Chủ Nhật, 16 tháng 10, 2011

Tình Nghĩa Vợ Chồng qua lăng kính người Phụ Nữ Huế


Một người bạn cũ điện thoại nhờ tôi tư vấn về bệnh tình của vợ anh ấy , anh. Sau khi nghe tư vấn xong , anh ấy than thở : ” Sao dạo này tính tình của bà xã mình thay đổi quá . Bẳn gắt ghê lắm nên không khí gia đình rất nặng nề T ạ ” Tôi khuyên bạn : “ Bởi vậy , vợ chồng người ta mới gọi là duyên nợ đó . Lúc trước yêu nhau , rồi lấy nhau , sống những tháng ngày thanh tân hạnh phúc thì gọi là chữ DUYÊN , đến bây giờ già cả , đau yếu , rồi thay đổi cả thể xác lẫn tâm hồn thì gọi là chữ NỢ . Cho nên anh phải cố gắng chịu đựng , chiều chuộng chị ấy cho trọn nghĩa tào khang chứ “

Bạn tôi cười : T định lên lớp cho mình đó à ??

Tôi cười xòa …..

Đúng như tôi đã nói , tình nghĩa vợ chồng gắn liền với hai chữ DUYÊN NỢ . Có DUYÊN NỢ thì mới sống với nhau đến răng long đầu bạc được . Nhất là đối với phụ nữ HUẾ , ý thức “ xuất giá tòng phu “ , “ phu xướng phụ tùy “ đã ăn sâu vào tiềm thức như một định luật toán học bất di bất dịch trong cuộc sống .

Tôi lớn lên trong chiếc nôi gia đình HUẾ như vậy đó . Mẹ tôi là người ảnh hưởng Nho giáo , nên ý thức TAM TÒNG TỨ ĐỨC được bà áp dụng triệt để trong cuộc sống . Từ khi xuất giá , bà đã toàn tâm toàn ý lo cho chồng và gia đình nhà chồng . Trong gia đình , tôi chẳng khi nào thấy cha mẹ to tiếng với nhau . Ba tôi ảnh hưởng Tây học , đi xuất ngoại châu ÂU nhiều lần , nên cách đối xử không hoàn toàn gia trưởng , nhưng mẹ tôi là một phụ nữ HUẾ , nên ý thức hệ “ Tòng phu “ được mẹ tôi thể hiện rất vẹn toàn . Bà thương chồng , thương con , lo lắng mọi việc trong gia đình chu đáo , nhưng tất cả mọi quyết định trong nhà đều phải thông qua ý kiến của ba tôi , và tiếng nói của ông là quyết định sau cùng cho mọi việc .

Tôi là con gái đầu lòng . Ba tôi là người rất hiếu học , nên tất cả chị em chúng tôi đều phải học , và phải học thật giỏi . Chúng tôi có lỗi gì trong học tập là đều bị ba tôi nghiêm khắc phạt đòn roi . Mẹ tôi tuy rất thương chúng tôi nhưng chưa lần nào dám can thiệp .

Những khi trái gió trở trời , ba tôi bệnh là tôi lại thấy mẹ tôi toàn tâm toàn ý săn sóc từ miếng ăn đến giấc ngủ . Còn trái lại , khi mẹ bệnh là cố gắng chịu đựng , không một lời than thở , vì sợ ảnh hưởng đến công việc của chồng .

Cho đến một ngày ……. Căn bệnh nan y ác tính đến với mẹ tôi nhanh như bão táp , quật ngã bà chỉ trong vòng nửa tháng . Những ngày cuối cuộc đời , trước khi đi vào hôn mê sâu , bà luôn trăng trối dặn dò tôi nhiều điều . Điều bà lo lắng nhất không phải là cuộc sống của chị em chúng tôi , vì tất cả anh chị em chúng tôi đều may mắn thành danh và thành nhân , mà là lo cho ba tôi cô đơn chiếc bóng , không ai chăm sóc khi bà đã khuất núi . Tôi phải hứa với mẹ tôi rằng , tôi sẽ thay mẹ chăm sóc ba chu đáo , mẹ tôi mới yên lòng nhắm mắt .

Ảnh hưởng từ cuộc sống êm đềm của cha mẹ , tôi lớn lên , được ăn học như bao thiếu nữ khác .

Ý thức Tam Tòng cũng ăn sâu trong ý thức hệ của tôi . Tôi răm rắp nghe lời ba , chọn ngành Y Khoa , vì ba tôi ước ao có con gái làm Bác sĩ , mặc dù ước mơ của tôi là học Luật và trở thành một Luật sư tài giỏi . Tôi chọn ngành học theo ý muốn của cha như một định mệnh của cuộc sống .

Rồi khi tốt nghiệp đại học , tôi lập gia đình . Cuộc sống hôn nhân không phải là hoa mộng , cũng không phải là con đường trải thảm nhung đỏ cho đôi lứa yêu nhau .

