Thứ Tư, 12 tháng 12, 2012

Mùa Vọng của Thiên Chúa và con người

Lm. Thái Nguyên12/9/2012

Mùa vọng là thời gian mong chờ Chúa đến, nhưng đừng quên Chúa là Đấng đã chờ đợi ta trước khi ta chờ đợi Ngài; Đấng đã hy vọng về ta, để nhờ đó ta biết hy vọng vào Ngài. Mọi sự đều là sáng kiến và khởi đầu của Thiên Chúa, Đấng quyền năng vô biên và yêu thương ta vô bờ. Quyền năng và tình yêu Ngài là sự bảo đảm duy nhất cho niềm hy vọng của chúng ta. Ngoài Chúa ra, mọi hy vọng vào trần thế này hay bất cứ thần tượng nào cũng sẽ là vô vọng. 

I. MÙA VỌNG : THIÊN CHÚA HY VỌNG VỀ CON NGƯỜI.

1. Do hy vọng và cho hy vọng

Do hy vọng, Thiên Chúa đã tác sinh con người giống hình ảnh Ngài, cho họ bước vào vận hành sự sống của chính Ngài. 

Cho hy vọng, Thiên Chúa đã không ngừng hứa hẹn và kết ước yêu thương với loài người, dù cho họ có ngàn lần sa ngã lỗi phạm và xa bỏ Ngài. 

- Ngay từ Cựu Ước, Thiên Chúa đã phán qua tiên tri Ezekiel : “Ta không muốn kẻ gian ác phải chết, nhưng muốn nó ăn năn trở lại và được sống”. 

- Qua dân Israel, Thiên Chúa không ngừng tái lập lại các Giao ước mà con người luôn phá vỡ, do sự bất trung bất tín với Thiên Chúa, và bất nhân bất nghĩa với nhau. 

Vì vậy, Mùa Vọng là mùa qua đó Giáo Hội muốn khắc họa rõ hơn dung mạo của Thiên Chúa: Đấng đã hy vọng về con người qua lịch sử dân Chúa; Đấng vẫn hy vọng về con người trong lịch sử Giáo Hội; và Đấng mãi hy vọng về con người trong chính cảnh huống cụ thể của từng đời người.

Dung mạo Thiên Chúa ấy được thể hiện nơi Đức Kitô Đấng đã đến viếng thăm nhân loại lần thứ nhất trong mầu nhiệm Nhập Thể. Ngài đã đến cách lặng lẻ và sống âm thầm giữa mọi người, đã đảm nhận lấy thân phận con người cho đến tột cùng bằng cái chết để rồi Phục Sinh mở ra con đường cứu độ cho những kẻ tin. Và Ngài hứa sẽ đến lần thứ hai vào ngày cánh chung, để đặt mỗi người đối diện với chính Ngài như chuẩn mực phân chia đôi bờ thiện ác, và đặt mỗi người đối diện với chính mình như trách nhiệm cuối cùng đối với ơn cứu rỗi. Ngày đó là ngày thiết lập công bình tuyệt đối, nên: “Thiện ác đối đầu chung hữu báo”.

Lần thứ nhất do hy vọng, Chúa đến gieo mầm cứu rỗi. Lần thứ hai cho hy vọng, Người đến thu hoa lợi từ những gì đã gieo. Tuy nhiên, giữa hai lần đến chính thức ấy thì Đức Kitô vẫn âm thầm đến với chúng ta qua từng biến cố, từng con người, từng hoàn cảnh, từng sự việc... Nhưng bất ngờ lớn nhất giữa những cái bất ngờ vẫn là giờ và cách Chúa đến với mỗi cá nhân trong cảnh tranh sáng tranh tối của cuộc đời. Chúa đến bất ngờ không phải để bắt chợt chúng ta, nhưng muốn thấy được tình yêu của chúng ta đã triển nở và đang sinh hoa kết trái như lòng ước mong.

2. Thiên Chúa – Người Cha luôn hy vọng về con cái

Việc Thiên Chúa hy vọng vào con người được mạc khải rõ nhất qua dụ ngôn Người Cha nhân hậu (Lc 15,11-32). Thiên Chúa qua hình ảnh người Cha chấp nhận cho con mình tự do ra đi, chấp nhận cho con mình từ bỏ mình, để rồi từ đó trông ngóng, chờ mong và hy vọng không ngừng ngày nó trở về… Khi đứa con ngông cuồng dở sống dở chết trở về thì từ ở đàng xa người Cha đã thấy, ông vô cùng vui mừng chạy ra đón con... 

Quả thực, Thiên Chúa đã tự xóa mình trước con người. Ngài là Đấng quyền năng vô biên, nhưng cũng là Đấng khiêm hạ vô ngần. Hy vọng có một danh xưng khác là sự khiêm hạ. Jean Tauler cho biết: “Sự khiêm hạ là nhân đức ẩn tàng nơi sự sâu thẳm của Thiên Chúa”. 

Mặc dù là Thiên Chúa toàn năng, nhưng Ngài không muốn chiếm giữ hay chiếm hữu tình yêu của con người nếu họ không muốn. R. Tagore đã nghiệm ra chân lý này, và ông diễn đạt lời của Đấng Toàn Năng như sau: “Ta yêu người và xin người cho lại một tấm tình. Chúng ta khao khát tình yêu, vì cả hai cùng thiếu thốn. Ta là Tạo hóa, có thể tạo ra tất cả, trừ tình yêu tự nguyện, tình yêu tận hiến”. 

Đó không phải là điều mà Chúa Giêsu nói lên trên Thập giá sao? “TA KHÁT”. Khát điều gì? Chẳng lẽ Ngài khát một chút nước trước khi chết? Cái khát tận cùng đó không gì khác hơn là khát tình yêu của con người. 

Do đâu mà chúng ta có thể nói về niềm hy vọng của Thiên Chúa về con người? Thưa do tình yêu vô hạn của Thiên Chúa là Cha. Trong tiếng Dothái, có hai từ để chỉ tình yêu của Thiên Chúa: Hesed và Rachamim. 

- Hesed nói lên một tình yêu có màu sắc nam tính, cho thấy một Thiên Chúa uy dũng và tín thành, là sự bảo đảm cho ta. 

- Rachamim được Cựu Ước sử dụng, có nghĩa đen là “lòng dạ người mẹ”, nói lên một tình yêu có màu sắc nữ tính: tình yêu của một người mẹ, không phải vì công trạng nào của con, nhưng chỉ vì nó là con mình (x. Is 49,14-16 ; 63,16 ; Gr 31,20 ; Tv 131). Tình yêu phát xuất từ lòng dạ người mẹ là một tình yêu đầy lòng trắc ẩn (compassion). Thiên Chúa đầy lòng trắc ẩn nên hằng chờ mong và hy vọng nơi con cái mình. Ngài yêu thương như một người mẹ, bằng một tình yêu nhưng không, một tình yêu trung tín dù con người bất tín bất trung. 

Dù mọi người đã hoàn toàn thất vọng về ta, và dù chính ta cũng đã thất vọng về mình, nhưng Thiên Chúa vẫn luôn hy vọng vào ta. Chính tình yêu vô biên của Thiên Chúa làm cho Ngài hy vọng về chúng ta, và rồi cũng chính tình yêu đó mà Ngài cho chúng ta hy vọng vào Ngài. Chính vì lạ lùng trước một Thiên Chúa hy vọng về con người, khiến con người hy vọng vào Thiên Chúa.

