giúp cho những kẻ đang túng thiếu mà còn có viển ảnh nhìn về tương lai, về vấn đề thất nghiệp nhất là những người đang ở ngoài lề xã hội. Trong lúc đó thì những nhà triệu phú càng ngày càng giàu xụ trong những năm kinh tế khủng hoảng này.

Thánh Basile, là Giám mục của vùng kinh tế Cesarê vào thế kỷ thứ IV, đã diễn tả những sự giàu có với những tư tưởng Á đông của thời đại bấy giờ: “Bánh mì dư thừa chất trong nhà bạn thật là vô ích, đó chính là bánh của những người đang đói; chiếc áo để dành trong tủ áo của bạn, chinh là áo của những kẻ đang trần truồng; tiền bạc bạn chôn dấu, chính là tiền của kẻ nghèo; đó là bạn đang chứng kiến những điều mà tình thương xót của bạn không hề rung động, đó là những bất công mà bạn đang vấp phạm”.

Những nhận định của Đức Giám mục Basile luôn hợp thời. Và điều này vẫn mãi có gía trị với chúng ta ngày hôm nay: tiền bạc để cho con người xử dụng, chứ con người không phải là nô lệ cho đồng tiền. Ngày 1 tháng 8 là ngày lý tưởng để mang lại ý niệm rỏ ràng cho chúng ta về tiền bạc, và mang lại cho chúng ta môt căn bản vững chắc một hình thức mới về lòng tin cậy.

Trong xứ sở của chúng ta, lòng tin cậy của chúng ta không chỉ đựa trên công nhân. Chúng ta còn phải nhìn về tương lai với một lòng tin cậy hoàn toàn vào Thiên Chúa. Chính trong ý nghĩa đó tôi cầu chúc cho tất cả mọi người với lòng tin tưởng vững chắc, một ngày lễ mồng 1 tháng 8 thật vui vẽ .

Fribourg / St-Gall, juillet 2012


Pt Huỳnh Mai Trác phỏng dịch
Nguồn: http://vietcatholic.net/News/Html/101272.htm

Thứ Sáu, 30 tháng 11, 2012

ĐTC: Gia đình là môi trường thuận tiện đầu tiên để thông truyền đức tin


Linh Tiến Khải11/28/2012

Gia đình là nơi thuận tiện đầu tiên để nói về Thiên Chúa, để thông truyền đức tin cho các thế hệ mới. Vì thế các phụ huynh phải biết tỉnh thức và nhậy cảm chú ý tới các dịp thuận tiện giúp trình bầy đức tin cho con cái với niềm vui, khả năng lắng nghe và đối thoại.

Đức Thánh Cha Biển Đức XVI đã nói như trên với 7.000 tín hữu và du khách hành hương tham dự buổi tiếp kiến chung trong đại thính đường Phaolô VI sáng thứ tư 2́́́́8-11-2012.

Trong bài huấn dự ngài đã khai triển đề tài ”Làm thế nào để thông truyền đức tin cho con người ngày nay?” Tình yêu của Thiên Chúa đã được đổ vào lòng chúng ta và bao trùm cuộc sống để nó trở nên tốt lành. Như thế chính Thiên Chúa là Tình Yêu và Sự Thiện tối cao tự thông truyền cho chúng ta. Và nếu chúng ta nói về Thiên Chúa là bởi vì chúng ta biết rằng Người yêu thương chúng ta, chú ý tới chúng ta và tình yêu của Người vô tận và vĩnh cửu, lớn lao hơn tình yêu của cha mẹ và tình yêu vợ chồng. Việc loan báo được dành cho tất cả mọi người ấy dẫn đưa tới cuộc gặp gỡ với Thiên Chúa Tình Yêu, được mạc khải một cách duy nhất nơi Đức Giêsu chịu đóng đanh. Vì không có ơn cứu rỗi cho nhân loại, nếu không phải là nơi Thiên Chúa của Đức Giêsu Kitô. Nơi Người mọi người tìm được sự thành toàn tràn đầy của mình. Thông truyền sứ điệp này là một nhiệm vụ nòng cốt của đức tin: đức tin đến từ việc lắng nghe Lời Chúa (Rm 10,14.17).

