Thứ Tư, 17 tháng 8, 2011

Diễn văn của Chủ tịch Hội đồng Giáo Hoàng về Giáo Dân cho WYD 2011 tại Madrid






Diễn văn của Đức Hồng Y Stanislaw Rylko
Chủ tịch Hội đồng Giáo Hoàng về Giáo Dân 

Thánh Lễ khai mạc Đại Hội Giới Trẻ Thế Giới WYD 2011 tại Madrid
Chúc mừng các bạn trẻ
Cibeles Plaza, 16 Tháng tám 2011

Các bạn trẻ thân mến,

Ngày mà tất cả chúng ta chờ đợi đã đến: Khai mạc Ngày Giới trẻ Thế giới 26. Sau một thời gian dài chuẩn bị, các bạn cuối cùng đã tới đây tại Madrid, một thành phố xinh đẹp hiện đại sẽ là thủ đô thế giới của tuổi trẻ Công Giáo trong vài ngày tới ...

"Phúc cho ai đến nhân danh Chúa!" (Ps. 118: 26). Với những lời của tác giả Thánh Vịnh tôi mở rộng lời chào đón và tình cảm thân mật trên thay mặt cho Hội Đồng Giáo Hoàng về Giáo Dân, thánh bộ phận của Tòa Thánh nhận ủy thác của Đức Giáo Hoàng về việc tổ chức các cuộc họp thế giới của những người trẻ. Tôi cũng chào đón các giám mục của bạn, các linh mục, tu sĩ và các giáo dân lãnh đạo đã đến đây với bạn, những người hướng dẫn các bạn vào cuộc hành trình chuẩn bị tinh thần cho cuộc phiêu lưu tuyệt vời của đức tin mà chúng ta sẽ kinh nghiệm với nhau trong vài ngày tới.

Các bạn đã đến với Đại hội này với Đức Thánh Cha Benedict XVI mang theo tất cả các chương trình và hy vọng, cũng như các mối quan tâm của bạn và các thách đố về sự lựa chọn đang chờ đón. Đây sẽ là ngày mà các bạn sẽ không bao giờ quên, ngày của những khám phá quan trọng và quyết định sẽ được quyết định cho tương lai của các bạn.

Suy tư và lới cầu nguyện của chúng ta trong vài ngày tới sẽ được hướng dẫn bởi những lời của Thánh Phaolô mà các bạn biết rất rõ: "Bén rễ và xây dựng trong Chúa Giêsu Kitô, kiên vững trong đức tin" (x. Col 2:7). Điều này thực là một đòi hỏi bởi vì nó có chứa một kế hoạch định cuộc sống cho mỗi người chúng ta. Đức tin sẽ là trung tâm của sự suy tư của chúng ta trong thời điểm này. Đức tin là một yếu tố quyết định trong cuộc sống của mỗi người. Tất cả mọi thứ thay đổi theo sự kiện có tin là Thiên Chúa hiện hữu hay không. Đức tin là gốc rễ được nuôi dưỡng bởi mạch sống là Lời Chúa và các bí tích. Nó là nền tảng, đá mà trên đó cuộc sống được xây dựng, là la-bàn đáng tin cậy hướng dẫn lựa chọn của chúng ta và cho hướng rõ ràng cho cuộc sống của chúng ta.

Nhiều người trong chúng ta có thể tự hỏi: trong thế giới của chúng ta ngày hôm nay khi Thiên Chúa thường bị từ chối và những người sống như thể Thiên Chúa không tồn tại, vậy có thể còn có đức tin không?

Các bạn trẻ thân mến! các bạn đang tập trung tại Madrid sau khi đã đến từ mọi nơi xa xôi nhất trên trái đất này. Các bạn tới để nói to cho toàn thế giới -- và đặc biệt cho Châu Âu đang có dấu hiệu rất mất đức tin -- là niềm tin các ban không hề thay đổi, là "có"! Đúng vậy, đức tin là có thể. Thực tế, đó là một cuộc phiêu lưu tuyệt vời cho phép chúng ta khám phá ra tầm quan trọng và vẻ đẹp của cuộc sống của chúng ta. Điều này là bởi vì Thiên Chúa, mặc khải khuôn mặt của Người cho chúng ta, chấp nhận nhập thể làm người nên không hề hạ thấp con người xuống. Thiên Chúa nâng cao chúng ta lên trên tất cả mọi kích thước và vượt cả ra ngoài mọi tưởng tượng xa với nhất của chúng ta! Trong vài ngày tới, cùng với các tông đồ, tất cả chúng ta đều muốn hét to lên với Chúa: "Xin thêm đức tin cho chúng con!" (Lc 17:5). Giống như Thánh Anselmo, chúng ta cũng muốn cầu nguyện: Lạy Chúa, xin dậy cho con tìm kiếm Chúa, và xin Chúa tỏ lộ chính mình Chúa cho chúng con, bởi vì con không có thể tìm kiếm Chúa được nếu Chúa không dạy cho con làm thế nào, con cũng không tìm thấy Chúa trừ khi Chúa tỏ lộ ra cho con" ( Proslogion 01:01).

Đang khi chúng ta đang chờ đợi sự xuất hiện của Đức Giáo Hoàng Benedict XVI đến với chúng ta, chúng ta hoan nghênh một vị khách mời đặc biệt vào buổi chiều ngày hôm nay tại Đại Hội Giới Trẻ WYD tại Madrid. Chân phước Gioan Phaolô II đã trở lại với các bạn, các bạn trẻ mà Ngài đã từng yêu rất nhiều, và các bạn cũng yêu mến Người. Đức Giaon Phaolô II đã trở lại đây như người bảo trợ ơn phước của bạn và như là một bảo vệ mà bạn có thể tin tưởng. Người đã trở lại như một người bạn - một người bạn đòi hỏi, như chính Người thường tự nói về mình như vậy. Người đã đến để nói với bạn một lần nữa và với một tâm tình sâu đậm: Đừng sợ! Hãy chọn có Chúa Kitô trong cuộc sống của các bạn và hãy chiếm hữu cho mình viên ngọc trai quý giá của Tin Mừng mà nó đáng giá trên tất cả mọi thứ!

Bạn trẻ thân mến!
2011 Ngày Giới trẻ Thế giới ở Madrid đã bắt đầu!
Một lần nữa, tôi nói chào đón tất cả các bạn đến Madrid!