II. MÙA VỌNG : CON NGƯỜI HY VỌNG VÀO THIÊN CHÚA

1. Tỉnh thức trong hy vọng

Tỉnh thức trong hy vọng là nhận thức rằng đời mình có một Thiên Chúa là Cha yêu thương chí tình, nên đời mình có một vận mệnh tương lai sáng ngời. Nếu dụ ngôn người Cha nhân lành cho thấy Thiên Chúa hy vọng về con người, thì cũng chính dụ ngôn ấy cho thấy con người hy vọng vào Thiên Chúa. Tiếc thay, đứa con quay về trước tiên không phải vì yêu thương Cha nó, mà chỉ vì đói rách, khốn cùng, nhục nhã, tuyệt vọng trước thế thái nhân tình, và nhất là đứng trước một tương lai bế tắc không lối thoát. Dù vậy người Cha vẫn vui mừng khôn tả để đón nhận con mình, vì nó là con, thế thôi. 

Ngạo nghễ thay khi đứng trước ngưỡng cửa của văn minh tiến bộ của thế kỷ 19, với nhiều thành tựu khoa học và kỹ thuật lớn lao, người ta đã trương ra khẩu hiệu: “Con người là tương lai của con người’’. Điều này có nghĩa là con người bất cần đến Thiên Chúa, hay chẳng có Thiên Chúa nào khác ngoài chính con người là chủ vận mệnh tương lai của mình. Nhưng tương lai ngay sau đó là gì? Thưa là hai cuộc thế chiến đẩm máu, đem lại tang thương khốn cùng và để lại những hậu quả thảm khốc trên đời sống con người. 

Chỉ hy vọng vào con người thôi là sự hão huyền trên mọi hão huyền. Nói như thế không phải ta thất vọng về con người, nhưng phải nhận ra sự giới hạn của khả năng con người và lòng người, để đừng rơi vào ảo tưởng. Chẳng ai và chẳng có cơ cấu hay chế độ nào có thể bảo đảm tương lai cho loài người ngoài một mình Thiên Chúa. Đó là kinh nghiệm của nhân loại trong nhiều sự kiện lịch sử của xã hội cũng như cá nhân. Thánh Kinh cũng cho thấy: “Không gì nham hiểm và bất trị như lòng người, ai dò thấu được?” (Gr 17, 9).

Trong Thánh Kinh, sự kiện sụp đổ tháp Babel cũng chính là biểu tượng sụp đổ niềm hy vọng của con người vào con người mà không cần đến Thiên Chúa. Đó cũng là kinh nghiệm sống chết của người con hoang đàng trước tình cảnh bi đát bị đồng loại bỏ rơi, đến nỗi muốn ăn chút cám heo thừa thãi mà người khác cũng không cho. 

Kết cục chỉ có một mình “Thiên Chúa là tương lai của con người”. Theo nghĩa này, đúng là những ai không biết đến Thiên Chúa, cho dù người ấy có bao thứ hy vọng, thì cuối cùng cũng chỉ là vô vọng (x. Eph 2,12). Niềm hy vọng vững vàng, bất chấp mọi thất vọng chỉ có thể là Thiên Chúa – Đấng đã yêu thương chúng ta và yêu thương “đến cùng” (x Ga 13:1; 19, 30). Chỉ tình yêu Ngài mới ban cho chúng ta khả năng kiên vững ngày qua ngày, mà không đánh mất đi nhiệt tình của niềm hy vọng trong một thế giới không hoàn thiện tự bản chất. 

Chỉ tình yêu của Thiên Chúa mới bảo đảm cho sự hiện hữu đích thực, là sự sống “viên mãn” mà ta vẫn trông đợi. Dù con đường chúng ta đi hôm nay phải ù qua bao thung lũng âm u, thì vẫn là con đường hy vọng. Niềm hy vọng vào Thiên Chúa cho ta vượt vượt qua mọi biên giới của sự thất vọng. 

2. Ba tiêu chí để sống niềm hy vọng

“Người hy vọng là người cầu nguyện. Đối tượng của cầu nguyện cũng là đối tượng của niềm hy vọng. Người hy vọng là cộng tác viên của Thiên Chúa. Ngài tìm gọi họ để hoàn tất việc tạo dựng và cứu chuộc của Ngài” (ĐHV 964). Để sống niềm hy vọng vững vàng vào Thiên Chúa, trong Thông điệp Spe Salvi, Đức Bênêđictô đưa ra ba tiêu chí: Cầu nguyện; dám dấn thân và chịu đau khổ; hướng đến cuộc phán xét.

- Cầu nguyện như trường học của niềm hy vọng. Con người đã được dựng nên cho Thiên Chúa, nhưng tâm hồn con người lại quá hẹp hòi, nhỏ bé để đón nhận Ngài. Vì thế, cầu nguyện là tập mở rộng lòng mình ra với Thiên Chúa, và nhờ đó cũng mở rộng lòng ra với đồng loại. Nhờ cầu nguyện, ta biết thanh luyện ước muốn và hy vọng của mình. Cầu nguyện làm thức tỉnh lương tâm ta, cho ta khả năng xóa mờ cái “tôi” ảo tưởng của mình, để có thể lắng nghe chính Chúa và vững tâm hy vọng vào Ngài.

- Đau khổ như những môi trường học hỏi hy vọng. Thánh Phêrô đã nói với chúng ta: “Được chia sẻ những đau khổ của Đức Ki-tô bao nhiêu, anh em hãy vui mừng bấy nhiêu, để khi vinh quang Người tỏ hiện, anh em cùng được vui mừng hoan hỷ” (1Pr 4, 13). Nhờ kết hợp với Đức Kitô trong đau khổ mà ta được tinh luyện để sống đức tin trưởng thành hơn, góp phần làm cho thế giới này được tươi sáng và nhân bản hơn. Đau khổ vì lòng yêu mến đem lại cho ta niềm hy vọng mạnh mẽ hơn.

- Hướng đến cuộc phán xét như phương cách sống hy vọng. Từ thời xa xưa, viễn ảnh cuộc phán xét đã ảnh hưởng đến các Kitô hữu trong cuộc sống hằng ngày. Họ coi cuộc phán xét như là tiêu chuẩn để tổ chức lại đời sống hiện tại của mình; như một sự mời gọi hoán cải tâm hồn; và như niềm hy vọng vào sự công bình của Thiên Chúa. 

Như vậy hy vọng vào Thiên Chúa là cách sống rất hiện sinh và cụ thể để làm đẹp cuộc sống mỗi người hôm nay. 

3. Mẹ Maria - Ngôi sao hy vọng

Bằng một thánh thi được viết vào khoảng Thế kỷ IX, Giáo Hội đã chào mừng Đức Maria, Mẹ Thiên Chúa như “Ngôi sao biển”: Ave maris stella. 

Cuộc đời như hành trình trên đại dương lịch sử, lắm khi u tối và đầy bão táp, cần có những ngôi sao đích thực dẫn đường cho cuộc đời ta. Chắc hẳn Đức Kitô là ánh sáng chính danh, là mặt trời chính ngọ bừng sáng trên mọi bóng tối của lịch sử. Nhưng để đi tới Ngài, chúng ta cần đến những điểm sáng gần gũi, là những người đang phản ảnh ánh sáng của Đức Kitô, để giúp ta dễ định hướng cho lộ trình của mình. Vậy ai có thể hơn Đức Maria, là ngôi sao hy vọng cho chúng ta. 

Đức Maria là con người tuyệt vời, vì đã sống niềm hy vọng tuyệt hảo. Mẹ tuyệt trần vì đã tin vào lời hứa của Thiên Chúa tuyệt đối. Mẹ tuyệt mỹ vì đã được cưu mang và sinh hạ Đấng là niềm hy vọng tuyệt luân của Israel và nhân loại. 

Đẹp thay hình ảnh một Từ Mẫu đã vững vàng đứng dưới chân thập giá của con mình, và đã trở thành Mẹ của những kẻ tin. Lưỡi gươm đâm thâu qua trái tim Chúa Giêsu cũng là đâm thâu qua lòng Mẹ để niềm hy vọng cứu độ lan tràn tới mọi tâm hồn. Niềm hy vọng đó đã đạt tới đích điểm là niềm vui Phục Sinh của ngày thứ nhất trong tuần, để Mẹ thành Mẹ Thiên Chúa. 