Nhưng làm thế nào để thông truyền Tin Mừng, để mở đường cho sự thật cứu độ trong con tim thường đóng kín của con người ngày nay và trong trí khôn đôi khi bị biết bao chói lòa của xã hội làm lo ra? Trước hết phải nhìn kiểu hành động của Thiên Chúa trong lịch sử, bởi vì chính Thiên Chúa đã bước vào việc thông truyền với con người, còn hơn thế nữa Ngài tự thông truyền cho con người cho đến chỗ nhập thể làm người. Nơi Đức Giêsu thành Nagiarét chúng ta gặp gỡ gương mặt của Thiên Chúa, từ Trời xuống để chìm ngập trong thế giới loài người và dậy họ ”nghệ thuật sống”, chỉ cho họ con đường hạnh phúc, để giải thoát chúng ta khỏi tội lỗi và khiến cho chúng ta trở thành con cái Thiên Chúa một cách tràn đầy (Ep 1,5; Rm 8,14). Đức Thánh Cha định nghĩa việc nói về Thiên Chúa như sau:

Nói về Thiên Chúa trước hết có nghĩa là biết rõ điều chúng ta phải đem đến cho con người ngày nay: là Thiên Chúa của Đức Giêsu Kitô như câu trả lời cho vấn nạn nền tảng tại sao lại sống và sống ra sao.

Vì thế nói về Thiên Chúa đòi hỏi một sự liên tục lớn lên trong đức tin, một sự thân tình với Đức Giêsu và Tin Mừng của Người, một sự hiểu biết Thiên Chúa sâu xa và một đam mê mạnh mẽ đối với chương trình cứu độ của Người, không nhượng bộ cám dỗ thành công, nhưng theo phương pháp của Thiên Chúa, phương pháp của sự Nhập Thể trong gia đình Nagiarét đơn sơ và trong hang đá Bếtlehem, phương pháp của dụ ngôn hạt cải. Cần phải không sợ hãi sự khiêm tốn của các bước đi bé nhỏ và tin cậy nơi men vào trong bột và làm cho nó dậy lên một cách nhiệm mầu (x. Mt 13,33). Trong việc nói về Thiên Chúa, trong công tác rao giảng Tin Mừng dưới sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần, cần tái chiếm trở lại sự đơn sơ, trở lại với điều nòng cốt của việc loan báo: đó là Tin Mừng của Thiên Chúa Tình Yêu, đến gần chúng ta trong Đức Giêsu Kitô cho tới Thập gía và trong sự Sống lại, trao ban hy vọng và mở ra cho chúng ta cuộc sống vĩnh cửu. Thánh Phaolô là người đã nêu gương cho chúng ta, khi nói với tín hữu Côrintô rằng người ”không dùng lời lẽ hùng hồn hoặc triết lý cao siêu mà loan báo mầu nhiệm của Thiên Chúa... và người không muốn biết đến chuyện gì khác ngoài Đức Giêsu Kitô, mà là Đức Giêsu Kitô chịu đóng đinh vào thập giá” (1 Cr 2,1-2). Thánh Phaolô cho biết người không có ý cho cái gì của người, nhưng rong ruổi trên các nẻo đường xa xôi chỉ với ước muốn loan báo Chúa Kitô chịu đóng đinh, suối nguồn ơn cứu rỗi, Đấng đã chinh phục thánh nhân trên đường đến thành Damasco.