ĐHY Stanislaw Rylko

Thứ Ba, 16 tháng 8, 2011

Giáo dục con trẻ theo phương pháp của thánh Don Bosco

Bài 7:KHI CHA MẸ THUA CUỘC - TẦM QUAN TRONG CỦA BẦU KHÍ GIA ĐÌNH
Don Bosco viết những lời sau đây trong tài liệu "Vài lời về hình phạt trong các nhà Salêdiêng". "Chúng con biết thời gian trong đó chúng ta đang sống, chỉ với một bất cẩn nhỏ có thể mang lại hậu quả nghiêm trọng thật dễ dàng... Nói chung hệ thống chúng ta sử dụng được gọi là hệ thống dự phòng cốt ở trong việc khuôn định cho tâm trí học sinh chúng ta cách ứng xử, những bạo lực bên ngoài không hề có vì chúng phải chịu sự khuất phục để làm theo ý của ta. Với hệ thống này, cha có ý muốn nói với các con rằng cha không bao giờ áp dụng những phương tiện cưỡng bức, nhưng luôn luôn và chỉ có những gì là thuyết phục và lòng nhân ái".
Hệ thống dự phòng trải qua đã hơn một trăm năm và hơn bao giờ hết nền tảng căn bản ấy rất chân thật. Có vô số tình huống mỗi ngày, trong đó cha mẹ phải lựa chọn giữa hai phương pháp giáo dục. Lựa chọn không phải trên bình diện lý thuyết mà trong thực tế.
Vào một đêm nọ, chúng tôi tìm xem điều xảy ra nơi một gia đình như nhiều gia đình khác.
Anna lên ba tuổi, hầu như luôn bị gắn chặt trên cái ghế, bé làm rơi rau xà lách trên bàn ăn. Lộ rõ vẻ bực mình, mẹ bé quát: "Anna! Nhặt nó lên". Đứa trẻ trề môi và nói cách cương quyết: "Không!" rồi chẳng động tĩnh chi cả. "Bà đã làm lộn xộn ráo cả, bà bé. Ngay bây giờ, nhặt nó lên!" bà mẹ giận dữ nhắc lại nhiều lần với cường độ gia tăng. Anna nhìn bà mẹ với niềm kiêu hãnh khó lay của tuổi lên ba và đáp lại: "Không".
Người mẹ có thể làm điều gì?
Rõ ràng bà mẹ đã bị thua cuộc khi sử dụng quyền bính trong gia đình. Nếu bắt buộc đứa trẻ phải tuân phục (có thể bằng một cái tát hay phát mạnh vào mông) thì nó cảm thấy nhục nhã vô cùng, bà mẹ cũng biết rằng khi đánh đập một đứa trẻ mới ba tuổi đầu chẳng giúp được gì. Ngoài những gì đã xảy ra khả năng chị ta còn phải đối chất với lời khiển trách của chồng: "Giờ em sắp đánh nó hả? Cách tốt nhất để em dạy con đấy!"
Nếu bỏ cuộc và lau sạch khăn trải bàn dưới cái nhìn đầy kiêu hãnh và đắc thắng của cô bé, chị ta hiểu rằng bé gái đã giành chiến thắng không xứng đáng. Và tất nhiên chồng sẽ đổ thêm tủi nhục vào cay đắng: "Mới ba tuổi mà nó đã ra lệnh cho em rồi đấy?".
Phương pháp cưỡng bách ngay trong một gia đình nho nhỏ cũng đã có thể là cả một sự bất hạnh lớn lao.
"Tôi không biết phải làm cái gì nữa!"
Những tình huống như thế này xuất hiện khá phổ biến và 
thường xuyên, đó là cơ hội để cha mẹ trải nghiệm một nguyên tắc nền tảng của Hệ thống Dự phòng trong Trường học cho các Bậc Cha Mẹ: "Mỗi lần cha mẹ bước vào cuộc xung đột với con cái, kẻ thua cuộc là chính họ".
Chúng ta phải nhận ra sự vô ích trong việc ra lệnh cho con cái theo ý của mình. Mẹ của Anna đang làm dấy lên một cuộc chiến nguy hiểm, căn cứ trên lý lẽ "Nào ta hãy xem ai ra lệnh ở đây!".Một cuộc chiến được trù định chỉ để lại những vết thương lòng và sự tủi nhục triền miên. Bậc cha mẹ bước vào cuộc xung đột với con cái sẽ khiến họ bó buộc phải dùng hết hình phạt này đến hình phạt khác, họ chỉ nhận được sự giận dữ nhiều hơn từ những đứa trẻ.
Tóm lại, bọn trẻ nghĩ rằng: "Nếu bố mẹ có quyền làm tổn thương con thì con cũng có quyền để làm nó cho bố mẹ đấy!". Tình thế trở nên "tiến thoái lưỡng nan" khi kéo theo một diễn tiến khủng khiếp của sự trả đũa và báo thù. Đấy là kết quả của những hình phạt.
Thật chẳng may, những đứa trẻ thêm bướng bỉnh và ngoan cố hơn đối với người lớn: chúng có lợi thế hơn khi ngấm ngầm âm mưu, trù tính, và kháng cự cứng rắn thêm nữa với cha mẹ. Khi sự việc đã đến mức “tức nước vỡ bờ” và hết còn tính nhẫn nại, người ta lắc đầu và gào to trong sự tuyệt vọng: "Tôi không biết phải làm cái gì nữa!".
Ý tưởng của Don Bosco thì thật đơn giản. Hình phạt, hoặc ý tưởng "tuân lệnh tôi, nếu không tôi..." đầy độc đoán cần được thay thế bằng sự tôn trọng và hợp tác lẫn nhau. Trẻ em cần người hướng đạo, những nhà lãnh đạo tốt lành chứ chúng đâu cần đến giới hạ sĩ quan hay trung sĩ trong quân đội.
Một nhà lãnh đạo tốt lành truyền cảm hứng và khuyến khích những người dưới quyền thực hiện các hành động cách thích hợp theo hoàn cảnh: các bậc cha mẹ cũng phải là những nhà lãnh đạo như thế. Con cái ta cần sự hướng dẫn của ta, chúng sẽ đồng thuận nếu biết rằng ta tôn trọng chúng như là những con người bình đẳng. Phẩm giá của một đứa trẻ bị lăng nhục vô cùng khi bị đánh đập và cũng chẳng còn lại bao nhiêu phẩm giá cho người mẹ sau những việc đã xảy ra, đặc biệt nếu chị ta bị mặc cảm tội lỗi.
Mẹ của Anna có thể nhận được nhiều hơn khi chị ta tự rút lui khỏi cuộc xung đột và tăng cường hợp tác và giúp bé sống trách nhiệm. Chẳng hạn chị ta có thể nói: "Ồ! Thật là lộn xộn biết bao! Chúng ta làm thế nào bây giờ?". Đừng có tranh giành quyền lực nữa. Có nhiều khả năng đứa trẻ sẽ nhận ra sự can hệ và cùng chị ta dọn dẹp cho sạch sẽ. Ngôi nhà như thế sẽ không còn là một chiến trường, nhưng là một thiên đường dễ chịu  dành cho sự hợp tác và thuận hòa ngự trị.
Đó là những gì mà Gianni Rodari diễn đạt trong một câu chuyện thú vị với nhan đề"Ai ra lệnh?".
"Tôi hỏi một bé gái: "Ai là người ra lệnh ở nhà?". Bé lặng thinh nhìn tôi. "Nào, người ra lệnh giữa chúng ta: bố hay mẹ cháu". Bé gái nhìn tôi và không đáp lại. "Này, cháu nói cho bác đi chứ? Hãy nói cho bác biết ai là chủ nhà".
Một lần nữa bé nhìn tôi bối rối như có ý muốn nói "Bác chẳng biết ý bác muốn nói gì về ra lệnh?". Đúng vậy ai biết nó. "Bác chẳng biết ý bác muốn nói gì về chủ nhà?".Đúng vậy ai biết nó. "Vậy thì sao?". Bé nhìn tôi và không nói gì. Tôi có thể phát bực mình? Hay có lẽ bé bị câm, ôi cô bé tội nghiệp. Cho đến lúc này cô bé chạy thoát thân đến tận đỉnh đồi cỏ. Và ở trên đó cô bé quay lại nhoen nhoẻn miệng cười nói to với tôi:"Chẳng có ai ra lệnh cả, bởi vì cả nhà yêu thương nhau".
  
Chúng ta sẽ tránh những xung đột không cần thiết. 

Lm. Giuse Đinh Quang Vinh chuyển dịch
Nguồn: http://ubmvgiadinh.org/?open=contents&display=2&id=3024

Thứ Sáu, 12 tháng 8, 2011

Ly dị, tội hay không tội


Vũ Văn An8/10/2011

Jack Dominian, trong cuốn Hôn Nhân, Đức Tin và Tình Yêu, xuất bản tại Luân Đôn năm 1981, có đưa ra một bảng liệt kê những đơn xin ly dị và được phép ly dị xẩy ra tại Anh và Wales trong khoảng thời gian từ năm 1911 đến năm 1980. Theo đó, năm 1911, chỉ có 902 đơn xin ly dị và 650 trường hợp đuợc ly dị. Các con số tăng dần lên đến 31,905 đơn xin ly dị và 25,394 vụ ly dị vào năm 1961. Nhưng đến năm 1971, có đến 110,900 đơn xin ly dị và 74,400 vụ ly dị đã xẩy ra. Một trong những yếu tố góp phần vào hiện tượng tăng vụt ấy chính là Đạo Luật Canh Cải Ly Dị ban hành năm 1969 và có hiệu lực kể từ đầu tháng Giêng năm 1971, cho phép một cuộc ly dị xẩy ra không cần phải có vi phạm trong hôn nhân, mà chỉ cần chứng minh rằng cuộc hôn nhân ấy bế tắc đến độ vô phương cứu chữa. Đạo Luật Gia Đình năm 1975 của Úc cũng chấp nhận cùng một nguyên tắc ấy. Và thế là cả ở Úc nữa, tỷ lệ ly dị tăng vọt: có người ước lượng đến 40% tổng số các cặp vợ chồng kết hôn hợp lệ. Tuy nhiên, phần đông các nhà xã hội học không đồng ý đổ lỗi hoàn toàn cho việc thay đổi luật lệ. Ly dị có những nguyên nhân sâu xa hơn những thay đổi luật lệ kia. Chính Giáo Hội Công Giáo cũng nhìn nhận như vậy. Và thực tế, dường như mức độ ly dị đang ảnh hưởng mạnh đến đường hướng mục vụ của Giáo Hội Công Giáo, đến độ vấn đề Ly Dị, Tội Hay Không Tội là một vấn đề đang đặt ra cho rất nhiều lương tâm Công Giáo. 

1. Ly dị

Trong cuốn Cẩm Nang Giáo Luật Thực Dụng, ấn hành năm 1991, Linh Mục Bùi Đức Tiến đã không minh nhiên định nghĩa hạn từ ly dị. Ngài chỉ nhấn mạnh đến sự khác biệt giữa Ly Thân và Ly Dị. Theo đó, với ly thân, tuy hai người không sống chung với nhau, nhưng giao ước hôn phối của họ vẫn tồn tại, họ vẫn là vợ, là chồng của nhau và vẫn bị ràng buộc bởi luật chung thủy (số 291, tr.270). Từ đó có thể suy ra: với ly dị, giao ước hôn phối không còn nữa, hai người hết còn là vợ, là chồng của nhau và do đó luật chung thủy không còn áp dụng nữa.

Như vậy ly dị đồng nghĩa với tiêu hôn (dissolution of a marriage). Đó là quan điểm chung xưa nay vẫn được mọi người nhìn nhận. Và với nghĩa ấy, thật khó có thể nói ly dị là không có tội. Vì Thiên Chúa đã nói qua Tiên Tri Malaki: "Ta ghét việc ly dị" (Malaki, 2:14). Truyền thống Công Giáo không có vấn đề tiêu hôn, mà chỉ có việc tuyên bố một hôn nhân vô hiệu (invalid) vì khi giao ước, hai bên mắc vào một trong những yếu tố làm cho hôn nhân của họ không thành sự. Mà đã không tiêu hôn, thì không có ly dị. Các Giáo hội Kitô khác đã dựa vào Tin Mừng Matthêu đoạn 19, câu 9 để cho phép ly dị trong trường hợp ngoại tình. Riêng Giáo Hội Công Giáo vẫn chủ trương không ly dị vì bất cứ lý do gì, kể cả một bên đã bất tín. 