Đức Maria quả thật là Ngôi sao hy vọng, là Mẹ của hy vọng, là mẫu mực của chúng ta, những người gieo hy vọng vào đời sống nhân loại. 

III. SỐNG MÙA VỌNG, CHÚNG TA TRỞ NÊN NHỮNG NGƯỜI GIEO HY VỌNG

Đức Hồng Y Px. Nguyễn Văn Thuận đã xác định như sau: “Người Kitô hữu là ánh sáng giữa đen tối, là muối sống giữa thối nát, và là một hy vọng giữa một nhân loại thất vọng”. (954). Chắc chắn câu này ngài họa lại lời Chúa Giêsu: “Chính anh em là muối cho đời” (Mt 5, 13). “Chính anh em là ánh sáng cho trần gian” (Mt 5, 14). 

Thánh Phaolô cũng đã kêu gọi: “Giữa một thế hệ gian tà và sa đọa, anh em hãy chiếu sáng như những vì sao trên vòm trời” (Pl 2, 15). Bởi vậy, “Không thể quan niệm được một Kitô hữu mà không say mê đem niềm hy vọng ngập tràn thế giới.” (ĐHV 972). 

Chị Chiara Lubich với kinh nghiệm nội tâm, cũng nói với chúng ta rằng: “Với hy vọng, các bạn sẽ luôn luôn hạnh phúc, và các bạn sẽ làm cho mọi người hạnh phúc”. Nên nhớ đây là kinh nghiệm sống niềm hy vọng và rắc gieo niềm hy vọng, chứ không phải là hiểu biết suông về niềm hy vọng. Chúng ta có thể hiểu biết rất nhiều khi nói về niềm hy vọng, nhưng hiểu biết đó sẽ trở thành hư không, nếu nó không được kinh nghiệm, cảm nghiệm, chứng nghiệm, để trở thành sức sống cho tâm hồn mình và cho mọi người chung quanh.

Gieo hy vọng không chỉ là gieo tư tưởng hay ý thức cho người khác, mà chính yếu là gieo hạt mầm sự sống cho một tâm hồn, nên đòi hỏi hy sinh, quên mình. Câu chuyện ngắn sau đây của O Henry cho ta thấy được tâm tình cao thượng và hy sinh cao cả của người gieo niềm hy vọng: 

Có một nữ bệnh nhân chỉ còn biết đếm ngày sống thoi thóp của mình bằng những chiếc lá rụng dần từ một cành cây nhìn thấy qua khung cửa sổ. Đến khi trên cành chỉ còn chiếc lá duy nhất, thì cô nói với người thân rằng: “Nếu đêm nay, chiếc lá cuối cùng không còn nữa, em sẽ chết”. Niềm hy vọng của cô gái đang tắt dần, chỉ còn lại những giây phút tuyệt vọng. Ở phòng trọ bên dưới có một họa sĩ tình cờ nghe được. Thế là nữa đêm, giữa trời tuyết lạnh, người họa sĩ bắc thang leo lên vẽ một chiếc lá vàng ở bức tường sát cành cây khô khi chiếc lá thật đã rụng xuống. Sáng hôm sau, người bệnh thức giấc, vội nhìn ra ngoài, thấy chiếc lá vàng vẫn còn đó. Thế là cô an tâm và bảo: “Em vẫn còn có thể sống thêm ngày nữa”. 

Chiếc lá vàng được vẽ đã cứu mạng sống người con gái đang thoi thóp chờ chết. Không biết cô còn sống thêm được bao lâu, nhưng cô có ngờ đâu mạng sống của cô đã được đánh đổi bằng mạng sống của người họa sĩ, vì anh ta đã bị lạnh cóng giữa trời đêm băng giá, và đã âm thầm từ giã cõi đời. 

Kitô hữu không phải là người vẽ lên cho đời chiếc lá hy vọng sao? Vì chúng ta là hiện thân của Đấng là niềm hy vọng cho sự sống bất diệt của nhân loại. Do đó, người gieo hy vọng không thể mang tính cách nào khác ngoài tính cách của Đức Kitô: là con người dấn thân phục vụ và hy sinh chính mình vì tha nhân. 

Trong Đức Kitô và nhờ Đức Kitô, chúng ta hãy làm sáng lên niềm hy vọng cho thế giới hôm nay, một thế giới còn đang bị bao phủ bởi bóng đêm sự chết. 

Kìa! Đức Kitô đang đến, hãy ra đón Người. (x. Mt 25, 6)


Lm. Thái Nguyên
Nguồn: http://vietcatholic.net/News/Html/101483.htm

Thứ Sáu, 7 tháng 12, 2012

Sống “Ngày của Chúa” thời hiện đại

Tạ Ân Phúc12/6/2012

Chuyên Đề Giáo Dục: Sống “Ngày của Chúa” thời hiện đại


“Làm việc và nghỉ ngơi”: Hai phạm trù tưởng chừng đơn giản, bù trừ lẫn nhau nhằm giúp đời sống con người được cân bằng. Nhưng trong thực tế lại khác. Người ta bị cuốn hút vào công việc đến độ quên cả nghỉ ngơi, bồi dưỡng; nhất là, trong hoàn cảnh kinh tế khó khăn, chật vật. Cứ ngỡ rằng làm việc quần quật để kiếm đồng tiền bát gạo là có thể mưu cầu cuộc sống ấm no hạnh phúc. Trái lại, đã có biết bao gia đình đổ vỡ, ly tán vì chứng “nghiện công việc”. Đối với người Công giáo, ngày Chúa nhật là ngày thiêng liêng, ngày được thánh hóa để nghỉ ngơi và dành thời gian cho Thiên Chúa và tha nhân. Nhưng, có bao nhiêu người dám hy sinh công việc để sống đúng ý nghĩa “Ngày của Chúa”?

“Hãy trả lại cho Chúa Ngày của Chúa.” Đó là lời mời gọi khẩn thiết của Sr. Maria Nguyễn Thị Hồng Quế, OP khi chia sẻ đề tài “SỐNG ĐỨC TIN TRONG NHỮNG NGÀY LỄ NGHỈ” vào chiều thứ Bảy 24/11/2012 tại Trung tâm Mục vụ TGP. Sài Gòn do Chương trình Chuyên đề Giáo dục, thuộc Ban Mục vụ Gia đình TGP tổ chức.

Giáo huấn của Đức Thánh Cha về Đức Tin

Trong phần dẫn nhập, Sr. Maria đã trích dẫn các bài huấn dụ của Đức Thánh Cha Bênêđcitô XVI trong loạt bài giáo lý các buổi triều yết chung thứ Tư hằng tuần trong Năm Đức Tin để các tham dự viên hiểu rõ hơn về khái niệm đức tin trong cuộc sống hôm nay. Trong bài giáo lý đầu tiên về Năm Đức Tin, Đức Thánh Cha đã nhấn mạnh đến vấn đề phải làm sao hiện thực hóa đức tin trong đời sống: “Đức tin vào Chúa ... là một thứ thay đổi bao gồm toàn thể cuộc sống của chúng ta: các thứ tình cảm của chúng ta, tâm can của chúng ta, trí khôn của chúng ta, ý muốn của chúng ta, thân xác của chúng ta, các cảm xúc của chúng ta và những liên hệ về con người của chúng ta". Nghĩa là, nếu chúng ta thực sự sống đức tin thì đó là một đời sống tương quan với Chúa bằng chính hơi thở, bằng cuộc sống của mình, bằng cả tâm hồn và thể xác vì "Đức tin không phải là một cái gì đó xa lạ và tách biệt khỏi đời sống thực tế, trái lại, nó là chính hồn sống của đời sống".