Tiếp tục bài huấn dụ Đức Thánh Cha giải thích việc loan báo Tin Mừng như sau:

Nói về Thiên Chúa có nghĩa là dành khoảng trống cho Đấng làm cho chúng ta hiểu biết Thiên Chúa, mạc khải gương mặt tình yêu của Người; có nghĩa là lấy đi chính cái tôi bằng cách hiến dâng nó cho Chúa Kitô, trong ý thức rằng không phải chúng ta chiếm được người khác cho Thiên Chúa, mà phải chờ đợi họ từ chính Thiên Chúa, phải khẩn nài họ từ Người. Việc nói về Thiên Chúa luôn luôn nảy sinh từ việc lắng nghe Người, từ việc đắm chìm trong một đời cầu nguyện sâu xa.

Thật thế, đối với thánh Phaolô thông truyền đức tin là nói lên một cách công khai điều mình đã nghe đã thấy trong cuộc gặp gỡ với Chúa Kitô, điều đã mình kinh nghiệm trong cuộc sống được biến đổi bởi cuộc gặp gỡ ấy: nghĩa là đem Đức Giêsu đến, mà thánh nhân cảm thấy hiện diện trong mình và đã trở thành định hướng đích thực cuộc sống của người, để làm cho mọi người hiểu rằng Chúa Giêsu cần thiết cho thế giới và định đoạt đối với sự tự do của mỗi người.

Và thánh Phaolô để cho toàn cuộc sống của mình bị lôi cuốn vào công tác loan báo Chúa Kitô. Để nói về Thiên Chúa cần phải nhường chỗ cho Người trong sự tín thác rằng Người hành động trong sự yếu đuối của chúng ta, dành chỗ cho Người không sợ hãi, với sự đơn sơ và niềm vui trong xác tín sâu thẳm rằng càng để Người vào trung tâm bao nhiêu, thì việc loan báo của chúng ta càng sinh hoa trái bấy nhiêu. Điều này cũng có giá trị đối với các cộng đoàn Kitô: được mời gọi cho thấy hoạt động biến đổi của ơn thánh Chúa, bằng cách thắng vượt các khuynh hướng cá nhân chủ nghĩa, các khép kín, các ích kỷ, thờ ơ và bằng cách sống tình yêu Thiên Chúa trong các tương quan thường ngày.

Chúa Giêsu đã nói về Thiên Chúa mà Người gọi là Abba Cha và về Nước Thiên Chúa với cái nhìn tràn đầy thương xót đối với các khó khăn của cuộc sống con người. Việc thông truyền của Người đã là một việc giáo dục liên lỉ cúi xuống trên con người để dẫn đưa nó tới với Thiên Chúa.

Các Phúc Âm cho chúng ta thấy Chúa Giêsu đã chú ý tới mọi hoàn cảnh Người gặp gỡ, Người đắm mình trong thực tại của con người thời đó với sự tin tưởng tràn đầy nơi sự trợ giúp của Thiên Chúa Cha. Các môn đệ sống với Chúa và các đám đông gặp gỡ Người trông thấy cung cách nói năng hành xử của Người, và nhận ra nơi đó hoạt động của Chúa Thánh Thần, hoạt động của Thiên Chúa. Nơi Chúa Giêsu lời loan báo và cuộc sống giao thoa nhau: Người hành động và giảng dậy luôn luôn khởi hành từ một tương quan thân tình với Thiên Chúa Cha. Kiểu hành xử này trở thành chỉ dẫn nòng cốt đối với các Kitô hữu. Kiểu sống trong đức tin và tình bác ái trở thành việc nói về Thiên Chúa ngày nay; vì với một cuộc đời được sống trong Chúa Kitô, nó cho thấy sự đáng tin cậy của những điều chúng ta nói bằng lời. Và ở đây chúng ta phải chú ý nhận ra các dấu chỉ thời đại, nghĩa là nhận ra các tiềm năng, các ước muốn, các chướng ngại gặp phải trong nền văn hóa hiện nay, đặc biệt phải biết nhận ra ước muốn sự trung thực, khát vọng sự siêu việt, sự nhậy cảm bảo vệ thiên nhiên và không sợ hãi thông truyền câu trả lời mà niềm tin nơi Thiên Chúa cống hiến. Năm Đức Tin là dịp giúp tái khám phá ra các lộ trình mới trên bình diện cá nhân và cộng đoàn với trí tưởng tượng được Chúa Thánh Thần linh hoạt, để tại mọi nơi sức mạnh của Tin Mừng trở thành sự khôn ngoan và định hướng cho cuộc sống.