2. Có tội 

Thực tế, nhiều người Công Giáo đã ly dị. Một nghiên cứu gần đây tại Anh và Wales cho thấy tỷ lệ ly dị của người Công Giáo La Mã cũng tương tự như tỷ lệ của xã hội nói chung (Hornsby Smith, Roman Catholic Opinion. University of Surrey, 1979). Những người này đã nghĩ gì về thân phận họ và thực tế đã được đối xử ra sao trong cộng đồng Giáo Hội? Linh mục John Hosie, trong tác phẩm Catholics, Divorce & Remarriage xuất bản năm 1991, cho hay: Nhiều người Công Giáo ly dị nghĩ rằng khi làm như thế, họ không còn xứng đáng lãnh nhận các bí tích nữa, nhất là Bí Tích Thánh thể, và nếu họ tái kết hôn khi không được toà án hôn phối của Giáo hội tuyên bố hôn nhân trước vô hiệu, là họ lập tức bị rút phép thông công (tr.x). Đấy là ý nghĩ của Morris West, một văn sĩ nổi danh của Úc. Trong tác phẩm A View From The Ridge, The Testament Of A Pilgrim, viết năm 1996, Morris West nhắc lại những cảm quan của ông khi cuộc hôn nhân thứ nhất của ông thất bại và niềm khắc khoải vì cái ám ảnh bị tức thời rút phép thông công (ipso facto excommunication) do hành động ấy gây ra. Thân nhân những người Công Giáo ly dị thuờng có thái độ thù nghịch. Đối với họ, nhận rằng một thành viên trong gia đình ly dị là nhận một sỉ nhục giống như thể thân nhân mình bị kết tội hình phải đi tù vậy. Cho nên họ cắt đứt liên lạc với người ly dị. Ngay cả bạn bè cũng thế: nhiều người ly dị cho hay bạn hữu tránh không muốn tiếp xúc với họ. Cái cảm thức bị ruồng rẫy (rejection) quả là một áp lực nặng nề làm đau thêm cái đau vốn đã quá nặng của họ.

3. Không có tội 

Về phía những vị chăn chiên, một số khá đông trong cái nhiệt tâm bảo vệ đặc tính vĩnh viễn, bất khả tiêu của hôn nhân, đã kịch liệt lên án ly dị mà không phân biệt giữa cái ác của ly dị và người ly dị. Nói chung, mục vụ dành cho người ly dị hầu như bị lãng quên. Rất may, các thái độ trên đang thay đổi đáng kể. Năm 1982, Hội Đồng Giám Mục Tân Tây Lan ra thư luân lưu chính thức lên tiếng về Mục Vụ Dành Cho Người Công Giáo Ly Thân và Ly Dị, tựa đề là Khi Mộng Tan Đi (When Dreams Die). Hội Đồng Giám Mục Úc Đại Lợi cũng dùng cùng một thư luân lưu này gửi các tín hữu của mình. Trong thư luân lưu này, các tín hữu Công Giáo được chỉ dẫn rằng ý niệm cho ly dị có tội là một ý niệm không đúng, và rằng phải làm sao để những người ly thân và ly dị không cảm thấy bị loại trừ, trái lại nên khích lệ họ tham dự vào sinh hoạt bí tích của cộng đoàn Công Giáo. Giáo huấn mới mẻ này bắt nguồn từ Tông Huấn Familiaris Consortio của Đức Gioan Phaolo II ban hành ngày 22 tháng 11 năm 1981. Đi xa hơn thế, Hội Đồng Giám Mục Anh và Wales ngày 22 Tháng 4 Năm 1994, qua tờ The London Catholic Herald, đã chính thức lên tiếng xin lỗi những ngưòi ly thân và ly dị vì sự thiếu chăm sóc mục vụ của mình đối với họ. Tuy thế, rất nhiều người Công Giáo ly dị và nói chung quảng đại quần chúng Công Giáo vẫn còn rất mù mờ về quan điểm chính thức hiện nay của Giáo Hội, đến độ dù Tông huấn của Đức Gioan Phaolo II đã được công bố cách đó 16 năm, thư luân lưu của Hội Đồng Giám Mục Úc được công bố cách đó 15 năm, họ vẫn tỏ ra ngạc nhiên đến thích thú khi nghe Đức Cha David Cremin, giám mục phụ tá tại Sydney, tuyên bố trong một thánh lễ dành cho Hội Các Cha Mẹ Đơn Lẻ (Single Parents) mà phần lớn hội viên là những người Công Giáo đã ly dị: "Nói cho cùng, ly dị không có tội" (Tập San Inform, số 39, Tháng 7 Năm 1994, Sydney).

4. Ly dị nào không có tội? 

Phải chăng, học thuyết của Giáo Hội về ly dị nay đã thay đổi đến độ người Công Giáo được phép ly dị mà vẫn được tham dự đầy đủ đời sống bí tích của Giáo Hội ? Vấn đề thực ra không đơn giản như vậy. Vì như trên đã nói, định nghĩa của Giáo Hội về ly dị trước sau vẫn là một và do đó ly dị luôn là một điều xấu, hay nói theo thuật ngữ của Hiến Chế Vui Mừng và Hy Vọng, ly dị là một thứ bệnh dịch (số 47). Tuy nhiên, ngày nay Giáo Hội phân biệt hai loại ly dị, hay nói đúng hơn hai trường hợp ly dị: ly dị dân sự nhưng không tái kết hôn, và ly dị dân sự rồi sau đó tái kết hôn. Các tuyên bố của các giám mục đôi khi không nói rõ sự phân biệt ấy. Nhưng Tông Huấn Familiaris Consortio của Đức Gioan Phaolo II đề cập đến sự phân biệt ấy một cách hết sức minh nhiên. Trường hợp thứ nhất, Đức Thánh Cha nói rõ, không bị trở ngại trong việc chịu các bí tích. Vì thực ra nó giống trường hợp ly thân đã được Linh mục Bùi Đức Tiến định nghĩa như trên (dây hôn phối vẫn còn). Trường hợp sau, Đức Thánh Cha nói rõ, là một sự xấu, và dù dưới bất cứ nguyên cớ nào, cũng không được chịu Thánh Thể vì hai lý do sau đây: bậc sống của họ mâu thuẫn với sự kết hợp yêu thương giữa Chúa Kitô và Giáo Hội vốn được biểu hiện qua Phép Thánh Thể và mặt khác cho phép họ Rước Lễ sẽ làm các tín hữu khác lầm lẫn và hiểu sai giáo huấn của Giáo Hội về đặc tính bất khả tiêu của hôn nhân (các số 83-84). Thực ra giáo huấn này không hẳn mới mẻ gì. Chính Đức Kitô đã phân biệt như thế khi Người nói: "Ai ruồng rẫy vợ mình và cưới lấy người đàn bà khác thì phạm tội ngoại tình đối với người vợ thứ nhất; nếu một phụ nữ bỏ chồng để đi cưới người khác, thì cũng phạm tội ngoại tình." (Mc 10:9; xem thêm Mt 19:9, Lc 16:18). Chỉ bỏ vợ hoặc chồng mà thôi chưa thành tội (ngoại tình). Thánh Phaolo đã hiểu như thế khi viết: "Vợ không được bỏ chồng, mà nếu đã bỏ chồng, thì phải ở độc thân." (1 Cor 7:10-11). Thành ra khi nói rằng ly dị không có tội, các thẩm quyền Giáo Hội muốn nói đến việc ly dị dân sự: nguyên việc chấm dứt hôn ước trước toà án dân sự mà thôi chưa có tội. Nhưng nếu sau đó, người ly dị dân sự tự ý tái kết hôn, họ chính thức phá đổ giao ước hôn nhân, đi ngược lại ý định nguyên thủy của Thiên Chúa, như Chúa Kitô đã nói trong các Phúc âm Nhất Lãm. Dù vậy, Đức Thánh Cha cho hay, họ vẫn không bị loại trừ khỏi Giáo Hội: "Cùng với Thượng Hội Đồng, Tôi khẩn thiết kêu gọi các chủ chăn và toàn thể cộng đoàn tín hữu giúp đỡ những người ly dị, và với sự săn sóc đầy nhiệt tâm hãy làm sao bảo đảm rằng họ không tự coi họ như những người bị tách biệt ra ngoài Giáo Hội, vì là những người đã chịu phép Rửa, họ có thể, và thực ra phải, chia sẻ đời sống của Giáo Hội. Nên khích lệ họ lắng nghe Lời Chúa, tham dự Thánh Lễ, kiên tâm cầu nguyện, đóng góp vào các công việc bác ái cũng như các cố gắng của cộng đòan phục vụ công lý, nuôi dạy con cái trong đức tin Kitô Giáo, trau dồi tinh thần và thực hành thống hối và ngày đêm khẩn cầu ơn Chúa." (Tài liệu đã dẫn, số 84). Nói tóm lại, dù hiểu theo nghĩa nào, ly dị vẫn không đồng nghĩa với rút phép thông công. Quả là một thay đổi lớn lao, thật khác với thời Morris West. Ông thuật lại cố gắng của ông trong việc xin toà án hôn phối của Giáo Phận tuyên bố hôn nhân thứ nhất của ông vô hiệu. Đơn của ông bị bác. Ông lên toà Tổng Giám Mục để được giải thích. Vị Tổng Đại Diện của giáo phận cho ông hay dù lương tâm ông tin hôn nhân đầu không thành nhận, nhưng vì thiếu chứng cớ, nên toà án giáo phận phải kết luận rằng dây hôn phối ấy thành nhận. Morris West cực lực phản đối cho rằng phán quyết ấy bất công ở chỗ đã thiên về định chế hôn nhân (favor matrimonii) chứ không quan tâm đến những con người kết ước. Vị Tổng Đại Diện tỏ ý tiếc không thể làm gì hơn và cho ông hay: nếu ông tái kết hôn bên ngoài Giáo Hội, ông sẽ tự động bị trục xuất ra khỏi Giáo hội (sách đã dẫn, tr.96).