“Gia đình - Công việc - Ngày lễ”

“Hãy trả lại cho Chúa Ngày của Chúa.” Đây không chỉ là thao thức của riêng Sr. Maria mà còn là thao thức chung của toàn thể Giáo hội, được thể hiện qua những ngày hội thảo tại Đại hội Gia đình Thế giới (Diễn ra từ ngày 29/05 đến 03/06/2012 tại Milan, Ý). Là một trong ba người đại diện cho Việt Nam tham dự suốt một tuần lễ của Đại hội, Sr. Maria muốn chia sẻ lại kinh nghiệm của một tham dự viên đã được truyền thụ những bài giáo lý gây xúc động và giúp ích rất nhiều cho đời sống đức tin của con người thời nay, những bài giáo lý vốn thấm nhuần chủ đề của Đại hội: “Gia đình - Công việc - Ngày lễ”.

Sau khi giới thiệu sơ lược về Đại hội Gia đình Thế giới, Sr. Maria đã trích lời của Đức Hồng y Ennio Antonelli, Chủ tịch Hội đồng Giáo Hoàng về Gia Đình, Trưởng Ban Tổ chức Đại hội để nêu bật chủ đề của Đại hội: “Gia đình, công ăn việc làm và nghỉ ngơi là ba giá trị cơ bản cho một cuộc sống tốt. Đó là một cuộc sống mọi người cần phải có và được tận hưởng. Kinh Thánh trình bày chúng như là ba phước lành, luôn luôn đáng đề cao”; “Khi nói đến sống một cuộc sống gia đình lành mạnh, cả ba yếu tố trên đều là cần thiết. Nhưng làm sao để cân bằng những yếu tố này luôn luôn là một vấn nạn với nhiều gia đình”. 

Một trong ba yếu tố mang tầm quan trọng được Giáo hội lưu tâm qua Đại hội Gia đình chính là Ngày lễ. Sr. Maria đã đi vào đề tài của mình bằng cách đặt ra câu hỏi: Trong ngày Chúa nhật, ai được nghỉ ngơi hoàn toàn từ 8 tiếng trở lên? Ai được nghỉ ngơi hoàn toàn từ 4 tiếng trở lên? Ai được nghỉ ngơi hoàn toàn từ 2 tiếng trở lên? Những câu hỏi có thể làm ai đó giật mình nhìn lại để thấy rằng mình đã chông chênh trong cách quản lý thời gian cho cuộc sống.

Ngày nay, người ta đánh mất chỗ đứng và giá trị của gia đình, họ cướp mất nhiều thứ của gia đình, đáng kể nhất là thời gian. Ngoài những vấn nạn gây nghiện trong xã hội như ma túy, rượu bia, thuốc lá, game oline, internet, phim Hàn quốc, tám chuyện... người ta còn bị một chứng nghiện khác, đó là “nghiện công việc”. Cuộc sống xã hội đã đẩy con người lao vào công việc: những người lao động ở các khu công nghiệp bị dồn ép tăng ca mới có đủ thu nhập trang trải cuộc sống, phải đi làm ngay cả ngày Chúa nhật, thậm chí không có giờ tham dự Thánh lễ. Những người buôn bán tại Việt Nam thì rất khó để nghỉ ngơi ngày lễ và Chúa nhật. Người ta bị cám dỗ kiếm thật nhiều tiền trong những ngày này. Trước vấn nạn trên, Đại hội Gia đình khuyến cáo: “Con người sống trong xã hội hưởng thụ hôm nay đã đánh mất ý nghĩa của ngày nghỉ lễ. Cần phải khôi phục ý nghĩa của ngày lễ, và đặc biệt của ngày Chúa nhật, là “Ngày của Chúa” thời gian dành cho con người và Thiên Chúa…” (GL ĐHGĐTG 7 b.8). 

Theo Sr. Maria, để “Ngày của Chúa” mang lại ý nghĩa đích thực, chúng ta cần phải hiểu và sống ngày lễ theo 3 chiều kích như là 3 cột trụ không thể thiếu trong đời sống mỗi người: thời gian dành cho Chúa, thời gian dành cho gia đình và thời gian dành cho cộng đoàn

Ngày Lễ - Thời gian dành cho Thiên Chúa

Chúa nhật chính là ngày thứ 7 của tạo dựng vì sau sáu ngày làm việc, ngày nghỉ lễ là sự hoàn tất công trình tạo dựng của Thiên Chúa. Sách Sáng Thế đã minh định điều đó: “Thế là trời đất cùng với mọi thành phần đã hoàn tất. Ngày thứ bảy, Thiên Chúa đã hoàn thành công việc Người làm. Khi làm xong mọi công việc của Người, ngày thứ bảy, Thiên Chúa nghỉ ngơi. Thiên Chúa ban phúc lành cho ngày thứ bảy và thánh hoá ngày đó, vì ngày đó Người đã nghỉ, ngưng làm mọi công việc sáng tạo của Người. Đó là gốc tích trời đất khi được sáng tạo” (St 2,1-4a).

Chúa nhật đối với người Kitô hữu là “Ngày của Chúa”, là ngày mừng kính Đấng Phục sinh hiện diện sống động trong cộng đoàn Kitô hữu, trong gia đình và trong đời sống cá nhân. Để thánh hóa ngày nghỉ lễ, dân Chúa cần phải dành một thời gian cho Thiên Chúa và cho con người: “Ngươi hãy nhớ ngày sabat, mà coi đó là ngày thánh. Trong sáu ngày, ngươi sẽ lao động và làm mọi công việc của ngươi. Còn ngày thứ bảy là ngày sabat kính Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi. Ngày đó, ngươi không được làm công việc nào, cả ngươi cũng như con trai con gái, tôi tớ nam nữ, gia súc và ngoại kiều ở trong thành của ngươi. Vì trong sáu ngày, Đức Chúa đã dựng nên trời đất, biển khơi, và muôn loài trong đó, nhưng Người đã nghỉ ngày thứ bảy. Bởi vậy, Đức Chúa đã chúc phúc cho ngày sabat và coi đó là ngày thánh (Xh 20,8-11). 

Ngày Chúa nhật còn để mừng ngày con người được giải phóng vì ngày sabat của Thập giới có một ý nghĩa xã hội và giải phóng: “Ngươi hãy nhớ ngươi đã làm nô lệ tại đất Ai Cập, và Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, đã dang cánh tay mạnh mẽ uy quyền đưa ngươi ra khỏi đó... Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi đã truyền cho ngươi cử hành ngày sabat” (Đnl 5, 15). “Giữ ngày sabat” là lệnh truyền của Chúa, để kỷ niệm con người được giải phóng, vì Chúa đã giải phóng cha ông chúng ta. Nhưng lâu nay, chúng ta quên mất điều đó. Hơn nữa, ý nghĩa sâu xa của việc giữ ngày sabat chính là thực hiện một cuộc “xuất hành”, vì tự do của con người, vượt qua từ “kiếp nô lệ” đến “phục vụ”. Ngày sabat giúp con người thoát khỏi tình trạng lao dịch / nô lệ để đưa vào tình trạng phục vụ trong tự do, hân hoan và chúc tụng. 