Cả trong thời đại chúng ta nơi đặc ân để nói về Thiên Chúa là gia đình, là trường học đầu tiên để thông truyền đức tin cho các thế hệ mới. Trong Hiến Chế về Giáo Hội và Sắc lệnh về Hoạt động tông đồ Công Đồng Chung Vaticăng II coi cha mẹ là các sứ giả đầu tiên của Thiên Chúa. Họ được mời gọi tái khám phá ra sứ mệnh của mình, bằng cách lãnh trách nhiệm giáo dục và mở các lương tâm của các trẻ nhỏ cho tình yêu của Thiên Chúa, như một việc phục vụ nền tảng đối với cuộc sống của chúng, trong việc là các giáo lý viên và là các thầy dậy đức tin đầu tiên cho con cái họ. Và trong nhiệm vụ này điều quan trọng trước hết là sự tỉnh thức, có nghĩa là biết tiếp nhận các dịp thuận tiện để nói về đức tin trong gia đình, và giúp chín mùi suy tư có óc phán đoán đối với nhiều tình trạng điều kiện hóa mà con cái phải chịu. Sự chú ý ấy của cha mẹ cũng là sự nhậy cảm nhận ra các vấn nạn tôn giáo, đôi khi hiển nhiên đôi khi dấu ấn trong tâm hồn con cái. Đức Thánh Cha nói tới niềm vui trong kiểu thông truyền đức tin trong gia đình như sau:

Việc thông truyền đức tin phải có giọng điệu tươi vui. Đó là niềm vui phục sinh không im lặng hay dấu diếm các thực tại của sự đau đớn, khổ sở, mệt nhọc, khó khăn, hiểu lầm và của cả chính cái chết, nhưng biết cống hiến các tiêu chuẩn giúp giải thích tất cả trong viễn tượng của niềm hy vọng Kitô. Cuộc sống tốt lành của Phúc Âm chính là cái nhìn mới mẻ này, là khả năng nhìn mọi hoàn cảnh với chính đôi mắt của Thiên Chúa.

Thật là quan trọng giúp mọi thành phần trong gia đình hiểu rằng đức tin không phải là một gánh nặng, mà là suối nguồn của niềm vui sâu xa, là nhận ra hành động của Thiên Chúa, nhận biết sự hiện diện của sự thiện không gây ồn ào, và cống hiến các định hướng qúy báu giúp sống tốt cuộc đời mình. Và sau cùng là khả năng lắng nghe và đối thoại: gia đình phải là một môi trường, trong đó con người tập sống với nhau, giải quyết các xung khắc trong việc đối thoại với nhau bằng cách lắng nghe, nói, hiểu và yêu nhau, để là dấu chỉ của tình yêu thương xót của Thiên Chúa. Như thế, nói về Thiên Chúa có nghĩa là làm cho người ta hiểu bằng lời nói và cuộc sống rằng Thiên Chúa không phải là Đấng tranh đua với cuộc sống chúng ta, nhưng là Đấng bảo đảm đích thực cho sự cao cả của con người.

Đức Thánh Cha đã chào tín hữu bằng nhiều thứ tiếng khác nhau. Với các bạn trẻ ngài ước mong Mùa Vọng sắp bắt đầu là dịp các bạn trẻ tái khám phá ra tầm quan trọng của niềm tin nơi Chúa Kitô; người đau yếu biết đương đầu với các khổ đau bằng cách ướng cái nhìn lên Chúa Hài Đồng; và các cặp vợ chồng mới cưới gia tăng ý thức về sự hiện diện của Thiên Chúa trong gia đình mới của họ.