5. Tái kết hôn mà vẫn rước lễ? 

Kể từ khi Tông huấn Familiaris Consortio được công bố đến nay, chiều hướng mục vụ ở một vài nơi còn tiến xa hơn đến chỗ chấp nhận cho cả những trường hợp ly dị dân sự sau đó tái kết hôn được rước lễ, dù toà án hôn phối của Giáo Hội đã bác không tuyên bố vô hiệu hôn nhân đầu. 

Theo Linh mục John Hosie, đó có thể là trường hợp những người thành thực tin hôn nhân trước của mình thiếu yếu tố thành nhận, nhưng không có hy vọng được tuyên bố vô hiệu, không phải vì trường hợp của họ không đủ mạnh, nhưng chỉ vì các nhân chứng không liên lạc được hoặc liên lạc được nhưng từ chối không chịu để toà hôn phối phỏng vấn, cũng có thể vì nhân chứng chủ yếu nay đã mệnh một. Trường hợp tương tự là khi người Công Giáo kết hôn với người đã ly dị không Công Giáo và họ có đủ lý do để tin rằng hôn nhân trước của người phối ngẫu mình có thể đã không thành, nhưng người phối ngẫu này không chịu nạp đơn lên tòa hôn phối vì sự phức tạp phải yêu cầu thân nhân, bạn hữu và cả người phối ngẫu đầu tiên ra làm chứng trước tòa. Giáo Hội có gì giúp những người như thế không?

Linh mục Hosie cho rằng có: trong những trường hợp như vậy, người Công Giáo có thể căn cứ vào tòa trong (internal forum) để quyết định theo lương tâm và tiếp tục rước lễ. Theo ngài, đây là một nguyên tắc luân lý hoàn toàn đúng đắn và chính thống. Vì ngày 4 tháng 11 năm 1973, Đức Hồng Y Seper, lúc ấy là Tổng Trưởng Bộ Tín Lý của Tòa Thánh, ra một thư luân lưu khuyên các chủ chăn linh hồn phải quan tâm săn sóc những người đang sống trong những cuộc hôn nhân bất thường, bằng cách khi phải giải quyết những trường hợp như thế, thì, ngoài các phương thế đúng đắn khác, nên áp dụng tập tục toà trong vốn đã được giáo hội nhìn nhận. (Canon Law Digest, 9:503f). Nói theo ngôn ngữ bình dân, điều ấy có nghĩa: đối với những cuộc hôn nhân không được giáo hội nhìn nhận, thì ngoài những phương thế đúng đắn khác (như nhắc họ nạp đơn xin tuyên bố vô hiệu hôn nhân trước), các linh mục nên áp dụng tập tục từng được giáo hội nhìn nhận cho phép người ta quyết định theo lương tâm. Điều ấy sẽ cho phép họ được rước lễ.

Tuy nhiên, hai năm sau thư luân lưu của Đức Hồng Y Seper, người kế vị ngài là Đức Tổng Giám Mục Hamer đã đưa ra một số nguyên tắc hướng dẫn những quyết định lương tâm trên. Thứ nhất, cần phải sống một cuộc sống Kitô hữu xứng đáng. Thứ hai, phải tránh gương mù bằng cách chỉ nên rước lễ ở những nơi không ai biết trường hợp của họ (Canon Law Digest 9:504f). 

Gương mù là hành vi có thể dẫn người khác đến chỗ phạm tội. Không phải những người giả bộ hoặc những người phán đoán khắc nghiệt, loại người biệt phái mà Chúa Kitô lên án là giả hình. Ta không cần phải khuôn rập tác phong ta để làm họ vui. Lại có những người không biết gì về việc một hôn nhân có thể được vô hiệu hoá khiến người kết ước có thể tái hôn trong lòng Giáo Hội. Họ cũng không phải là loại người ta cần phải tránh gương mù. Cuối cùng, cần phải chú ý: không nên giả thiết về gương mù. Nếu hoàn cảnh tái hôn ít được quảng đại quần chúng biết đến (nên biết một điều: danh sách những người được vô hiệu hoá hôn nhân không bao giờ được công bố trên báo chí), thì người tái hôn có thể rước lễ ngay tại giáo xứ của mình. Một điểm cần nhấn mạnh nữa là chính người tái hôn phải quyết định theo lương tâm, chứ không phải ai khác, và quyết định ấy không bao giờ là chính thức cả, nó áp dụng cho lương tâm họ mà thôi. Điều này không dễ đối với đa số người Công Giáo vốn được giáo dục trong môi trường tiền Công Đồng Vatican 2 là môi trường không khích lệ sự tự ý quyết định theo lương tâm mình. Nhưng nay, đó lại là điều Giáo Hội muốn nơi họ. Quyết định theo lương tâm không thuần chỉ vì ý muốn được rước lễ, đúng hơn phải dựa vào niềm xác tín rằng hôn nhân thứ nhất của mình không phải là một hôn nhân thành nhận, dù thẩm quyền Giáo Hội không nhìn nhận như vậy.

6. Không ly dị mà là ly dị? 

Linh mục Hosie còn đi xa hơn, cho rằng giáo luật được thi hành ở hai bình diện: bình diện khách quan, phổ quát và bình diện lương tâm bản thân. Sự suy đoán của luật (presumption of law) thuộc bình diện phổ quát, ở đây ta thấy lời của Đức Gioan Phaolo II liên quan đến hôn nhân có giá trị trên bình diện này: hôn nhân, kết ước hộp lệ, được suy đoán là thành nhận cho đến khi bị tuyên bố là vô hiệu. Lời của ngài cho thấy Giáo Hội giữ vững một cách không mập mờ giáo huấn của mình về đặc tính bất khả tiêu của hôn nhân. Nhưng trong khi khích lệ người ta nạp đơn xin tuyên bố hôn nhân của mình vô hiệu, ngài không hề nói rằng không có hoàn cảnh nào cho phép họ được rước lễ nếu đơn của họ bị bác. Khi Đức Thánh Cha lên tiếng công khai, với công chúng, hoặc qua văn bản, ngài nói trên bình diện khách quan, phổ quát. Nhưng ngài cũng từng nói trên bình diện bản thân nữa. Đó là lúc những con người chân thực đến gặp ngài trên bình diện bản thân, qua toà giải tội chẳng hạn, những lúc như vậy, ngài có thể nói với họ thẳng vào lương tâm từng người mà không sợ bị hiểu lầm.

Hai bình diện của giáo luật có thể được minh thị bằng thí dụ sau: trên bình diện kỹ thuật, Giáo Hội không nhìn nhận ly dị, nhưng như trên đã thấy, ở một số nơi, Giáo Hội đòi buộc phải ly dị dân sự rồi mới nạp đơn xin vô hiệu hôn nhân. Cũng thế, nhiều người tái kết hôn (theo dân luật), trước khi được tuyên bố hôn nhân trước vô hiệu. Như thế, trước khi được tuyên bố vô hiệu, họ đã một "cách khách quan" không thi hành giáo huấn của Giáo Hội. Điều đáng lưu ý là một khi được tuyên bố vô hiệu, và việc tái hôn của họ "được chúc lành", Giáo Hội coi hôn nhân thứ hai đã bắt đầu không phải từ lúc được Giáo Hội chúc lành, mà là từ lúc lời thề hứa được thực hiện ngoài dân sự (có nghĩa là lúc họ, trên bình diện khách quan, không thi hành luật phổ quát của Giáo Hội về đặc tính bất khả tiêu).