Về làm dâu xứ TRUỒI trong hoàn cảnh đất nước của buổi giao thời . Biết bao nhiêu khó khăn , nặng nhọc đè nặng lên đôi vai gầy guộc của một cô tiểu thư chỉ biết học tập đèn sách trong sự ấp ủ của bàn tay cha , của đôi vai mẹ .

Tôi ngỡ ngàng về làm dâu xứ TRUỒI , quê hương nổi tiếng của vùng THỪA THIÊN HUẾ , chè Truồi , mít Truồi , dâu Truồi …. ôi chao , biết bao nhiêu thứ làm nên một quê hương Truồi thơ mộng , nhưng cũng quá nhiều khó khăn trong cuộc sống .

Đôi vai chưa từng biết đến chiếc quang gánh như thế nào , nhưng về nhà anh , tôi phải đi cùng mẹ chồng và trên “ đôi vai gầy guộc nhỏ “ như Nhạc sĩ TRỊNH CÔNG SƠN đã viết là chiếc quang gánh , gánh theo những trái mít và những bó chè ra chợ bán . Tôi đi liêu xiêu không vững , và đau rát cả hai vai , nhưng không dám một lời than thở . Bởi những gì tôi đang gánh trên vai , đã từng theo mẹ chồng tôi suốt cả đời người , để nuôi anh ăn học , nên người hữu dụng cho xã hội ngày nay . Đôi vai mẹ cũng gánh vác giang san nhà chồng , cùng ba chồng tôi dạy dỗ , tạo nên một con người nhân cách , mà con người nhân cách ấy đã cùng tôi đi gần trọn con đường đời .

Còn tôi , chỉ gánh một đôi lần , vào những ngày chủ nhật , hay ngày nghỉ lễ , vì bình thường tôi phải làm việc ở Bệnh Viện Phú Lộc để khám và chữa bệnh cho những người Phú lộc , và dĩ nhiên trong đó cũng có những người ở Truồi , là bà con , bạn bè , gia đình của chồng tôi .

Cuộc sống hôn nhân không phải là hai người trong cuộc cùng song hành trên một con đường bằng phẳng . Có những đoạn đường thác ghềnh , khúc khuỷu , quanh co , cũng có lúc phong ba bão táp . Tôi theo gương mẹ tôi , sống với châm ngôn : “ cơm sôi bớt lửa “ . Những lúc cơm không lành , canh không ngọt , tôi chọn giải pháp im lặng . Khi tĩnh tâm suy nghĩ , nhận ra điều đúng sai , những lúc vợ chồng êm đềm bên nhau , tôi nhẹ nhàng giải thích .

Chồng tôi không thích những hình thức phù phiếm bề ngoài . Sinh nhật tôi , hay những ngày kỷ niệm quan trọng trong cuộc sống lứa đôi , anh không bao giờ tặng hoa hay tặng quà . Anh thường nói , anh đã trao cho tôi cả cuộc đời . Cứ như vậy , chúng tôi sống yên ấm trong hạnh phúc lứa đôi , càng ngày càng bền chặt .

Rồi cũng đến ngày tôi gả con gái . Xuất giá tòng phu . Con gái tôi lại theo chồng . Và người bạn đời của cháu là một người nước ngoài . Trước ngày cưới , gia đình nhà trai có trao đổi với chúng tôi về những lễ vật cần thiết phải có để họ lo cho chu toàn lễ cưới . Tôi trả lời thành thật rằng chúng tôi không đòi hỏi gì cả , mà chỉ mong muốn nhà trai làm đủ thủ tục , lễ nghi theo đúng phong tục Việt Nam . Thế là ngày cưới diễn ra trong không khí ấm áp của một lễ cưới thuần Việt . Đoàn nhà trai gần ba mươi người từ Tokyo và Hokkaido bay qua , bưng đầy đủ các mâm lễ vật để xin rước dâu theo phong tục Việt Nam . Lúc dặn dò con gái trong khi hành lễ , tôi đã rất xúc động : “ Mẹ nuôi dạy con khôn lớn , cho con ăn học nên người , dạy con đủ Tam tòng tứ đức . Nay con theo chồng về xứ xa , mẹ mong muốn con sống như ba mẹ đã sống , yêu thương , kính trọng cha mẹ chồng , anh em , họ hàng nhà chồng . Con phải yêu thương chồng , kề vai sát cánh bên nhau cho đến cuối cuộc đời , dù rằng trong cuộc sống có thể sẽ gặp nhiều khó khăn ….. “ Tôi nhận thấy ánh mắt đồng cảm và thán phục của gia đình họ nhà trai . Họ như nuốt những lời tôi dặn dò con gái , khi người phiên dịch nói hết những gì tôi nhắn nhủ con gái trong ngày trọng đại nhất cuộc đời .