Vào thời Chúa Giêsu, người ta giữ ngày sabat đến độ nô lệ ngày sabat. Nhưng Chúa Giêsu đến để kiện toàn ngày sabat, làm cho ngày sabat có một ý nghĩa, vì ngày sabat được lập ra cho con người, để phục vụ con người. Chính vì thế, Đức Giêsu là “Chúa” của ngày sabat. Hầu như các phép lạ Chúa Giêsu làm đều tập trung vào ngày này: bứt bông lúa trong ngày sabat (Mc 2,23-28); chữa lành người bị bại tay (Mc 3,1-6), người phụ nữ còng lưng (Lc 13,10-17), người mắc bệnh phù thũng (Lc 14,1-6), người mù từ khi mới sinh (Ga 9,1-41)… 

Để thực sự sống ý nghĩa “Ngày của Chúa”, mỗi người cần phải tái khám phá ý nghĩa ngày Chúa nhật nhằm dành thời gian hoàn toàn cho “sự tưởng niệm” hằng tuần việc Chúa Giêsu sống lại, để tham dự Thánh lễ nhằm cử hành “sự hiện diện”của Chúa Phục Sinh trong tâm tình mong đợi “lời hứa” trở lại của Chúa trong vinh quang. 

Ngày Lễ - Thời gian dành cho gia đình 

Thực trạng xã hội hôm nay cho thấy người ta quá bận rộn đến nỗi các bậc cha mẹ không còn thời gian dành cho con cái. Một xã hội có vẻ như giàu có không thiếu gì cả nhưng lại thiếu thời gian. Đôi khi mải mê với công việc, người ta tiếc với con cái từng phút, để rồi sau đó xảy ra những chuyện đáng tiếc. Nhiều cha mẹ hôm nay sống trong khổ đau, trong gia đình tan nát vì sự vô tâm, hờ hững, ngang bướng của con cái, chỉ biết sống cho riêng mình, coi gia đình như quán trọ. Để minh họa cho bài nói chuyện thêm sinh động, Sr. Maria đã trình chiếu những đoạn video clip diễn tả nỗi nhớ cha trong khắc khoải của một đứa trẻ hay nỗi thất vọng của một đứa bé khác khi phải ăn cơm hộp do người mẹ quá bận rộn không thể lo bữa cơm cho gia đình.

Tương tự như thế, ngày nay tu sĩ cũng “nghiện công việc”. Các tu sĩ có máy vi tính riêng, có phòng riêng và chỉ biết ở trong phòng mình và lo làm việc, không có sự tương tác với người khác, những anh chị em xung quanh mình. Một vấn đề nữa, tại Việt Nam, tu sĩ cực hơn: ngày thường đã đi làm rồi, và thứ Bảy, Chúa nhật lại làm nhiều hơn. Có lẽ những người có trách nhiệm quản lý con người phải sắp xếp làm sao để anh chị em có thời gian nghỉ ngơi, hầu lấy sức phục vụ người khác.

Trước thực trạng đó, chúng ta cần phải khôi phục ý nghĩa ngày Chúa nhật, ngày nghỉ lễ như thời gian dành cho con người, đúng hơn là thời gian dành cho gia đình của mình, cộng đoàn của mình. Gia đình cần phải sống ý nghĩa của ngày nghỉ lễ, làm sao để sống mà không chỉ như chạy theo mưu sinh nhưng là cuộc gặp gỡ. Gặp gỡ Thiên Chúa và tha nhân chính là trọng tâm của ngày nghỉ lễ. 

Để làm được điều đó, cha mẹ và các thành viên trong gia đình cần có nhiều sáng kiến để tạo bầu khí trong ngày nghỉ cuối tuần, cần giảm những công việc nhà trong ngày nghỉ, chia sẻ bớt gánh nặng công việc cho người phụ nữ trong ngày nghỉ. Cần tập thói quen cho các thành viên trong gia đình biết quý trọng ngày Chúa nhật là “ngày thánh thiêng” dành cho Thiên Chúa và những người thân yêu trong gia đình. Vì thế, nhất quyết không làm việc, không buôn bán trong ngày này. Ngày Chúa nhật cũng là dịp để gia đình chia sẻ với nhau những hoạt động chung như cùng nhau xem phim, đọc sách đạo đức. 

Trong đời sống hôn nhân, đời sống gia đình cũng như cộng đoàn, chúng ta cần lưu tâm nhớ đến những ngày kỷ niệm để các thành viên nhớ đến nhau và có cơ hội tặng quà cho nhau, thể hiện sự quan tâm chăm sóc lẫn nhau: Ngày sinh nhật, ngày lễ bổn mạng, ngày Tết, ngày phụ nữ, ngày lễ của cha, mẹ… Đôi khi những chuyện nhỏ nhặt như viết thư cho nhau, tặng cho nhau những món quà nho nhỏ trong những dịp kỷ niệm lại có sức mạnh biến đổi rất lớn trong đời sống vợ chồng, gia đình.

Trong cuộc sống hằng ngày, bữa ăn gia đình tưởng chừng như là chuyện hiển nhiên xưa nay, nhưng thực tế thật không dễ chút nào khi chúng ta đang sống với tốc độ của thời đại, luôn phải ăn cơm hộp, cơm bụi, cơm bờ, phải bận rộn với những buổi tiệc chiêu đãi… chồng ăn một nơi, vợ một nơi, con một nơi, mạnh ai nấy lo cho bữa ăn của mình. Đó là một trong những nguyên nhân gây đổ vỡ đời sống gia đình, vì thế hãy giữ bếp lửa trong gia đình, hãy giữ giờ cơm trong gia đình. Mỗi ngày, chúng ta cố gắng có được ít nhất một bữa ăn chung đông đủ cả nhà quây quần bên nhau vì bữa ăn gia đình là điểm hội tụ, là chất keo gắn bó mọi thành viên trong gia đình với nhau, tạo nên khuôn mẫu cuộc sống và tính cách con người, số phận của gia đình. Bữa ăn cũng là nơi biểu hiện, gắn kết tình yêu qua việc thể hiện các hành vi, cử chỉ quan tâm tới nhau một cách rất đặc biệt: hy sinh thời gian cho nhau, biết chờ đợi khi một thành viên vắng mặt, cả nhà cùng trò chuyện, chia sẻ, thông tin cho nhau những sự kiện xảy ra trong ngày. Chính bữa ăn là nơi gặp gỡ, quy tụ mọi người đang tản mác mỗi nơi vì công việc của mình, và qua bữa ăn, cả nhà sống trong tâm tình cầu nguyện, tạ ơn.

Ngày Lễ - Thời gian dành cho cộng đoàn

Nếu chỉ dành thời gian cho gia đình hay cộng đoàn nhà tu của mình thôi vẫn chưa đủ. Giáo hội mời gọi chúng ta hãy mở rộng cánh cửa của mình đi ra với thế giới và hãy mở rộng cánh cửa để thế giới đi vào trong cung lòng gia đình của mình. Điều này thể hiện bản chất Giáo Hội của Đức Tin khi Công Đồng Chung Vaticanô II nhắc nhở chúng ta rằng: “Thiên Chúa không thánh hóa con người và cứu độ con người thuần túy theo cá nhân, không liên hệ hay dính dáng gì giữa họ với nhau. Trái lại, Ngài muốn mang con người lại với nhau thành một dân tộc duy nhất, một dân nhận biết Ngài trong chân lý và phụng sự Ngài trong thánh thiện” (Dogmatic Constitution, Lumen Gentium, 9) 

Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI, trong bài giáo lý số 3 về Bản chất Giáo hội của Đức tin vào ngày 31/10/2012, cũng đã hướng chúng ta về một chiều kích Giáo hội của Đức tin. Ngài đã tái khẳng định đức tin vừa là một tặng ân của Thiên Chúa vừa là một đáp ứng của con người, nhờ đó con người được biến đổi: “Đức tin là một tặng ân biến đổi đời sống của chúng ta, vì đức tin giúp chúng ta có thể trông nhìn bằng cặp mắt của Chúa Giêsu, Đấng hoạt động trong chúng ta và hướng chúng ta về tình yêu mến Thiên Chúa và những người khác.” 

Đức tin là một nhân đức đối thần do Thiên Chúa ban nhưng được Giáo hội truyền đạt qua giòng lịch sử. Chính trong cộng đồng Giáo hội mà đức tin của cá nhân mới tăng trưởng và chín mùi. 