Theo thiển ý, việc có hai bình diện là điều có thực. Nhất là từ thời Công đồng Vatican 2 với việc nhấn mạnh đến vai trò lương tâm con người trong các quyết định luân lý. Và thuật ngữ toà ngoài tòa trong vốn đã có từ lâu nay. Vì nói cho cùng, biểu thức truyền thống về trọn bộ nội dung giáo luật được tóm lại trong câu sau đây: In Ecclesia, suprema lex salus animarum (trong Giáo Hội, luật trên hết là lợi ích của các linh hồn). Nói cách khác, luật vì con người, chứ không phải con người vì luật. Tuy nhiên nhận định của linh mục Hosie, qua những thí dụ trên, không hoàn toàn chính xác. Thứ nhất, Giáo hội không bao giờ đòi buộc tín hữu mình nếu muốn nạp đơn xin tiêu hủy hôn nhân phải ly dị dân sự trước. Trong Giáo hội, như thánh Phaolo đã nói, vợ chồng không được bỏ nhau, và nếu bỏ nhau thì phải ở độc thân, và phải tìm cách làm hòa với nhau, nghĩa là chỉ được ly thân (khi có lý do chính đáng, nếu lý do ấy không còn thì phải làm hoà với nhau). Bao lâu, dây hôn phối vẫn còn đó, thì còn có hy vọng trở về với nhau. Một khi dây hôn phối đã bị bẻ gẫy qua hành vi ly dị dân sự, thì biện pháp cuối cùng phải là luật lệ, để hoạ may giải quyết bằng cách tìm hiểu xem hôn nhân trước có thành hay không. Tuyên bố vô hiệu do đó là một biện pháp đến sau để giải quyết một bế tắc hơn là gây ra bế tắc ấy. Thứ hai, sự kiện, một khi tuyên bố vô hiệu, thì hôn nhân thứ hai được kể là có hiệu lực từ ngày kết ước dân sự, chứ không phải kể từ ngày hôn nhân đầu được tuyên bố vô hiệu, chỉ là quảng diễn ý niệm căn bản của việc vô hiệu hoá: vô hiệu hóa là tuyên bố rằng hôn nhân thứ nhất, dù bề ngoài xem ra như một hôn nhân, thực tế chưa bao giờ là một hôn nhân cả vì khi kết ước, hai bên thiếu một trong những yếu tố làm cho hôn nhân ấy thành hiệu. Cho nên về phương diện luật, hai người được kể là "độc thân" nghĩa là không bị trói buộc. Hôn nhân thứ hai vì vậy mà có hiệu lực kể từ ngày hai vợ chồng mới kết ước, sự kết uớc giữa hai con người có đủ năng quyền, không bị một trói buộc nào. Giáo Hội luôn luôn tôn trọng một hôn nhân kết ước tự nhiên như thế. Cho nên không thể nói: trước khi được tuyên bố vô hiệu, hai người "khách quan" không tuân phục nguyên tắc bất khả tiêu hôn nhân của Giáo Hội.

Nói tóm lại, ly dị vì bất cứ lý do gì cũng là điều không được Chúa Kitô chấp nhận. Và nếu Chúa Kitô đã không chấp nhận, thì Giáo Hội, bạn chí thánh của Người, cũng không thể nào chấp nhận. Việc một người đã ly dị dân sự, tái kết hôn dù hôn nhân trước không được tuyên bố vô hiệu, nhưng lương tâm ngay thẳng của họ tin rằng nó vô hiệu, và trong tâm tình bác ái của một người con Chúa tránh gây "gương mù gương xấu" cho anh em, quyết định vẫn tiếp tục rước lễ, ta chỉ biết tôn trọng sự quyết định của họ và trao họ cho sự quan phòng và phán quyết của Chúa. Chỉ có Người mới biết thực sự họ ra sao.

Vũ Văn An

Thứ Năm, 11 tháng 8, 2011

Trung Tâm Ngoại Ngữ CENLET


TRUNG TÂM NGOẠI NGỮ CENLET

20 NĂM HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN


 Một ngày có lẽ là đẹp trời và đẹp lòng của tháng 5 năm 1989, một số đồng nghiệp dạy tiếng Pháp – các anh Cao Hữu Điền, Tôn Thất Lập, Trương Văn Minh, Hồ Trân và tôi (lúc ấy dạy tiếng Anh ở trường Trung học phổ thông Gia Hội, Huế) – đã đồng tình và quyết định thành lập CÂU LẠC BỘ GIÁO VIÊN NGOẠI NGỮ (Club des Enseignants des Langues Étrangères), viết tắt là CENLET. Và danh từ ‘CENLET’ ra đời từ đó. Trụ sở đầu tiên của CENLET đặt tại số 4 đường Hoàng Hoa Thám, thành phố Huế.

Câu lạc bộ CENLET ra đời với những định hướng và mục đích cụ thể sau đây:
- Hỗ trợ chính sách đổi mới của Nhà nước để phát triển đất nước trong giai đoạn mở cửa; nhu cầu quan hệ với thế giới ngày càng mở rộng và do đó, ngoại ngữ là công cụ cần thiết trong quan hệ đối tác và giao lưu với thế giới;
- Góp tiếng nói khẳng định thành phố Huế là thành viên của Hiệp hội quốc tế các thành phố có sử dụng tiếng Pháp (AIMF);
- Góp phần trang bị trình độ ngoại ngữ cho quần chúng thuộc nhiều thành phần khác nhau có nhu cầu học ngoại ngữ thực sự;
- Góp phần tập hợp thầy cô giáo dạy ngoại ngữ trên địa bàn thành phố để có thể phát huy thế mạnh của bản thân, đóng góp vào phong trào đổi mới chung của tỉnh nhà.


Với những ý nghĩa thực tiển đó, CÂU LẠC BỘ GIÁO VIÊN NGOẠI NGỮ và sau đó là TRUNG TÂM NGOẠI CENLET đã thành lập và nhận được nhiều sự ủng hộ từ Ủy ban Nhân dân thành phố Huế, Phòng Giáo dục thành phố Huế, Sở Giáo dục và Đào tạo Thừa Thiên Huế và của nhân dân Thừa Thiên Huế.


Tháng 7 năm 1989, Trung tâm được phép mở các lớp tiếng Anh và tiếng Pháp tại trường tiểu học Lê Lợi với số lớp khai giảng đầu tiên là 10 lớp, sau 2 tháng tăng lên 20 lớp. Sau 3 tháng thử thách và nhận thấy công việc của Trung tâm có hiệu quả, đáp ứng được nhu cầu của nhân dân thành phố, UBND Thành phố Huế chính thức ra quyết định số 455 QĐ/UB ngày 6 tháng 10 năm 1989 do Ông Nguyễn Văn Mễ, Chủ tịch Ủy ban Nhân dân Thành phố Huế ký và cử Ban điều hành Trung tâm gồm:
- Ông Lê Văn Gioang, Trưởng Ban điều hành
- Ông Cao Hữu Điền, Phó Ban điều hành
- Ông Trương Văn Minh, Thư ký và kế toán.


Trong thời gian đầu Trung tâm chỉ được phép giảng dạy tiếng Anh và tiếng Pháp theo chương trình của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Việc tổ chức thi mãn khóa và cấp chứng chỉ do Khoa ngoại ngữ của trường Đại học Tổng hợp Hà Nội đảm trách.


Sau đó, Trung tâm được bổ sung chức năng Dịch thuật, theo quyết định số 243QĐ/UB ngày 30 tháng 5 năm 1990 của UBND thành phố Huế.


Do nhu cầu chuyển đổi công tác và khối lượng công việc của Trung tâm ngày càng nhiều, nên tôi mời thêm các anh Lê Văn Khôi, Tôn Thất Viễn Bào, Trương Sĩ Sằn làm phó Giám đốc Trung tâm và anh Lê Xuân Bân, phụ trách giáo vụ.


Sau hơn 2 năm nổ lực hoạt động và đã đạt được một số thành quả ban đầu về mặt chất lượng dạy và học, cũng như về tổ chức và đội ngũ giảng viên, Trung tâm được Bộ Giáo dục và Đào tạo công nhận theo quyết định số - 5699/TC-BT, do ông Nguyễn Nhật Quang – Phó Vụ trưởng Vụ Giáo dục Thường Xuyên và Tại chức ký ngày 23 tháng 10 năm 1991, cho phép Trung tâm được tổ chức thi và cấp chứng chỉ A tiếng Anh và tiếng Pháp.


Mùa hè năm 1990, hoạt động của trung tâm ngày càng phát triển tốt, số lượng học viên theo học ngày càng đông. Do cơ sở trường tiểu học Lê Lợi không đủ phòng học, nên chúng tôi xin chuyển đến trường Hai Bà Trưng, và sau đó khoảng một năm, khi số lượng học viên phát tăng mạnh, chúng tôi xin mở thêm cơ sở thứ 2 tại trường Quốc Học – Huế, với sự hỗ trợ của ông Âu Thanh Minh, lúc bấy giờ là Giám đốc Sở Giáo dục – Đào tạo Thừa Thiên Huế. Với tầm vóc lịch sử lịch sử của 2 ngôi trường trung học lớn nhất và đẹp nhất của thành phố Huế, Trung tâm CENLET đã may mắn có được những thuận lợi lớn ban đầu về mặt cơ sở vật chất và không gian hoạt động dạy và học, tạo điều kiện cho sự phát triển bền vững và lâu dài của trung tâm sau này.


Ngày 14 tháng 9 năm 1992 theo quyết định số 6026/TC-BT của Bộ Giáo dục và Đào tạo, Trung tâm được quyền tổ chức thi và cấp chứng chỉ B tiếng Anh và tiếng Pháp.