Sau cùng Đức Thánh Cha đã cất kinh Lậy Cha và ban phép lành tòa thánh cho mọi người.

Linh Tiến Khải
Nguồn: http://vietcatholic.net/News/Html/101310.htm

Thứ Ba, 27 tháng 11, 2012

Dạy bé sống thành thật

Thành thật là đức tính cha mẹ mong muốn có ở bé ngay từ khi còn nhỏ. Tuy nhiên, không phải lúc nào bé cũng nói thật.

Lý do bé nói dối

- Do bé chưa đủ nhận thức để phân biệt sự thật và cái không phải sự thật. Vì thế, ở tuổi mẫu giáo, bé có xu hướng nói dối do những điều tưởng tượng hơn là nhìn nhận vào thực tế. Chẳng ngạc nhiên gì nếu bé cố tình bao biện mình không đánh chị gái (vì bé ước gì mình không làm thế).

- Bé cố giấu tội lỗi vì biết chắc sẽ bị trừng phạt.

- Nói dối có thể để tránh những quy tắc không mấy dễ chịu từ cha mẹ, như bé bảo đã làm hết bài tập để được ra ngoài chơi.


Cách xây dựng đức tính thành thật cho con

Đừng cố hỏi lý do nếu bạn đã biết rõ câu trả lời: Thay vào đó, hãy tập trung vào cảm giác của bé, như: “Mẹ biết con nói dối vì sợ bị mẹ đánh. Nhưng nếu con nói thật thì mẹ hứa sẽ không đánh con”…

Ngoài ra, bạn cũng có thể tạo cơ hội để cho bé sửa chữa; chẳng hạn, nếu bạn biết bé chưa hoàn thành bài tập, tránh hỏi: “Con chưa làm bài phải không? (vì có thể tạo điều kiện cho bé nói dối); thay vào đó, có thể nói: “Mẹ có cảm giác con chưa làm xong bài” sau đó, cho bé cơ hội để hoàn thành trách nhiệm: “Con cho mẹ kiểm tra bài tập. Nếu chưa xong thì con làm nốt đi”.

Đừng bao giờ gọi con là “kẻ dối trá”. Những cách gọi tiêu cực thế này sẽ làm hỏng lòng từ trọng của bé và hướng bé tới những hành vi xấu hơn. Tương tự, cũng không cần thiết để thống kê lỗi lầm của con: “Đây là lần thứ 3 con nói dối. Lần nào cũng nói dối”.

Nếu bạn biết con đang nói dối, cần chia sẻ với bé ngay lập tức: “Mẹ biết đó không phải sự thật. Có thể con nói dối vì sợ mẹ buồn nhưng đó không phải cách để giải quyết mọi chuyện. Con hãy nói thật cho mẹ nghe xem”.

Hiểu cảm giác khó khăn của bé khi phải nói thật

Bé nói dối điểm số ở trường học có thể do đang chịu áp lực thành tích của cha mẹ. Hoặc bé liên tục nói dối do những quy tắc của bạn quá nặng nề. Nên nhớ, để chinh phục bé hay nói dối, bạn cần giảm thiểu tối đa những yếu tố gây stress cho con. Một khi nhận diện được lý do tiềm ẩn, bạn hãy khuyến khích con nói về lỗi lo lắng của chính bản thân mình: “Mẹ biết con rất mong được điểm cao nhưng con có khó khăn gì trong bài kiểm tra vừa rồi?”.

Dạy bé về tác hại của lời nói nói

Hãy nói với bé điều quan trọng của sự thành thật và cảm giác mất lòng tin của cha mẹ khi bé hay nói dối. Ngoài ra, có thể đọc cho bé nghe quyển sách mà đưa ra thông điệp rõ ràng rằng, nói dối sẽ gây họa cho bản thân mình và người xung quanh. 