Ngày Chúa nhật chúng ta cần phải tham dự Thánh lễ và các sinh hoạt của giáo xứ vì “Ngày của Chúa” là ngày của sự hiệp thông, ngày sống cho nhau, ngày của hiệp thông và sứ vụ. Thánh Thể liên kết chúng ta lại với nhau trong cùng một tấm bánh. Hội Thánh địa phương và giáo xứ là sự hiện diện cụ thể của Tin Mừng giữa lòng đời sống nhân loại. Trong giáo xứ, các gia đình là “Hội Thánh tại gia”, vừa làm thành cộng đoàn giáo xứ vừa là một Hội Thánh giữa các gia đình nhân loại. Cộng đoàn giáo xứ phải lưu tâm đến các gia đình, giúp gia đình thoát khỏi cám dỗ khép kín trong “căn hộ” của mình và mở ra với cuộc lữ hành đức tin.

Chúa nhật còn là ngày của đức ái vì việc bác ái là một đặc điểm của ngày Chúa nhật Kitô giáo. Việc bác ái được đề nghị như một bổn phận thiết yếu của các gia đình và cộng đoàn. Các gia đình được mời gọi một năm nên có một đến hai lần cả nhà cùng đến thăm và chia sẻ với một mái ấm của trẻ cô nhi, các cụ già neo đơn... để con trẻ có thể tận mắt chứng kiến đời sống cơ cực ở trại mồ côi, những người già neo đơn như thế nào, để chúng có thể được biến đổi và sống trong tâm tình tạ ơn vì chúng có cha, có mẹ và có một cuộc sống đầy đủ.

Chúa nhật cũng là ngày của bài sai sứ vụ khi Chúa mời gọi chúng ta hãy ra đi khỏi căn nhà của mình như Mẹ Maria ra đi lên đường đi viếng bà Êlisabeth. Gia đình được mời gọi để loan báo Tin Mừng theo cách riêng của mình và không ai thay thế được: trong nội bộ gia đình, trong môi trường của mình (hàng xóm, bạn bè, họ hàng), trong cộng đoàn Hội Thánh, trong xã hội. Cha mẹ có nhiệm vụ đào tạo cho con cái biết sống yêu thương, làm việc tông đồ, bác ái, cống hiến cho xã hội vì chúng ta không thể nào mến Chúa mà không yêu thương anh em. “Khi sống đức ái mến Chúa yêu người thì chính từng cá nhân và gia đình được kín múc hoa trái của Chúa Thánh Linh” (FC 64). 

Thay cho lời kết, Sr. Maria đã đưa ra lời cầu nguyện để mọi người ý thức được trách nhiệm của mình nhằm sống “Ngày của Chúa” cách trọn vẹn:

Lạy Chúa, xin cho mỗi người chúng con luôn biết giúp cho cả gia đình/cộng đoàn sống đúng giới răn Chúa dạy, giữ ngày Chúa nhật, ngày của Chúa. Biết dành thời gian cho Thiên Chúa qua việc tham dự Thánh lễ, giữ giờ kinh nguyện trong gia đình. Biết dành thời gian cho gia đình/cộng đoàn bằng sự quan tâm, chăm sóc từng thành viên trong gia đình. Biết góp phần xây dựng gia đình Hội Thánh qua việc tham gia các sinh hoạt trong giáo xứ, giáo phận. Biết yêu thương giúp đỡ người nghèo khổ trong khu xóm, xứ đạo của mình để Tin Mừng của Chúa được lan toả trong lòng xã hội hôm nay. Amen.

Tạ Ân Phúc

Nguồn: http://vietcatholic.net/News/Html/101436.htm

Thứ Năm, 6 tháng 12, 2012

Mối lo thật sự từ phong trào luyện chữ đẹp

6/12/2012 06:04
    Luyện chữ đẹp khi đó không chỉ là phong trào - tự phát hoặc có chỉ đạo - mà đã do một triết lý - có gốc rễ rất sâu ở giới quản lý chi phối. Đây mới là mối lo thật sự" - độc giả Lãnh Nguyên nêu ý kiến khi tham gia diễn đàn "viết chữ đẹp: thế nào là đủ"?
Ảnh minh họa