Và cứ như vậy , tôi mong muốn sống trọn đời với người mình đã chọn và trao gửi , cũng như mong con gái mình hạnh phúc trong cuộc sống hôn nhân , dù ở thế kỷ 21 này , nam nữ đã nâng lên tầm bình đẳng , nhưng trong sâu thẳm của trái tim , tôi vẫn biết rằng , cuộc sống lứa đôi vẫn dựa trên nguyên tắc : Đồng vợ đồng chồng tát bể Đông cũng cạn .


BS Mai Băng Thanh
(viết vào tháng 6 năm 2010)

Nguồn: http://tiengsonghuong.wordpress.com/2011/02/18/tinh-nghia-v%E1%BB%A3-ch%E1%BB%93ng-qua-lang-kinh-ng%C6%B0%E1%BB%9Di-ph%E1%BB%A5-n%E1%BB%AF-hu%E1%BA%BF/

Thứ Sáu, 14 tháng 10, 2011

Đám cưới giản dị của vị vua trẻ nhất thế giới

Cập nhật 13/10/2011 04:44:00 PM (GMT+7)
Không khoa trương, cầu kỳ như nhiều người vẫn tưởng tượng về một đám cưới hoàng gia, hôn lễ theo nghi lễ Phật giáo của Quốc vương Bhutan đã diễn ra hết sức giản dị tại một tu viện ở cố đô cổ Punakha vào ngày hôm nay (13/10).

Quốc vương Jigme Khesar Namgyel Wangchuck đã bước xuống ngai vàng để đặt vương miện lên đầu cô dâu Jetsun Pema (21 tuổi).
Khi các nhà sư tụng kinh, Quốc vương trở về vị trí của mình, Pema cũng ngồi bên cạnh ngai vàng với vai trò là hoàng hậu mới của Bhutan.
Sau buổi lễ ngắn ngọn, vua và cô dâu nắm tay nhau bước vào tu viện 300 năm tuổi tại cố đô Punakha để nhận lời chúc tụng của mọi người.
Không có sự tham dự của các nguyên thủ quốc gia hay hoàng thân các nước mà chỉ có các thành viên trong gia đình hoàng gia Bhutan trong lễ cưới được phát sóng trực tiếp trên kênh truyền hình quốc gia.
Quốc vương Bhutan, từng tốt nghiệp đại học Oxford danh tiếng và được mệnh danh là "Hoàng tử quyến rũ của Himalayas". Ông đã quen cô dâu Jetsun Pema (21 tuổi) cách đây 14 năm trong một chuyến dã ngoại. Cô Jetsun Pema đang theo học tại trường Regents College ở London và là con thứ hai trong một gia đình dân thường tại thủ đô Thimphu.
Dưới đây là những hình ảnh về lễ cưới của Quốc vương Bhutan:
Thủ tướng Bhutan Jigme Thinley tới tham dự lễ cưới (Ảnh: Getty Images)
Cô dâu hồi hộp khi hôn lễ sắp bắt đầu
Khách tổ chức lễ rước mừng đám cưới
Ảnh Quốc vương Butan và cô dâu Jetsun Pema được treo trên một tòa nhà
ở thủ đô Thimphu. (Ảnh: AP)
Quốc vương Jigme Khesar Namgyel Wangchuck mỉm cười với cô dâu (Ảnh: Getty Images)
Quốc vương và cô dâu đứng trước tu viện cổ trong suốt buổi lễ (Ảnh: Getty Images)
Đây cũng là nơi diễn ra lễ nhậm chức của vị vua trẻ tuổi nhất thế giới vào năm 2008. (Ảnh:Getty Images)
Phóng viên nước ngoài đứng từ xa để đưa tin về lễ cưới hoàng gia Bhutan
Vua và hoàng hậu chụp ảnh sau khi hôn lễ kết thúc


Sầm Hoa
 (Tổng hợp)

Chủ Nhật, 9 tháng 10, 2011

Hôn Nhân Công Giáo


HÔN NHÂN CÔNG GIÁO (CN 28 QN. A)

Bấy giờ vua nói với các đầy tớ rằng: "Tiệc cưới đã dọn sẵn sàng, nhưng những kẻ đã được mời không đáng dự (Mt 22,8).

Suy niệm về tiệc cưới Nước Trời, chúng ta phải chuẩn bị tiệc cưới trên trần gian trước. Trong bài này, con muốn chia sẻ một vài thông tin về giáo luật liên quan đến vấn đề Bí Tích Hôn Nhân trong Đạo Công Giáo. Đại đa số giáo dân sống đời sống hôn nhân gia đình, chúng ta cần được hiểu rõ hơn về một số vấn đề trong việc cử hành Bí Tích Hôn Nhân tại thánh đường.