Làm gương cho con

Các bé học tập thông qua việc bắt chước hành vi hơn là chỉ nghe mệnh lệnh của cha mẹ. Thật không tốt nếu có điện thoại của mẹ chồng, bạn lại nhờ người giúp việc nhắn: “Bảo tôi không có ở nhà” hoặc nói dối tuổi của con nhằm miễn phí vé đi xe bus. Bằng cách này, bạn vô tình dạy cho con, nói dối là điều được chấp nhận.

Cổ vũ sự thành thật

Luôn động viên khi con nói thật và khuyến khích: “Mẹ không buồn khi con kể lại chuyện làm vỡ cốc. Mẹ biết con không cố ý”. Nếu bé có một hành động thật thà, hãy tặng cho bé một miếng dán bé ngoan và một miếng dán bé hư dành cho ngày bé chưa nói thật. Hãy so sánh kết quả những miếng dán mà bé đã giành được.

Theo Supernanny

Tác giả:  NHÍ (theo Supernanny)
Nguồn: http://www.giaoducconggiao.net/index.php?m=home&v=detail&ia=323

Chủ Nhật, 25 tháng 11, 2012

Ông linh mục không có đạo!

Gioan Lê Quang Vinh11/24/2012


Tựa đề bài viết này có thể làm cho một số người nghĩ là người viết chơi chữ. Cũng có thể bài này viết về một vị linh mục mà gia đình ngoại giáo, nhưng ngài theo Đạo và làm linh mục như một số linh mục mà chúng ta biết. Thưa không, người ta đang bàn về một linh mục mà xã hội đều “biết” ông không tôn giáo, do ông khai trong lý lịch của mình.

Tôi còn nhớ những năm tôi thi đại học. Lúc đó mà khai tôn giáo: Công giáo, thành phần gia đình tư sản là khó vào đại học, khó xin việc làm, và dĩ nhiên không có việc làm thì không lên chức (tối đa là chuyển từ thất nghiệp sang tội nghiệp). 

Vì những lẽ ấy mà một số người có Đạo lo sợ cho tương lai, bèn khai khác đi trong lý lịch. Ví dụ gia đình buôn bán thì ghi là tiểu tư sản nghèo (xơ xác) ở thành thị. Làm nông thì khai là bần nông, rồi lại xoá ghi lại là bần cố nông cho đúng quan điểm.

Phần tôn giáo thì một cố người ghi là “không” (với lý luận rằng khai như thế mà ta cứ sống Đạo có sao). Họ vô tình không biết hay có khi hữu ý biết rằng làm điều ấy là công khai chối Đạo.

Tất cả những lời khai ấy, có lời khai nhẹ đi, có lời giả dối, nhưng khai “không tôn giáo” là minh nhiên chối Chúa, và tự mình tách ra khỏi Hội Thánh. Đại đa số người Công giáo vẫn tin vào Chúa và tin rằng Chúa làm chủ cuộc đời mình, nên họ hiên ngang ghi tôn giáo: Công giáo, dù lắm khi nhà nước bắt sửa lại: Thiên Chúa giáo, dù chẳng có Đạo nào tên là Thiên Chúa giáo cả (muốn dịch ra các thứ tiếng chắc người dịch cũng phải vận dụng hết cuốn từ điển).

Trước khi quay trở lại chuyện ông linh mục kia, tôi xin nói lan man qua một việc khác. Năm ấy tôi làm cho một công ty bảo hiểm, chức danh BDC (tư vấn phát triển kinh doanh). Chức danh là vậy nhưng công việc chính của tôi là tuyển dụng nhân viên tư vấn bảo hiểm và sau khi họ tham dự khoá học thì tôi giúp đào tạo thêm khi họ đi làm.