Qua nhiều đợt khảo sát, kiểm tra thực tế, Bộ GD&ĐT cho phép Trung tâm được tổ chức các kỳ thi và cấp chứng chỉ C theo quyết định số 4017/GDTX do Thứ trưởng Trần Xuân Nhĩ  ký ngày 20 tháng 6 năm 1994.


Giai đoạn từ năm 1991 đến năm 1997 là giai đoạn phát triển rực rỡ của Trung tâm. Đây cũng là giai đoạn mà phong trào dạy và học ngoại ngữ trong cả nước dâng cao khi đất nước bước vào thời kỳ mở cửa và đổi mới mạnh mẽ, đặc biệt mở rộng giao thương và ngoại giao trên trường quốc tế. Để đáp ứng nhu cầu học tập rộng rãi của học sinh, sinh viên và cán bộ ở thành phố Huế cũng như tỉnh Thừa Thiên Huế, Trung tâm đã lần lượt mở thêm nhiều chi nhánh và hợp đồng giảng dạy tiếng Anh tại nhiều cơ quan:
Ở địa bàn thành phố Huế, ngoài hai cơ sở chính là Quốc Học và Hai Bà Trưng, Trung tâm còn mở thêm 2 chi nhánh khác, đó là: cơ sở CENLET - THPT Nguyễn Huệ và cơ sở CENLET - Cao Đẳng Sư Phạm Thừa Thiên Huế.


Ngoài ra theo nhu cầu nâng cao trình độ ngoại ngữ cho cán bộ CNVC tại các cơ quan nhà nước, Trung tâm đã hợp đồng giảng dạy tiếng Anh tại các cơ quan như: Văn phòng Ủy ban Nhân dân thành phố Huế, Ủy ban Nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế, Khách sạn Lê Lợi, Khách sạn Hương Giang, v.v.


Ở khu vực huyện: Cùng với phong trào phát triển dạy và học ngoại ngữ rộng khắp trong tỉnh, các trường THPT trọng điểm của các huyện cũng có nhu cầu mở các chi nhánh CENLET. Trong giai đoạn này Trung tâm đã có chi nhánh tại các huyện sau:
- Huyện Phú Vang: Chi nhánh CENLET tại Trường THPT Phan Đăng Lưu và trường Tiểu học Thuận An.
- Huyện Hương Thủy: Chi nhánh CENLET tại Trung tâm Giáo dục Thường xuyên huyện Hương Thủy và Trường THPT Phú Bài.
- Huyện Quảng Điền: Chi nhánh CENLET tại Phòng GD Quảng Điền
- Huyện Phong Điền: Chi nhánh CENLET tại Trường THPT Phong Điền, và Trường THPT Nguyễn Đình Chiểu.
- Huyện Phú Lộc: Chi nhánh CENLET tại Trường THPT An Lương Đông và Trường THPT Phú Lộc.


Sau hơn 4 năm Trung tâm phát triển rất mạnh, đặc biệt về mặt số lượng, phong trào học ngoại ngữ mang tính chất “đại trà”đã dần dần lắng xuống. Một mặt do mục đích và động cơ học tập chưa rõ ràng; mặt khác, việc học ngoại ngữ “thực sự” để sử dụng ngoại ngữ đó một cách có hiệu quả không dễ dàng và đơn giản như nhiều người lầm tưởng cho nên số lượng học viên theo học tại các trung tâm ngoại ngữ ban đêm giảm dần. Giai đoạn khó khăn nhất mà trung tâm đã trải qua là từ cuối năm 1999 cho đến hết năm 2002. Trong giai đoạn này trung tâm đã thu hẹp dần các chi nhánh vùng huyện; chỉ còn giữ lại 2 cơ sở chính là Quốc Học và Hai Bà Trưng mãi cho đến giai đoạn “phục hưng” từ tháng 9/2003 cho đến nay.


Ngay từ khi mới thành lập với biết bao điều khó khăn – cơ sở vật chất , đội ngũ giảng viên không có sẵn, v.v., việc cạnh tranh để tồn tại là một qui luật không tránh khỏi, Ban Điều hành trung tâm đã quyết tâm chủ trương: Chỉ có một con đường duy nhất là cạnh tranh lành mạnh – Chất lượng dạy và học phải được đặt lên lên hàng đầu.


Để từng bước tạo được uy tín cho Trung tâm, đồng thời đảm bảo chất lượng dạy và học, Trung tâm đã mời những giảng viên có kinh nghiệm lâu năm trong nghề từ các trường Đại học Ngoại Ngữ, từ các trường Trung học phổ thông trong tỉnh. Trung tâm luôn lắng nghe ý kiến đóng góp dân chủ của giáo viên; luôn tạo điều kiện, cung cấp chương trình, băng đĩa, tài liệu mới đến từng giáo viên, đồng thời đồng thời cung cấp sách giáo khoa miễn phí cho học viên;


Tạo điều kiện cho giáo viên tiếp cận với phương pháp dạy-học mới có hiệu quả hơn. Điều này tạo nên sự phối hợp nhịp nhàng và đồng bộ trong các hoạt động dạy và học.


Song song với việc nâng cao chất lượng dạy và học, Trung tâm đã tổ chức các Kỳ thi mãn khóa rất nghiêm túc, đúng qui chế thi của Bộ GD-ĐT; luôn luôn có những biện pháp hữu hiệu để ngăn chận những trường hợp tiêu cực trong quá trình thi như: thi hộ, quay cóp tài liệu, ra đề thi dễ v.v. Chất lượng đề thi theo chuẩn mực và dạng thức đề thi của Bộ Giáo dục và Đào tạo; không khuyến khích đối tượng thí sinh dự do mà không qua đào tạo. Một minh chứng cụ thể cho chất lượng đầu ra, đó là tỷ lệ học viên thi đỗ mãn khóa bình quân từ 65 % – 75 %.


Trung tâm luôn luôn đảm bảo quỹ thời gian đào tạo đã đưa vào chương trình học từ trước; không bao giờ rút ngắn khóa học và ngược lại, nếu có trường hợp nghỉ học do nhà trường bận, bảo lụt, v.v., thì học viên sẽ được học bù vào cuối khóa. Theo lý thuyết phân phối chương trình: Chứng chỉ A & B: 10 tháng (258 tiết); chứng chỉ C: 11 tháng (282 tiết). Tuy nhiên trong thực tế, sau khi đã trừ thời gian nghỉ Lễ, Tết, và thời gian các trường Quốc Học và Hai Bà Trưng bận sử dụng trong các kỳ thi tỉnh và quốc gia, thời gian thực học cho mỗi cấp độ phải mất một năm (12 tháng) mới kết thúc chương trình học và thi mãn khóa.


Ngoài ra nhằm mục đích trẻ hóa và bổ sung đội ngũ giảng viên, hằng năm Trung tâm còn tuyển các sinh viên vừa tốt nghiệp hạng Giỏi và Cận giỏi (có qua thực tập giảng dạy tại Trung tâm; được Ban Giám đốc trung tâm dự giờ và đánh giá). Đây là một giải pháp mang tính tích cực và hữu hiệu, tạo nên sự tương tác và sự nối tiếp truyền thống của Trung tâm qua các thế hệ, đồng thời góp phần tạo nên sự trẻ trung dân chủ và thân thiện – một trong những vẻ đẹp và thế mạnh của Trung tâm ngoại ngữ CENLET.


Ngoài chương trình ngoại ngữ A, B, C chính quy, Trung tâm còn mở các lớp Giao tiếp, luyện thi các chứng chỉ tiếng Anh quốc tế: TOEFL, IELTS, TOEIC nhằm đa dạng hóa các loại hình đào tạo, đồng thời đáp ứng nhu cầu thực học của sinh viên và học sinh chuẩn bị du học.


Trung tâm cập nhật các giáo trình và phương pháp, kỹ thuật giảng dạy mới để củng cố và phát triển chất lượng dạy và học, luôn giữ vững uy tín của một trung tâm chuyên nghiệp có một thế đứng nhất định ở thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế.


Trung tâm đã và đang nỗ lực hết mình để phát huy những thuận lợi cơ bản và khắc phục những khó khăn trên chặng đường phát triển. Một trong những ước mơ lớn của Trung tâm là có cơ sở vật chất riêng để chủ động trong việc tổ chức giảng dạy, trang bị phòng học chất lượng cao với đầy đủ nguồn tư liệu day-học cập nhật, các thiết bị nghe nhìn hiện đại đáp ứng nhu cầu của người học, theo kịp các chuẩn mục học ngoại ngữ như ở các thành phố lớn trong nước hiện nay.


Với tư cách là một tổ chức quần chúng hỗ trợ chủ trương và chính sách đổi mới của nhà nước, Trung tâm Ngoại Ngữ CENLET – đã đứng vững và phát triển trong 20 năm qua, vượt qua bao thăng trầm, giữa một thành phố có nhiều trường Đại học – là một thực thể đáng khích lệ, tự hào. Chúng tôi, tập thể thầy cô giáo của Trung tâm đã rất hạnh phúc khi tên gọi CENLET đã đi vào lòng người dân Huế như một danh từ chung có ý nghĩa gần như là ngoại ngữ. Để trả lời câu hỏi: “... Đi học thêm ngoại ngữ ở đâu?” đã có nhiều người dân ở Huế và ở các nơi khác trả lời: “đi học CENLET”, dù trong thực tế không chỉ đến Trung tâm CENLET mà là đi học ở các Trung tâm ngoại ngữ khác, ở những nơi khác.