Về ý nghĩa và mục đích của Hôn Nhân Công Giáo, chúng ta đã học biết và thông hiểu. Hôn Nhân Công Giáo là hôn nhân được Chúa Giêsu nâng lên hàng Bí Tích. Hôn nhân Công Giáo là duy nhất, trung tín và không phân rẽ. Hôn Nhân là một giao ước giữa một người nam và một người nữ, có mục đích yêu thương nhau trọn đời, nâng đỡ nhau trong tình vợ chồng, sinh sản và giáo dục con cái. Chúa Giêsu dạy phải trung tín giữ một vợ một chồng không được rẫy bỏ nhau:Điều gì Thiên Chúa đã kết hợp thì loài người không được phân ly (Mt 19,6).

Trong bài viết này, chúng ta không bàn về ý nghĩa hay mục đích của đời sống hôn nhân gia đình. Chúng ta tìm hiểu sơ lược xem những điều kiện cần có để có thể cử hành Bí Tích Hôn Nhân. Chúng ta sẽ bàn qua những sự ngăn trở, những kết hôn có giấy hôn thú, các phép chuẩn và Bí Tích Hôn nhân:

1.       NGĂN TRỞ

Có những ngăn trở làm cho việc cử hành Bí Tích Hôn Phối không thành sự.

1.       Về tuổi tác tùy theo Luật của mỗi Quốc Gia (Luật Giáo Hội là 14/16). Cưới nhau trước tuổi mà không có phép chuẩn.

2.       Ngăn trở bất lực (Physical impotence) trước hôn phối và mãn đời. Bất lực thì hôn phối không thành sự. Bất lực khác với hiếm muộn (sterile).

3.       Ngăn trở giây hôn phối. Tiền hôn nhân (Prior Marriage bond), đã có lập gia đình và giấy hôn thú (Trong Dân Luật cũng như Giáo Luật, không có từ ngữ nào dành cho Hôn Nhân giả hay ly dị giả).

4.       Khác tôn giáo (Disparity of Cult), khác đạo. Cử hành hôn phối không xin phép chuẩn sẽ không thành sự.

5.       Ngăn trở lời Khấn công khai và trọn đời (Sacred Orders, Solemn Vows). Lập hôn phối mà chưa giải lời khấn.

6.       Bắt cóc (Abduction). Bắt ép làm hôn nhân sẽ không thành sự.

7.       Ngăn trở tội ác (Crime) gây sự chết cho người phối ngẫu trực tiếp hoặc gián tiếp để lập gia đình.

8.       Ngăn trở họ hàng (Consanguinity). Trực hệ (tiêu hôn và vô hiệu ở mọi đời). Bàng hệ (hôn phối vô hiệu cho đến hết cấp số 4)

9.       Ngăn trở họ kết bạn (Affinity). Hôn phối vô hiệu ở mọi cấp bậc trực hệ. Không thể lấy ông, bà, bố, mẹ, con trai, con gái, cháu trai, cháu gái của vợ hoặc chồng.

10.    Ngăn trở họ nuôi (Legal relationship).  Hôn phối bất hợp pháp giữa con nuôi, cha mẹ hay anh chị em của con nuôi.

Có thể xin Phép Chuẩn (Dispensation) hay Xin Phép (Permission) tại Tòa án Hôn Phối (Tribunal) của Địa Phận tùy theo từng trường hợp. Nên nhớ, có những luật trừ tùy nố (case) và tùy nơi, xin liên lạc với linh mục sở tại để biết thêm chi tiết.

2.       HÔN NHÂN CÓ GIẤY HÔN THÚ ĐỜI

Ngăn trở giây hôn phối hay tiền hôn nhân có nhiều loại khác nhau. Chúng ta cần phân biệt các mối giây liên hệ hôn phối này. Hôn nhân giữa hai người:

1.     Một người công giáo lập gia đình với một người công giáo ở tòa đời. Thiếu mô thức (lack of form).

2.     Một người công giáo lập gia đình với một người đã được Rửa Tội Tin Lành (Christian) ngoài Đạo Công giáo ở tòa đời. Thiếu mô thức (lack of form).

3.     Một người công giáo lập gia đình với một người không công giáo (non-baptized) ở tòa đời. Thiếu mô thức (lack of form).

4.     Hai người không công giáo (non-baptized) lập gia đình tại tòa đời hoặc tại Chùa chiền.

Thời gian sau, ly dị để một trong hai người này muốn lập gia đình với một người công giáo. Người đó ước muốn rửa tội hoặc đã rửa tội (Công Giáo hoặc Tin Lành) hoặc (không rửa tội) để lấy người Công Giáo. Trường hợp này sẽ có nhiều vấn đề cần giải quyết liên quan đến Đặc quyền của thánh Phaolô và thánh Phêrô.

a.       Đặc quyền của thánh Phaolô (Pauline privilege).