Một hôm có một sinh viên mới ra trường đến xin việc. Tôi thấy anh chàng trả lời phỏng vấn lơ mơ nên chưa đủ tiêu chuẩn nhận vào. Tôi bèn hỏi thêm câu này: “Em có Đạo không?” Anh chàng hăng hái nói: “Dạ không. Em được học ở trường rằng tôn giáo là thuốc phiện mê dân. Ba má em dặn không được theo tôn giáo nào, để sau này còn phấn đấu...”

Tôi mỉm cười nghe anh chàng hăng hái “phát biểu” (chắc tưởng tôi là kẻ cơ hội, cũng không thích tôn giáo). Nghe xong, tôi nhẹ nhàng nói: “Này em, tôi thấy em thiếu một số điều kiện nên hỏi em câu ấy. Công ty này đánh giá cao người có tôn giáo (theo Đạo nào cũng được). Và theo bảng chấm điểm, nếu ai có tôn giáo và thực hành tôn giáo thì được cộng 100 điểm phỏng vấn (khoảng 6%). Và tôi cho anh chàng xem bảng qui tắc chấm điểm.

Nghe vậy, anh chàng lúng túng và nói: “Dạ nãy giờ em nói theo bài học thôi, chứ ở nhà em bà nội em luôn dạy con người cần có tôn giáo”. Câu này dĩ nhiên không giúp anh ta có điểm, nhưng nói lên một thực trạng: con người ngày nay dường như không còn tin điều mình nói.

Nhưng thôi, đó là chuyện một sinh viên còn non nớt, đáng con cháu ông linh mục kia cả về tuổi đời lẫn về nền giáo dục. Vậy tại sao một ông linh mục lại khai là không tôn giáo? 

Nghĩ mãi, tôi chỉ thấy có hai khả năng: một là ông ấy là linh mục quốc doanh (mà đúng là lờ mờ quốc doanh thật). Mà đã làm linh mục “hai chủ” thì chuyện tôn giáo đối với họ có gì quan trọng. Khai không tôn giáo có khi còn dễ ăn nói nơi công đường (dễ ăn và không nói cũng không sao).

Khả năng thứ hai có thể là do người phụ trách ghi nhầm. Nhưng điều này thật vô lý. Không có anh văn thư nào khờ đến nỗi tự ghi nhầm phần tôn giáo. Mà giả như có một loại văn thư như thế thì khi văn bản xuất hiện công khai, đương sự phải đính chính chứ. Không đính chính có nghĩa là chấp nhận, thì lúc đó trùng khớp với khả năng thứ nhất.

Bài viết này không nhằm phê bình ông linh mục nọ, bởi lý do đơn giản là quý ông trong cái ban đoàn kết ấy thì cũng không cần ai góp ý, vì họ vốn biết việc họ làm mà. Và việc họ làm dù gì cũng đã công khai chối bỏ công lý rồi.

Nhưng tôi rất sợ giới trẻ sẽ bắt chước nên muốn nhân cơ hội này nhắc nhở nhau (cho các bạn và cho tôi) rằng Chúa Giêsu là tất cả. Chối Người là chối bỏ mọi giá trị của đời mình và rồi chính mình cũng không được ai tin.

Hãy vào các Facebook mà xem. Các bạn trẻ, rất trẻ, vẫn hiên ngang và hãnh diện ghi mình là môn đệ Thầy Giêsu, ngày ngày vẫn post lên đó Lời của Người, hình của Người và đường Người đi. Các bạn ơi, đừng bắt chước ai ngoài Giêsu, dù người đó có xưng là linh mục, mà lại nói là không quen với Giêsu thì chúng ta cũng không quen với họ.

Hãy cùng làm một băng reo các bạn ơi. Giêsu: ánh sáng của tôi. Giêsu: tình yêu của tôi. Giêsu: tôi trọn đời tuyên xưng Người.

Gioan Lê Quang Vinh
Nguồn: http://vietcatholic.net/News/Html/101226.htm