Nhân kỷ niệm sinh nhật lần thứ 20 của Trung tâm, chúng tôi xin chân thành tri ân sự hỗ trợ rất quý báu về mặt tinh thần của chính quyền các cấp, của Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Thừa Thiên Huế và của Phòng Giáo dục thành phố Huế. Chúng tôi xin chân thành tri ân đặc biệt sự yêu thương tin cậy của tập thể thầy cô giáo và của học viên của Trung tâm trong suốt 20 năm qua.


LÊ VĂN GIOANG
Giám đốc Trung tâm

Thứ Hai, 8 tháng 8, 2011

Bằng khen của các cháu gia đình Lê Thanh Uyên


Bằng tốt nghiệp mẫu giáo của cháu Ân Ngô (Ngô Đình Thiên Ân)



Bằng khen của tổng thống Obama ký cho cháu Lan Ngô (Ngô Thanh Lan)
khi tốt nghiệp tiểu học.

Thiên An và Thanh Lan là con của Lê Thanh Uyên và Ngô Đình Thanh Duy
và là cháu ngoại của Lê Văn Gioang và Nguyễn Thị Tâm Thạnh,
thuộc chi Ông Trung - Bà Ký
*

Gia phả Lê Văn Gioang - Nguyễn Thị Tâm Thạnh




Mathêo Lê Văn Gioang (1942), tốt nghiệp Đại học sư phạm và Văn khoa Huế.
Cecilia Nguyễn Thị Tâm Thạnh (1949), tốt nghiệp Đại học Victoria. New Zealand.
-          Con gái đầu: Maria Lê Thanh Uyên (1971).
-          Con rể: Phanxicô Ngô Đình Thanh Duy (1971).
-          Cháu ngoại: Ngô Thanh Lan (1999) và Ngô Đình Thiên Ân (2004).
       Con gái thứ hai: Maria Lê Nhã Trúc (1972-1977)
-          Con trai út: Philip Lê Linh Tân, tốt nghiệp thủ khoa ngành công nghệ thông tin tại đại học Wellington, New Zealand.

- Lê Văn Gioang là con trai đầu của Bà Lý (Lới) - Ông Tám (Chân), thuộc chi Ông Trung - Bà Ký.
Gia đình Gioang-Thạnh hiện ở tại thành phố Huế.



Chủ Nhật, 7 tháng 8, 2011

Hôn Nhân Một Vợ Một Chồng

HÔN NHÂN MỘT VỢ MỘT CHỒNG: THÁCH ĐỐ HAY HỒNG ÂN


Ly dị hiện nay không còn được coi là một trọng tội đối với đời sống hôn nhân; ngược lại, nó đã được chấp thuận và hợp pháp hóa tại nhiều quốc gia trên thế giới. Theo đó, ít người cho rằng ly dị là một hành động xấu và cần phải tránh né. Tuy nhiên, nói như vậy không có nghĩa là luật “một vợ một chồng” của Thiên Chúa đã trở nên lỗi thời. Và Thiên Chúa cũng đã lỗi thời!!!


TRUYỆN MỘT LOÀI CHIM


Đi tìm một câu trả lời cho luật “một vợ một chồng”, thiên nhiên đã cho con người một câu trả lời mang đầy ý nghĩa và rất đáng để suy nghĩ:

Một câu truyện được kể về loài thiên nga, đó là có mội đôi thiên nga đang bay bên nhau trên nền trời xanh đẹp tuyệt vời. Không biết vì lý do gì một con bỗng rưng lảo đảo rồi lao xuống một triền đá chết. Con còn lại sau khi lượn quanh xác chết của bạn mình kêu lên những tiếng thảm thiết, rồi tự nhiên lao vút lên cao như để lấy đà rồi lao xuống gềnh đá và chết cạnh bạn của nó. 

Người ta đã thêu tặng nhau những bức tranh trong dịp cưới với hình một đôi thiên nga, vì thiên nga là loài vật rất đặc biệt. Sau khi đã trải qua thời gian thử thách, tìm hiểu và đã chấp nhận sống với nhau, thì đây là một “hôn phối bất khả phân ly” đối với chúng. Có nghĩa là hai con thiên nga ấy sẽ sống với nhau, bên nhau cho đến chết. Không cãi vã, không ngoại tình, và không ly dị. Chúng chỉ có nhau và gắn bó với nhau ngay cả khi con cái chúng khôn lớn và bỏ chúng ra đi. Và nếu một trong hai chết, thì con còn sống sẽ “ở vậy” suốt đời mà không hề có chuyện “tái giá” hay “tục huyền”.

Cùng với loài thiên nga, phượng hoàng đầu bạc ở Bắc Mỹ, và loại chim két hoàng bích ở Úc Châu cũng có cùng một đặc tính “một vợ một chồng” như vậy.


TỪ ĐẦU TIÊN ĐÃ KHÔNG XẢY RA NHƯ VẬY 


Ngày nay, nhiều người kể cả Công Giáo khi nói đến luật “Một vợ, một chồng”, ý nghĩa đầu tiên là cho rằng Thiên Chúa không thông cảm và hiểu những thách đố, khó khăn của đời sống hôn nhân. Giáo Hội Công Giáo khe khắt, đòi hỏi. Giáo Hội không bắt kịp trào lưu tư tưởng tiến hóa của con người thời đại. Theo quan niệm của những người chủ trương ly lị thì làm gì mà phải chung thủy? Tại sao phải sống chết với một người, nhất là người ấy gây phiền, gây khổ cho mình? Thiên hạ ly dị đầy đường có chết chóc ai đâu? Tại sao mình lại không thử một lần để may ra đổi được số mệnh???

Đó là những lý luận thoạt nghe tưởng như hữu lý vì nó hết sức hấp dẫn. Tuy nhiên, khi đi sâu vào ý nghĩa của đời sống vợ chồng, vào cái mà Giáo Hội Công Giáo gọi là “Ơn Gọi Hôn Nhân”, ta mới hiểu rằng ly dị không phải là giải pháp cuối cùng và tốt nhất cho đời sống hôn nhân. Ngược lại, chung thủy, một vợ, một chồng mới là cái làm cho đời sống hôn nhân trở nên hạnh phúc. Chính Chúa Giêsu đã xác định với những người Do Thái hỏi Ngài về ly dị như thế. Trước câu hỏi tại sao Maisen cho phép họ ly dị, Ngài đã trả lời: “Từ đầu đã không có chuyện ấy” (Mt 19:8).

Tại sao từ ban đầu Thiên Chúa đã không cho phép ly dị? 

Thiên Chúa khi kêu gọi con người bước vào đời sống hôn nhân, là Ngài đã có ý muốn họ hạnh phúc. Ngài biết sự chọn lựa và lời mời gọi ấy là tốt cho họ, bởi thế Ngài không muốn họ thay đổi: “Sự gì Thiên Chúa đã liên kết, loài người không được phân ly” (Mt 19: 6). Đó là luật, nhưng là một luật êm ái, nếu tuân theo con người sẽ được hạnh phúc.

Con người khi bước vào đời sống hôn nhân là tự chọn và đáp lại ơn gọi cao cả ấy. Sẵn sàng chấp nhận “luật” ấy bằng sự đáp trả của hiểu biết, tự do và tiếng nói của con tim. Không ai bắt buộc phải lấy người mình không muốn lấy. Và cũng không ai có quyền dùng sức mạnh, tiền bạc, hoặc quyền lực để cưỡng ép, chiếm đọat tình yêu người khác. Tình yêu trong hôn nhân, do đó, là một đáp trả tự do, công bằng, và trưởng thành.

Tình yêu vợ chồng dành cho nhau là một thứ tình phát xuất từ tình yêu Ba Ngôi Thiên Chúa. Thiên Chúa đã chia sẻ tình này cho con người. Ngài đã cho con người biết về dự án yêu thương này: “Chúng ta hãy tạo dựng con người giống hình ảnh chúng ta” (Sáng Thế 1:26). Và qua đó, Ngài đã tạo dựng nên họ “có nam, có nữ” (1:27). Do đó, khi đáp lại tiếng gọi con tim của nhau trong ơn gọi hôn nhân là con người chia sẻ thứ tình yêu cao cả ấy với Thiên Chúa và với nhau.

Như vậy, luật một vợ một chồng không phải là do Giáo Hội đặt ra và áp đặt trên con người. Đó là luật của Thiên Chúa. Mà những gì Thiên Chúa đã làm thì tốt đẹp, mang lại hạnh phúc cho mọi loài thụ tạo trong đó có con người.


DO SỰ CỨNG LÒNG CỦA CÁC NGƯƠI


Người Kitô hữu phải sống với suy tư này, đó là hôn nhân không phải là một khế ước đơn thuần của xã hội, một định chế của luật lệ xã hội. Nó cũng không phải là một đáp trả có tính cách tình cảm và dựa vào sự thôi thúc của dục vọng. Hôn nhân, theo cái nhìn Kitô Giáo là một ơn gọi. Một lời đáp trả trực tiếp đối với Thiên Chúa về sự chọn lựa bậc sống của mình, cũng như sự đáp trả tiếng gọi của con tim, của tình yêu giữa hai người. Đây chính là lý do tại sao Thiên Chúa đã không cho phép con người ly dị.