Giáo hội Công Giáo công nhận mọi hôn nhân đã thành lập là thành sự (valid) và hợp pháp (licit), không có vấn đề nơi đâu họ đã cử hành, đây là nguyên lý của Luật Tự Nhiên. Hôn nhân giữa hai người không được rửa tội (non-baptized) vẫn có giá trị và chỉ được giải bởi cái chết của một bên. Nên trường hợp hai người chưa rửa tội đã lập hôn nhân và chung sống, một trong hai người muốn ly dị (trước đó hoặc sau này) để rửa tội gia nhập đạo Công Giáo hoặc Tin Lành (Christian) và lập gia đình với một người công giáo. Họ phải xin phép chuẩn đặc quyền của thánh Phaolô. Tòa án Hôn phối Địa phận có quyền lo giải quyết vấn đề.

b.       Đặc quyền của Thánh Phêrô (Petrine privilege).

Cũng như trường hợp trên, hai người chưa rửa tội lập gia đình và chung sống (hoặc ít nhất một trong hai người lập hôn phối trước là chưa rửa tội). Một trong hai người muốn ly dị (trước đó hoặc sau này), họ không muốn được rửa tội nhưng muốn cưới một người công giáo. Họ cần phải lo thủ tục giấy tờ xin phép chuẩn với đặc quyền của thánh Phêrô. Tòa án địa phận sẽ gởi hồ sơ qua Tòa thánh (Holy See) để quyết định.

3.       PHÉP CHUẨN

Đối với một người Công Giáo đã lập gia đình với bất cứ người nào (Rửa tội hay chưa rửa tội) và nếu không có phép chuẩn hay được phép của Giáo Hội hoặc không cử hành Hôn Phối trong nhà thờ Công Giáo đều mắc ngăn trở. Theo Luật trong đạo, họ không được thông công qua các Bí Tích trong Giáo Hội.

Muốn được hợp thức hóa Hôn Phối (convalidation) để thông công trong đời sống ân sủng của Giáo Hội, họ cần làm đơn xin Phép Chuẩn hoặc Xin Phép với Tòa Án Hôn Phối trong Địa phận. Trường hợp tiền hôn nhân với người có đạo hoặc không có đạo, cần điền đơn xin Tiêu Hôn (Declaration of Nullity), sau khi đã hoàn tất giấy ly dị ở tòa đời.

Trường hợp người Công Giáo muốn cử hành Hôn Phối trong nhà thờ nhưng hai người khác Nghi Thức tôn giáo nhưng có rửa tội thành sự (Orthodox, Eastern Rite, Christian..) cần điền đơn để xin Phép (Permission for Mixed Marriage).  Hôn nhân khác Đạo, không có rửa tội (Jewish, Buddhism, Muslim…) cần điền đơn để xin Phép Chuẩn (Dispensation from Disparity of Worship) tại Văn phòng Chưởng Ấn (Chancery). Trong những trường hợp trên, linh mục sở tại không có quyền chuẩn chước hay cho phép (trừ khi được chỉ định bởi đấng bản quyền).

4.       BÍ TÍCH HÔN PHỐI

Các cặp hôn nhân không có bất cử ngăn trở nào được tự do lập hôn phối. Cả hai người được rửa tội trong Đạo Công Giáo, đã qua các lớp dự bị hôn nhân, đệ trình các giấy tờ Rửa Tội, Rước Lễ Lần Đầu, Thêm Sức và qua việc điều tra hôn phối (PMI. Pre-marriage Investigation). Tùy theo sự đòi hỏi của mỗi nơi, ở Hoa Kỳ, một số tiểu bang cần trình Giấy Đăng Ký Kết Hôn (Marriage license) hoặc Giấy Hôn Thú (Certificate of Marriage).

Sau khi hoàn tất các thủ tục cần thiết, lễ Hôn Phối được cử hành trong thánh đường Công Giáo. Có sự hiện diện của đôi hôn phối, hai người nhân chứng và linh mục hay thầy Sáu có năng quyền hoặc được ủy quyền cử hành nghi thức Bí Tích Hôn Phối. Chính đôi hôn phối sẽ trao ban Bí Tích cho nhau. Bí Tích Hôn Phối sẽ thành sự và hợp pháp khi hai người đã hoàn tất Nghi Lễ Hôn Phối trong thánh đường và sau đó chung sống với nhau thành vợ chồng. Khi Bí Tích Hôn Phối đã thành sự, không ai có quyền tháo cởi.

Những trường hợp các cặp hôn nhân đã cử hành Bí Tích Hôn Phối trong nhà thờ đầy đủ nhưng sau này ly dị và muốn được hủy hôn. Họ có quyền nộp đơn lên Tòa Án Hôn Phối của Địa Phận để được điều tra và xét duyệt. Nếu nố hôn phối (Marriage case) đó có mắc ngăn trở hoặc thiếu xót điều chi trước khi cử hành Bí tích Hôn Phối, tòa án sẽ dựa vào Giáo Luật để phán quyết.

Trên đây con chỉ tóm tắt một số những dữ kiện căn bản của việc chuẩn bị Bí Tích hôn nhân trong Đạo Công Giáo. Xin Chúa chúc lành cho mọi gia đình đang sống trong ân nghĩa của Chúa. Xin Chúa dẫn dắt cho những ai đang trên con đường tìm kiếm sự an bình hạnh phúc được mau mắn chu toàn bổn phận sống đạo làm con Chúa.