Câu hỏi thời sự
Đi học, biết chữ, là để đọc lên, viết ra. Nhưng viết bằng bút hay bằng máy tính? Câu hỏi này chưa cần trả lời ngay.
Còn câu hỏi thời sự là: Bọn trẻ hiện đang tập viết (kể cả đang “luyện chữ” để tạo “nết người”); vậy 15 hay 20 năm nữa các cháu sẽ ứng dụng ra sao cho bõ cái công khổ luyện hôm nay?
Dù thờ ơ hay day dứt với câu hỏi, chúng ta vẫn phải xuất phát từ thực tế đất nước. Nước Việt Nam ta vẫn là nước nghèo, chưa thể so sánh với Mỹ, Anh hay Đức…, không thể quá sốt ruột khi thấy những nước này bắt đầu lộ trình thay hẳn chữ viết tay kiểu uốn lượn, mềm mại, bằng thứ chữ “giống chữ in” - để có thể viết nhanh và dễ đọc (thì giờ tập viết dôi ra sẽ dành cho kỹ năng sử dụng bàn phím). Nói khác, vẫn phải tạm để bọn trẻ nước ta tập viết như hiện nay. Vấn đề là chúng cần tập viết tới mức nào và còn kéo dài bao lâu nữa? 
Dẫu sao, các bậc cha mẹ - nếu định lo xa cho con cái - bắt buộc phải tìm câu trả lời cho câu hỏi trên. Và phải có những chữ “nếu” để cân nhắc các trường hợp, vì ai mà dám chắc con cái mình sẽ làm nghề gì sau này?. Nhưng dù “nếu” gì đi nữa, thì 15 hay 20 năm tới máy tính cũng phổ biến, dễ mua và rẻ gấp 5 hay 10 lần bây giờ - nhất là khi so với ngân quỹ gia đình thời đó. Vấn đề là khi đó, con cái chúng ta (ngoài năng lực viết tay), liệu đã quen dùng cả 10 ngón tay để bắt cái bàn phím phải dốc hết năng lực hầu hạ mình hay chưa?. Xin nhớ, bọn trẻ có khả năng mau thuộc (nhanh hơn người lớn) cách dùng cả 10 ngón tay để gõ chữ. Lợi thế của tuổi trẻ là vậy. Chưa cần nói, nếu sử dụng thành thạo bàn phím, con cái chúng ta còn đủ sức tận dụng năng lực vô hạn của chiếc máy tính tương lai - tuy rất gọn nhẹ, rẻ tiền, nhưng có sức mạnh gấp bội so với những máy tốt nhất hôm nay.
Câu trả lời liệu đã dứt khoát?
Chưa thể biết nghề nghiệp tương lai của một học sinh tiểu học, ta vẫn có thể dùng “nếu” để quyết định con cái mình sẽ đầu tư công sức tập viết “chữ đẹp” tới mức nào…
- Nếu sau này đứa con may mắn trở thành người phải viết những bản thảo hàng trăm hoặc ngàn trang để xuất bản, thì viết tay không thể đắc dụng. Mà càng nắn nót để viết cho đẹp sẽ càng tốn thì giờ, vô bổ. Chẳng qua, đó chỉ là lao động chân tay. Nó lạm vào thì giờ tư duy sáng tạo.
- Nếu cha mẹ hy vọng đứa trẻ sẽ trở thành nhà thư pháp, sống bằng nghề (không phải nghiệp dư, hay thú vui)? Trường hợp này, càng cần sớm đánh giá nghiêm chính năng khiếu đứa con mình. Mà chỉ năng khiếu cũng vẫn không đủ, còn phải biết chắc rằng con mình có một năng lực thiên phú, thiên bẩm (trời cho) mới dám quyết định. Chữ thư pháp không chỉ đẹp, còn phải mỹ thuật, bay bổng, toát lên vẻ đẹp cao thượng… Bán chữ kiếm sống thời nay không dễ…  
- Nếu khả năng viết chỉ được dùng để ghi ra mảnh giấy những việc cần làm trong ngày (lắm việc tới mức không nhớ nổi), hoặc danh sách thức ăn cần mua cho bữa tiệc sinh nhật, cho mâm cỗ ngày giỗ… (loại này, mỗi năm sài vài lần là nhiều)… Đôi khi đó chỉ là mảnh giấy cài lên cánh cửa để dặn dò đứa con vài điều phải làm… Loại chữ cho việc này cần luyện tới mức nào?
- Để viết đơn xin việc? Liệu khi đó nhà tuyển dụng có còn dựa vào chữ viết để suy ra “nết người” - như ta nghĩ hôm nay? Nếu chỉ nhờ “chữ tốt” mà trở nên thành thạo trong việc “viết đơn xin việc” thì thật… bất hạnh. Năng lực ra sao mà con người này cứ phải viết hết đơn này tới đơn khác - tới mức thành thạo?
- Xin các bậc cha mẹ cứ “nếu” tiếp, để có quyết định phù hợp cho đứa con mình.Và, cái tiêu chuẩn “đủ nét, đủ dấu và viết nhanh” (như có người đề xuất) có phù hợp cho số học sinh đông đúc tới nhiều triệu?.  
Cân bằng suy xét, không nghiêng sang một cực
Không chấp nhận luyện chữ có nghĩa là… mặc kệ cho con em chúng ta viết chữ xấu (!). Sao có thể suy nghĩ thiếu cân bằng như vậy?. Thế giới muôn màu, sao cứ tự ý đề ra quy tắc cực đoan: “nếu không trắng, tức là đen” (?!).
Mục tiêu “cứng” của môn Tập Viết là thanh toán chữ xấu cho cả lớp, cả trường. Thầy cô có nghĩa vụ như vậy, không châm chước. Còn “viết đẹp” là mục tiêu “mềm”, không thể dành cho cả lớp, cả trường. Và không thuộc trách nhiệm của thầy cô.  
Nói cho công bằng, việc đầu tư thêm công sức và thời gian để “luyện chữ” (ngoài thời gian quy định “tập viết” trong chính khóa) là quyền riêng tư, không ai có thể cấm đoán. Những người có năng khiếu cứ việc lập câu lạc bộ, cứ luyện, cứ thi. Và có giải. Bên cạnh nó là những câu lạc bộ Toán, Văn, Sử, Địa… Rất đáng khuyến khích.Nhưng cũng không ai được phép cưỡng ép các cháu luyện chữ, buộc các cháu phải tham gia câu lạc bộ, này hay khác.
Có một số thầy cô thừa sức luyện chữ đẹp cho học sinh lớp mình; nhưng cũng có nhiều thầy cô không đủ sức làm việc đó. Đây là việc tùy tâm, không ai dám bắt buộc các thầy cô. Nhưng tất thảy mọi thầy cô đều phải có bốn phận (trách nhiệm) dạy cho 100% học sinh lớp mình tập viết chữ không xấu - tức là đủ nét, đủ dấu, dù viết nhanh. Xin hãy cân nhắc giữa gây dựng “phong trào chữ đẹp” với “phong trào thanh toán chữ xấu”. Giá mà… làm được cả hai thì còn gì bằng. Vấn đề là nếu chỉ làm được một, thì sao? Chọn cái nào?   
Cái gì làm chúng ta thật sự lo lắng
Đã có nhiều trường hợp (báo chí nêu) thầy cô động viên (bắt buộc?) cả lớp dự thi “chữ đẹp”, tới mức tháo vở, xé trang (để thay những tờ viết chưa đẹp hoặc lỡ dây bẩn)… và cháu chữ đẹp phải “tương trợ” (viết thay) cháu viết chưa đẹp… Tuy đây là hiện tượng đáng lo - triệu chứng lồ lộ của “bệnh thành tích”; nhưng còn đáng lo hơn nữa, nếu người quản lý dùng quyền lực đặt ra những kỳ thi “chữ đẹp”, từ cấp trường, cấp quận-huyện, tới tỉnh và tận trung ương - nghĩa là đã hợp pháp hóa và pháp lệnh hóa nó. Đã có cháu được giải toàn quốc về chữ đẹp (!). Luyện chữ đẹp khi đó không chỉ là phong trào - tự phát hoặc có chỉ đạo - mà đã do một triết lý - có gốc rễ rất sâu ở giới quản lý chi phối. Đây mới là mối lo thật sự. 
Ta thương các cụ hay các cụ thương ta?
     - Cách đây 50 năm, ai có cái “bút máy” là oai lắm, vì không cần chấm vào lọ mực mà vẫn viết liên tục suốt buổi học. Chỉ riêng việc gọi cái bút (khá thô sơ) này là “máy” đã đủ nói lên nhiều điều. Thật đáng ái ngại cho trình độ dân trí của các cụ thời đó. Vậy thì hôm nay, chẳng cần đợi 50 năm, mà chỉ cần 10 năm nữa thôi, ta sẽ thấy những máy tính “hiện đại” của năm 2012 sẽ không còn hiện đại nữa. Ấy thế mà chúng ta vẫn say sưa khuyến khích con cái luyện chữ - giống như cái thời chữ Hán còn độc tôn. Mà không phải chỉ luyện cho cháu nào có năng khiếu, mà còn muốn… luyện tất (!). Liệu thế hệ sau nhìn lại ta, họ có thương ta?
     - Cách đây cả trăm năm (thời Đông Kinh Nghĩa Thục, 1906) các bậc tiền bối đã đưa ra phương châm Thực Học - Thực Nghiệp (học “thật”, học những gì “thiết thực” - để có một nghề “đúng nghĩa”). Vậy, luyện chữ gian khổ đến vậy, có thiết thực?
Chúng ta đánh giá người xưa là thiển cận hay viễn kiến? Các cụ có bảo thủ hơn chúng ta hôm nay? Chúng ta thương cảm người xưa, hay ngược lại: các cụ trách chúng ta?
  • Lãnh Nguyên



 Nguồn: http://vietnamnet.vn/vn/giao-duc/99769/moi-lo-that-su-tu-phong-trao-luyen-chu-dep.html

Thứ Ba, 4 tháng 12, 2012

Tiền bạc không phải là mục đích cuối cùng

Pt Huỳnh Mai Trác phỏng dịch11/26/2012


Rome (Zenit.org) Tiền bạc “không phải chỉ dùng để sinh lợi” và “cũng không phải tự nó là cứu cánh” Đức Cha Buchel, Phó Chủ tịch Hội Đồng Giám mục Thụy sĩ trong một thông điệp gởi đi trong dịp lễ quốc khánh của xứ này. Hội đồng Giám mục gởi thông điệp này trong khi đang có khủng hoảng về tài chánh và xác định “ tiền bạc để cho con người xử dụng chứ không phải để làm chủ con người.

Tôi có thể rút từ ngân hàng số tiền mà tôi đã dành dụm được. Và tôi có thể đem số tiền dó dể xử dụng khi tôi cần đến nó. Tôi có thể dùng để thanh toán các hóa đơn, trả tiền tàu v.v. Tiền bạc có thể dùng để mua sắm đồ dùng cần thiết. Nhưng tiền bạc cũng cần thiết cho việc học hành, cho văn hoá và cho những tiện nghi. Tiền bạc rất cần thiết cho gia dụng hằng ngày trong cuộc sống.