Con người có thể là coi thường lời hứa và coi thường tình cảm của nhau, nhưng đối với Thiên Chúa thì không. Những gì Ngài đã hứa, và những gì Ngài trao tặng nó phải mang tính cách vững bền, không thay đổi. Ngài không bao giờ làm một việc gì mà không nhìn đến hạnh phúc của con cái Ngài. Tình yêu mà Ngài mời gọi họ bước vào. Tình yêu mà Ngài san sẻ cho hai người để trao cho nhau cũng phát xuất từ sự thánh thiện và bền vững ấy. Do đó, khi con người phản bội nhau, chính là phản bội Thiên Chúa.

Các quan tòa, các thẩm phán, các luật sư và ngay cả các đương đơn ly dị, tất cả ai cũng đều biết rõ điều này là ly dị, một nghĩa nào đó là hành động phản bội. Nhưng sở dĩ họ vẫn làm là vì theo Chúa Giêsu đã nói: “Bởi vì lòng dạ các ngươi cứng cỏi, nên Maisen mới cho phép các ngươi ly dị vợ” (Mat 19:8). Việc cho phép của Maisen, như vậy chỉ là một việc làm miễn cưỡng, một hành động chẳng đặng đừng mà Thiên Chúa làm ngơ cho phép xảy ra theo sự cứng lòng của con người. Một cách tương tự, luật cho phép ly dị của các quốc gia hiện nay trên thế giới cũng chính là một hành động đi ngược với chủ ý của Thiên Chúa, nhưng vì tôn trọng tự do của con người, Ngài đành nhắm mắt làm ngơ! 

Nhìn vào những lý do ly dị hiện nay, hầu hết các trường hợp ly dị đều dựa vào lý do: “Những khác biệt không thể hàn gắn được” -Irrecconcilable differences. Đây có thể được coi là một sáng kiến khôn ngoan, nhưng cũng đầy lật lọng, đầy gian dối đối với các quan tòa và các luật sư biện hộ. Nó cũng là lý do để những ai đâm đơn ly dị dựa vào đó để tự trấn át lương tâm mình.

Trong thực tế, ai có thể chứng minh được những khác biệt không thể hàn gắn ấy là những khác biệt nào, và chúng đến từ nguyên nhân nào, ngoại trừ người đứng đơn ly dị! Những khác biệt không thể hàn gắn ấy có thể là vì tôi đã có bồ, đã ngọai tình. Tôi đã lường gạt được anh hay em cho bõ ghét và nay thì không còn thèm muốn nữa. Nó cũng có thể là tự thâm tâm, tôi chỉ là một anh hay một chị đồng tính, hoặc vừa đồng tính vừa lưỡng tính. Một anh hay một chị đào mỏ chỉ thích cái gia tài khổng lồ của người khác. Những người mà tự mình đã dối gạt khả năng bất lực của mình, đối gạt tính ham mê cờ bạc, rượu chè, và nghiện hút. Và rất nhiều những lý do khác được gói trọn vào một câu: “Những khác biệt không thể hàn gắn được” - Irrecconcilable differences.

Chúa Giêsu, Đấng thấu hiểu lòng dạ con người nên đã giải thích những khác biệt ấy bằng một câu vắn tắt nhưng đầy ý nghĩa, đó là “sự cứng cỏi của tâm hồn”. Mà nếu đã như vậy, thì người chồng hay người vợ có làm cách gì đi nữa cũng vẫn không thể “hàn gắn” được.

Một điều nghe như khôi hài mà rất nhiều người vẫn tự bào chữa cho thái độ vô tội, cho việc làm chính đáng của mình khi ly dị, đó là: “Tôi không bỏ vợ hay bỏ chồng vì một bóng hình thứ ba, không hề có chủ ý nào, mà chỉ đơn thuần là những khác biệt giữa hai người không thể hàn gắn. Tôi ly dị vì nghĩ đến ảnh hưởng giáo dục của những đứa con…” Thực tế lại cho thấy một nguyên tắc hoàn trái ngược, đó là chẳng ai dại gì bỏ đi cái mà mình đang có, họa chăng là đổi lấy cái mà mình cho là tốt hơn. Nguyên tắc tâm lý này đã được chứng minh trong hầu hết các trường hợp ly dị, mặc dù kết quả khảo cứu lại không cho thấy những đánh đổi kia là đúng, hoặc tốt hơn. Đông Tây gặp nhau, kinh nghiệm của tiền nhân Việt Nam cũng đã cho thấy điều này: “Tránh vỏ dưa, gặp vỏ dừa”, hoặc : “Chê thằng toét mắt, lấy thằng gù lưng ”.

Kết quả các cuộc khảo cứu cũng cho biết thêm đời sống sau khi ly dị người đàn bà là người chịu thiệt thòi nhiều so với đàn ông. Rất tiếc, cũng những khảo cứu ấy lại cho thấy đàn bà đứng đơn ly dị nhiều hơn đàn ông.




HỒNG ÂN CHỨ KHÔNG PHẢI THÁCH ĐỐ


Trở lại câu truyện một loài chim, thiên nhiên đã cho con người một bài học rất bổ ích, đầy ý nghĩa. Điều này minh chứng rằng Thiên Chúa và Giáo Hội đã không đặt trên vai con người những gánh nặng không thể mang vác, hoặc đòi hỏi những điều xem ra vô lý. Thiên Chúa chỉ muốn con người được hạnh phúc, và Giáo Hội chỉ hướng dẫn và giúp con người thực thi ý Chúa để được hạnh phúc.



Hạnh phúc của luật “một vợ một chồng” được nhìn thấy qua thái độ hớn hở và hạnh phúc của Adong khi đón nhận Evà từ tay Thiên Chúa. Ông hạnh phúc và sửng sốt kêu lêu: “Đây là xương của xương tôi, thịt của thịt tôi. Nàng sẽ được gọi là đàn bà, vì được rút ra từ đàn ông” (2:23). Vì ý nghĩa này mà người Việt Nam gọi chồng hay vợ là “mình”. Do đó, khi vợ chồng tự ý loại bỏ nhau, tự ý cho phép mình ly dị và dan díu với người khác là bỏ đi một phần của chính mình để đi tìm cái phần ấy của kẻ khác. Hoặc cũng có thể nói là đi ăn cắp, cướp giật phần của kẻ khác.

Tâm lý chung thủy, tự nó cũng nói lên khía cạnh tích cực vì nó thôi thúc hai người phải có trách nhiệm nối kết, mang lại hạnh phúc cho nhau. Trong hôn nhân không có thứ hạnh phúc một mình, vì hạnh phúc của người này cũng là hạnh phúc của người kia. Các nhà tâm lý đã khám phá ra rằng, hễ người nào cứ mang ý tưởng “ly dị” trong đầu, hoặc những ai bước vào hôn nhân như một “trò chơi”, những người này trước sau cũng ly dị. Những khảo cứu gần đây về lý do ly dị còn cho biết thêm là những ai đã một lần ly dị, họ thường là những người sẽ dễ dàng ly dị lần thứ hai hoặc thứ ba.

Như vậy, khi Thiên Chúa muốn con người bước vào ơn gọi hôn nhân bằng luật “nhất phu, nhất phụ” - một vợ một chồng - là Ngài muốn cho con người sống với tâm lý này. Ngài không muốn con người phải xao động, phải hối hận, và phải phân vân về chọn lựa của mình. Xao động, hối hận, hoặc phân vân nói lên tâm trạng thiếu trưởng thành, một tâm lý không đem lại hạnh phúc của hôn nhân. Cũng chính vì vậy, khi xét định một trường hợp hôn nhân “bất thành sự”, các thẩm phán trong các tòa án hôn phối của Giáo Hội đã căn cứ vào yếu tố trưởng thành tâm lý để quyết định giá trị thành sự của hôn nhân đó. Dĩ nhiên, đây chỉ là một trong nhiều những nguyên nhân khiến cho một cuộc hôn nhân không thành sự.

Trở lại những yếu tố tâm lý, tâm linh và thiên nhiên, và với cái nhìn tích cực, thì hôn nhân một vợ một chồng là một hôn nhân không vượt quá sự cố gắng của con người. Nó cũng không phải là gánh nặng mà Thiên Chúa đã vô tình đặt trên vai con người. Nhưng chỉ nói lên đó là một hồng phúc. Thật vậy, chỉ khi nào chúng ta bình tâm, sâu lắng và thành thật với mình, chúng ta sẽ nhận ra người vợ hay người chồng của mình chính là một tặng vật vô cùng quí giá và không thể thiếu trong cuộc đời và trên hành trình trần thế. Tóm lại, ly dị không phải là giải pháp cuối và tốt nhất cho hôn nhân. Việc này nếu xảy ra thì chỉ là một việc bất đắc dĩ và đòi hỏi nhiều lý do vững chắc, khả tín, khoa học. Điều mà Giáo Hội gọi là những lý do đưa đến sự bất thành ngay từ ban đầu của Bí Tích hôn nhân.