(HNCG. 2 sẽ viết thêm về đặc quyền của thánh Phaolô và Phêrô. Nếu cần sự bổ túc hay sửa chữa gì, xin các cha giáo luật và các vị chuyên môn chỉ giáo)

Bronx, New York.

Tác giả Trần Việt Hùng, Lm.
Nguồn: http://www.dunglac.org/index.php?m=home&v=detail&ia=18308

Thứ Năm, 6 tháng 10, 2011

Đức Tin Và Khoa Học

Lm Nguyễn Hữu Thy10/3/2011

Phải chăng khoa học đi ngược lại lịch sử sáng tạo của Kinh Thánh? Có nhiều người đã nghĩ như vậy và cho rằng khoa học và lịch sử sáng tạo của Kinh Thánh hoàn toàn không thể đi đôi với nhau được, vì một bên dựa trên những lý chứng rõ ràng minh bạch, còn bên kia lại dựa trên đức tin và mang tính chất truyền thuyết giả tưởng. Vì thế, họ cho rằng bao lâu lịch sử sáng tạo của Kinh Thánh còn được khẳng định thì không thể nói đến thuyết tiến hóa, vì có hai lý do đối kháng giữa Kinh Thánh và khoa học không thể vượt qua được.

Lý do thứ nhất: Trong khi theo Kinh Thánh thì trước hết Thiên Chúa đã dựng nên trái đất và tiếp đến mới dựng nên các tinh tú, khoa học tân tiến ngày nay về vũ trụ lại cho rằng trái đất là một trong số các hành tinh được hình thành về sau này, kết quả của một cuộc nổ tung vĩ đại (big Bang) trong vũ trụ trên dưới 14 tỷ năm về trước.

Lý do thứ hai: Trong khi theo Kinh Thánh thì trước khi dựng nên con người, Thiên Chúa đã dựng nên các thứ thú vật và những cây cỏ xanh tươi làm lương thực cho chúng, một hình ảnh đầy hiền hòa của vườn Địa đàng, thuyết tiến hóa lại chứng minh rằng trước khi có sự hiện hữu của con người trên trái đất thì đã có những dã thú ăn thịt rất hung dữ, chứ không chỉ gặm cỏ cách hiền hòa mà thôi.

Ngoài hai lý do đối kháng trên đây, còn một lý do khác nữa, đó là: Theo sự trình thuật của sách Sáng Thế Ký thì vũ trụ được dựng nên trước khi xảy ra sự sa ngã phạm tội của ông A-dong và bà E-và, nhưng theo ý kiến khoa vũ trụ học và thuyết tiến hóa thì sự sa ngã phạm tội của ông A-dong xảy ra trước khi có vũ trụ, tức vũ trụ chúng ta sống. 

Thật ra, sự kiện con người bị trục xuất ra khỏi vườn Địa đàng không có nghĩa là Thiên Chúa đã dựng nên một vũ trụ thứ hai như nơi đày ải đầy khổ cực, thay thế cho vũ trụ thứ nhất đã bị hủy hoại do tội nguyên tổ gây ra, và trong vũ trụ thứ hai ấy con người phải sống cuộc sống đầy gian lao vất vả sau khi đã phạm tội và vị trục xuất khỏi vườn Điạ đàng. Nhưng sự thật là vườn Địa đàng bị khóa lại và thay vào đó là một thế giới đã trở nên hư hỏng do tội lỗi gây nên.

Thiên Chúa Tạo Hóa không dựng nên hai vũ trụ

Như vậy, theo Kinh Thánh, qua sự sa ngã phạm tội của ông A-dong các tương quan trong vũ trụ và trong lịch sử tạo dựng của cuộc sống trên trái đất đã hoàn toàn bị đão lộn và chính chúng là đối tượng nghiên cứu của khoa học như khoa vũ trụ và thuyết tiến hóa. Nói cách khác, chính do tội con người gây ra, trái đất đã bị nguyền rủa và đã bị thay đổi từ nền tảng: đất đai mất hết mầu mỡ và trở nên gai góc, khô cằn, và vì thế, con người phải đổ mồ hôi nước mắt mới kiếm được của ăn hằng ngày và sau cùng lại phải đón nhận cái chết như hậu quả tất yếu (x. St 3,17-19). Điều ấy muốn khẳng định rõ ràng là qua sự trình bày này về sự thay đổi của vũ trụ, Kinh Thánh chỉ muốn nói đến hậu quả trực tiếp của tội lỗi đã làm cho những điều kiện sống của con người trở nên vất vả khổ cực, chứ xét về toàn diện, các điều kiện sống đó không thể tách biệt con người ra khỏi vũ trụ, hay nói đúng hơn, Thiên Chúa đã không dựng nên một vũ trụ mới đầy khổ ải, đau thương và cằn cỗi để đày đọa và phạt tội con người. Nếu bây giờ những thay đổi của vũ trụ xét theo toàn thể đã trở thành đối tượng của thuyết tiến hóa, thì không có gì là đi ngược lại lịch sử sáng tạo của Kinh Thánh. Và cũng chính hậu quả của tội lỗi gây ra, nên không chỉ đất đai trở nên gai góc và khô cằn, khiến cho con người phải vất vả cực nhọc mới kiếm được của ăn nuôi thân, nhưng cả các loài vật cũng phải tranh dành, ăn thịt lẫn nhau mới mong tồn tại. Qua đó, người ta thấy rằng giữa lịch sử sáng tạo và thuyết tiến hóa không có gì mâu thuẫn nhau. Chỉ có khác nhau duy nhất ở chỗ: Theo Kinh Thánh thì tất cả mọi tạo vật là do công trình sáng tạo của Thiên Chúa, còn theo khoa học thì tất cả mọi sự là hậu quả của một sự phát triển tự nhiên. 