Trái lại, những tin tức của những tháng sau cùng và những năm sau cùng này làm cho tôi rất lo lắng. Có thể nào hệ thống tài chánh của chúng ta không còn hoạt động nữa? Tôi nghe những khủng hoảng tài chánh, những khủng hoảng về những kế hoạch, những khủng hoảng kinh tế thế giới. Những nhà chuyên môn quốc tế cũng vậy và họ tiên đoán rằng hệ thống tài chánh thế giới sẽ có thể sụp đổ.

Chúng ta phải đối diện với tình trạng tài chánh thế giới mà không có một cá nhân nào, một ngân hàng nào và một chính phủ nào mà có thể kiểm soát nổi. Trái lại: dường như có những nhóm tài chánh quốc tế đang kiểm soát chặt chẻ chúng ta.

Điều gì sẽ xẩy ra? Và khủng hoảng có xẩy ra trong vùng của chúng ta không? Những cơ quan xã hội và quỷ tiền tệ hưu bổng sẽ có ở trong tình trạng nguy hiểm không? Lòng tin cậy của chúng ta về hệ thống tài chánh và kinh tế sẽ bị tổn thương. Và những nổi lo âu đó được nhiều người chia sẻ. Tại Âu châu cũng như tại nhiều quốc gia. Lòng tin cậy vào chính trị, ngân hàng và những cơ quan tài chánh đang xuống dốc.

Lòng tin cậy rất cần thiết trong địa hạt tài chánh. Hệ thống tài chánh và kinh tế không thể tiến bộ nếu không được tin cậy. Lòng tin cậy là căn bản mọi giao tiếp giữa con người.

Là người của Giáo Hội, tôi biết rỏ điều đó: lòng tin cậy sẽ mất đi và muốn tạo dựng lại rất là khó khăn. Lòng tin cậy phải được xây dựng với một nền tảng thật vững chắc. Nếu tôi đưa tiền bạc cho một ai, thì tôi hy vọng họ dùng đúng đắn và trách nhiệm. Mối liên hệ với tiền bạc được xem như đúng đắn và trách nhiệm theo quan điểm của người tin Chúa?

Tiền bạc giúp đỡ các giao dịch kinh tế. Một món hàng không thể chế tạo ra hoặc trao đổi mà không có tiền bạc. Theo lối nhìn của người Kitô hữu, điều cần biết về sinh hoạt buôn bán khi đầu tư . Xí nghiệp này có điều kiện lời lãi không? Nó có chú trọng đến những tài nguyên thiên nhiên không? Nó có tôn trọng luật pháp không? Có tôn trọng nhân phẩm của công nhân không? Đó là những vấn nạn mà đòi hỏi chúng ta phải thông suốt. Và như thế người đầu tư tiền bạc vào một xí nghiệp cũng có một phần trách nhiệm.

Tiên bạc không phải được tạo nên để tự nó sinh lợi. Tiền bạc không phải tự nó là cứu cánh. Nếu trong thế giới tài chánh trở nên độc lập, thì tài chánh trở nên vô nghĩa. Ai đầu tư và sinh lời. cũng có thể làm cho những người khác hành động vô trách nhiệm đau khổ. Tôi cũng đã gặp gở những nhà chuyên môn về tài chánh. Họ đều nói là họ công nhận cảm tưởng của tôi là kẻ không chuyên môn về kinh tế. Những thị trường tài chánh quốc tế luôn thay đổi với hệ thống nội bộ, nhiều khi không dính dáng gì đến những nhu cầu kinh tế và thật sự có thể kiểm soát được.

Chúng ta cần khẩn cấp tìm ra những phương pháp và đường lối để điều chỉnh sự mất quân bình nguy hiểm này. Về kinh nghiệm của những năm cuối này thật là vô trách nhiệm để xẩy ra những sự việc như ngày hôm nay. Bởi vậy tôi cầu chúc cho các chính trị gia và những người có trách nhiệm trong thế giới tài chánh, lựa chọn những biện pháp thay đổi cần thiết.

Không nên đầu tư vào những cuộc buôn bán có quá nhiều bất trắc rủi ro. Nhiều xí nghiệp tài chánh quốc tế dù đã thành lập lâu năm đã gom góp lại những tài sản đầy rủi ro để bán lại. Nhưng một ngày nào đó sẽ có người phải trả giá quá đắt. Chúng ta nhớ lại những đầu tư bất động sản ở Hoa Kỳ đã làm cho một số ngân hàng vở nợ và kéo luôn các ngân hàng thế giới. Đìều đó được giải thích như thế này, những rủi ro đó được một nhóm tư bản che giấu, lừa dối và cho đến ngày bị bùng nổ.

Tìm mọi cách để có thật nhiều tiền là một điều rất dể hiểu. Vì tiền bạc đem lại nhiều tiện nghi, tuy vậy cũng rất giới hạn. Giới hạn đó là không nên sống xa xỉ quá trên số tiền mà mình có thể có. Đó là sống triền miên trên nợ nần. Điều này không chỉ nói về cá nhân mà thôi mà còn áp dụng cho quốc gia nữa.Tiền lời cần phải trả nên có nhiều ngân hàng không cho khách hàng vay. Sống làm sao cho vừa đủ là một nghệ thuật. Người tìm được bí quyết này sẽ tìm ra được nhiều nguồn lợi khác nữa.

Có nhiều người không bao giờ suy nghĩ về vấn đề tiền bạc vì họ không có nhiều tiền mà chỉ nghỉ làm sao cho đủ sống. Như vậy người Kitô hữu phải làm thế nào cho việc phân phối tiền bạc cho công bình. Điều đó có thể là có một cử chỉ về chính trị hoặc một dấn thân vào công việc bác ái trong vùng, tích cực đóng góp vào các chương trình cứu trợ và phát triển. Chúng ta không chỉ dành giúp cho những kẻ đang túng thiếu mà còn có viển ảnh nhìn về tương lai, về vấn đề thất nghiệp nhất là những người đang ở ngoài lề xã hội. Trong lúc đó thì những nhà triệu phú càng ngày càng giàu xụ trong những năm kinh tế khủng hoảng này.

Thánh Basile, là Giám mục của vùng kinh tế Cesarê vào thế kỷ thứ IV, đã diễn tả những sự giàu có với những tư tưởng Á đông của thời đại bấy giờ: “Bánh mì dư thừa chất trong nhà bạn thật là vô ích, đó chính là bánh của những người đang đói; chiếc áo để dành trong tủ áo của bạn, chinh là áo của những kẻ đang trần truồng; tiền bạc bạn chôn dấu, chính là tiền của kẻ nghèo; đó là bạn đang chứng kiến những điều mà tình thương xót của bạn không hề rung động, đó là những bất công mà bạn đang vấp phạm”.

Những nhận định của Đức Giám mục Basile luôn hợp thời. Và điều này vẫn mãi có gía trị với chúng ta ngày hôm nay: tiền bạc để cho con người xử dụng, chứ con người không phải là nô lệ cho đồng tiền. Ngày 1 tháng 8 là ngày lý tưởng để mang lại ý niệm rỏ ràng cho chúng ta về tiền bạc, và mang lại cho chúng ta môt căn bản vững chắc một hình thức mới về lòng tin cậy.

Trong xứ sở của chúng ta, lòng tin cậy của chúng ta không chỉ đựa trên công nhân. Chúng ta còn phải nhìn về tương lai với một lòng tin cậy hoàn toàn vào Thiên Chúa. Chính trong ý nghĩa đó tôi cầu chúc cho tất cả mọi người với lòng tin tưởng vững chắc, một ngày lễ mồng 1 tháng 8 thật vui vẽ .

Fribourg / St-Gall, juillet 2012


Pt Huỳnh Mai Trác phỏng dịch
Nguồn: http://vietcatholic.net/News/Html/101272.htm