Nói một cách tổng quát, tư tưởng nguyên thủy về cây gia phả được coi là „lý thuyết về chủng tộc“. Nhưng một câu hỏi lại được đặt ra là làm thế nào người ta có thể ghép chung các loài bò sát, các loại chim chóc, các loại cá, v.v… hoàn toàn khác nhau, cùng theo một cách thức phát sinh giống nhau? Vào năm 1866, Ernst Haeckel, nhà sinh vật học người Đức, đã bỏ ngoài mọi do dự và bất đồng ý kiến trong dư luận và đã cho công bố lý thuyết về cây gia phả (Stammbaum).

Ngày nay, lý thuyết về phổ hệ hay tộc hệ (Genealogie) của các loại động vật đã bị loại bỏ. Qua những cuộc khai quật người ta đã tìm thấy được những dấu tích thuộc cổ sinh vật học giúp khám phá ra rằng, các cơ thể sinh vật được phát sinh, nảy nở và chết đi. Chính trong quá trình ấy, cơ thể các sinh vật luôn luôn phát triển và hoàn thiện theo những cấp bậc cao hơn và tiến mãi cho tới khi thành con người. Trong đó, giữa những cơ thể sinh vật khác nhau có những tính chất tương đồng (Homologien) thuộc giải phẩu học, thuộc sinh lý và trong các sinh hoạt nhất định, khiến người ta có thể phân biệt được các nhóm sinh vật có liên hệ gần gũi hay xa biệt nhau.

Chính điều này đã làm nảy sinh ý kiến mới khác cho rằng trên mặt đất đã xảy ra một sự tiến hóa nội tại, tức mọi sinh vật tự phát triển, theo những định luật tự nhiên, và qua đó tư tưởng về một Đấng Tạo Hóa hoàn toàn không có chỗ đứng. Dĩ nhiên, người ta cũng đừng vội quên rằng đây mới chỉ là một ý kiến mang tính cách loại suy mà thôi. Vâng, ở đây nguyên nhân mới chỉ được cắt nghĩa theo hiệu quả mà thôi, trong khi một định luật chỉ có thể kiểm tra được một cách thực nghiệm, nếu qua những dẫn chứng của nguyên nhân, hiệu quả được dự đoán cũng thực sự được hiện thực.

Với tính cách là nguyên nhân, người ta phỏng đoán được sự ngẫu biến (Mutation) và đào thải (Selection). Nhưng người ta cần phải hiểu những quá trình diễn biến ấy như thế nào? Qua quá trình „ngẫu biến“ người ta hiểu là những thay đổi của những cái được gọi là phân tử di truyền (Gène), qua đó những hình thức sinh vật học mới được phát sinh, trong khi đó sự đào thải lại quyết định hướng đi từ những tế bào phôi thai tiến tới thành người. Nhưng bây giờ lại có một sự ngẫu biến không thể cắt nghĩa theo khoa học được, một sự ngẫu biến không phải là một định luật có thể định nghĩa được. Nói cách khác, có những thay đổi của phân tử di truyền dẫn tới những hình thức mới mẻ một cách theo kiểu vi trùng học, mà theo khoa học thì không thể giải thích được.

Còn bây giờ chúng ta thử tìm hiểu những điều có liên quan tới sự đào thải. Những diễn biến sự đào thải từng đã đưa tới sự nảy sinh tiến hóa lâu dài của những cơ thể sinh vật thì luôn luôn là một bí ẩn. Vâng, quả là một ẩn số khó tìm ra được một giải thích thỏa đáng trong các trường hợp tiến hóa lâu dài ấy, ví dụ: sự tiến hóa từ những loại bò sát biến thành những con chim hay từ những con cá bơi lội trong nước trở thành những con vật sống trên đất.

Giờ đây người ta đã tìm cách giải mã điều bí ẩn lớn nhất của sự tiến hóa bằng những phương tiện thuộc sinh vật học về phân tử hay thuộc tính trùng hợp hóa học. Vấn đề ở đây là vấn nạn về sự xuất phát của những chuỗi dài yếu tố di truyền DNA, tức những yếu tố cơ bản cấu tạo nên sự sống. Nhưng điều ấy đã rõ ràng nói lên rằng sự cấu tạo những chuỗi như thế nếu không có sự can thiệp của một ý muốn vốn đã hiện hữu trước hay nói cách khác, nếu không có một Đấng Tạo Hóa toàn năng và tự hữu, thì hoàn toàn là một điều bất khả, ví dụ như trong việc chế tạo ra những chất hóa học đa dạng xảy trong phòng thí nghiệm hay trong sự xản xuất kỹ nghệ. 

Quan niệm chủ trương có thể giải thích được vũ trụ mất chỗ đứng

Tuy nhiên, sự phê bình này không chỉ nhằm vào lý thuyết về nguồn gốc xuất phát của sự sống, nhưng còn nhằm tới quan điểm khá phổ quát cho rằng sự tiến hóa lâu dài xảy ra qua sự ngẫu biến và qua sự đào thải. Nhưng như đã trình bày, sự tiến hóa lâu dài được dựa trên một sự ăn sâu của những phân tử di truyền vào những chuỗi DNA đang hiện hiện sẵn, chứ không dựa theo sự ngẫu biến. Vì vấn đề ở đây không phải là bất cứ những phân tử di truyền nào đó, nhưng là những phân tử di truyền mới và vượt lên trên những phân tử đang có. Dĩ nhiên, sự diễn biến như thế thì chắc chắn là rất khó lòng kiểm soát được.

Ở đây, chúng ta hãy nghe ý kiến của hai nhà hóa học nổi tiếng, Bruno Vollmert und Manfred Eigen. Tiến sĩ Vollmert viết: „Khi tôi càng nỗ lực suy luận một cách chính xác theo đúng các nguyên tắc khoa học, thì tôi càng trở nên xác tín hơn khi cho rằng vũ trụ đã được một Đấng Tạo Hóa toàn năng tạo dựng nên, chứ không phải như thuyết tiến hóa của Darwin chủ trương“ (x. „Das Molekül und das Leben“). Còn tiến sĩ Eigen đã kết luận: „Nếu ngày nay có ai khẳng định rằng vấn đề nguồn gốc sự sống trên hành tinh chúng ta đang ở đã được giải mã, thì người ấy đã quá lời so với sự hiểu biết của mình“ (x. trong „Die Entwicklung des Lebens“).

Để tóm luợc suy luận trên, có lẽ chúng ta thử đưa ra một ví dụ: Chẳng hạn cứ tạm cho rằng người ta tìm thấy trên mặt trăng một chiếc máy bay tối tân, và người ta cũng biết được chiếc máy bay đó đã được lắp ráp và cấu trúc như thế nào. Tuy nhiên, còn một bí ẩn chưa được giải mã, đó là sự lắp ráp thành chiếc máy bay đã thành công ra sao.

Một điều đáng ghi nhận ở đây là đại chúng biết được rất ít về tính cách khả nghi của thuyết tiến hóa cũng như sự đa dạng trong công cuộc khám phá cơ bản và quan trọng của nó. Nhưng cũng phải chấp nhận rằng hiện tượng ấy sẽ có thể thay đổi theo một mức độ mà kinh nghiệm về không gian đang thu hút một sự chú ý rộng rãi của đại chúng như chúng ta từng chứng kiến qua các bài khảo cứu được tường trình trên các kênh truyền hình quốc tế. 

Như vậy, qua sự tiến bộ của sự nhận thức khoa học, con người càng phải đối mặt với một bí ẩn to lớn về sự sống và đồng thời quan niệm chủ trương rằng người ta có thể dùng khoa học để giải mã được mọi bí ẩn của vũ trụ đã từ từ tan biến và mất hết đất đứng. Dĩ nhiên, điều đó không có nghĩa là con người thôi không cần tìm hiểu và nghiên cứu về vũ trụ nữa. Nhưng chỉ muốn khẳng định rằng con người không nên gắn bó với ý tưởng sai lầm cho rằng khả năng nhận thức khoa học của con người có thể xóa bỏ niềm xác tín Kitô giáo vào Đấng Tạo Hóa toàn năng đã tạo dựng nên vũ trụ, con người và tất cả mọi tạo vật khác trong vũ trụ; trái lại đức tin là con đường duy nhất có thể giúp con người giải mã được bí ẩn về nguồn gốc sự sống và của vũ trụ, hay nói cách khác, có thể giúp con người tìm thấy chân lý sau cùng, khi nó dẫn đưa con người đến cùng Thiên Chúa Tạo Hóa, Đấng chính là nguồn gốc của mọi sự sống và của vũ trụ.

Lm. Nguyễn Hữu Thy