Thứ Hai, 4 tháng 6, 2012

Thông cảm chứ đừng cổ súy hôn nhân đồng tính


2/6/2012 06:12

Thông cảm chứ đừng cổ súy hôn nhân đồng tính

"Thoáng, cởi mở không có nghĩa là chúng ta chấp nhận tất cả. Sống phải theo quy phạm đạo đức chứ. Ở Việt Nam có luật của người Việt, cho tự do nhưng phải có giới hạn. Ngay cả ở Mỹ cũng chỉ có một số bang công nhận còn đa phần là không", độc giả Đức Thiện bày tỏ.

Sau khi bài viết Tôi không ủng hộ hôn nhân đồng tính của độc giả Kiều Hương được đăng tải, VietNamNet đã nhận được rất nhiều ý kiến phản hồi trái chiều của độc giả. Bên cạnh những ý kiến phản đối quan điểm của Kiều Hương, bệnh vực cho người đồng tính thì một bộ phận độc giả lại đồng tình, không chấp nhận hôn nhân đồng tính.

Độc giả Minh Đạt chia sẻ: "Dù nói thế nào đi nữa thì hôn nhân đồng giới là điều không thể chấp nhận được. Dù không muốn nói là khắt khe nhưng về mặt sinh học, văn hóa, truyền thống,... thì hôn nhân đồng giới đang đi ngược lại với các giá trị ấy. Thông cảm với người đồng tính nhưng vẫn phải đồng ý với quan điểm của tác giả Hôn nhân là kết tinh của tình yêu và sứ mệnh duy trì giống loài".

Không chỉ đồng tình với Kiều Hương, độc giả Nguyễn Tuấn còn lên tiếng phản bác những ý kiến cho rằng Việt Nam cũng nên chấp nhận hôn nhân đồng tính như nước ngoài: "Đừng lấy nước ngoài ra làm ví dụ, những nước trên thế giới chấp nhận hôn nhân đồng tính đếm trên đầu ngón tay. Nên phân biệt việc chấp nhận và khuyến khích khác rất xa, thông cảm chứ đừng cổ súy".
Đám cưới cùng giới mới đây tại Kiên Giang bị chính quyền lập biên bản.

"Thoáng, cởi mở không có nghĩa là chúng ta chấp nhận tất cả. Sống phải theo quy phạm đạo đức chứ. Ở Việt Nam có luật của người Việt, cho tự do nhưng phải có giới hạn. Còn các nước công nhận hôn nhân đồng tính thì có nền văn hóa khác biệt với Việt Nam, tỷ lệ 10/200 nước là quá nhỏ. Ngay cả ở Mỹ cũng chỉ có một số bang công nhận còn đa phần là không", độc giả Đức Thiện tiếp lời.

Cho rằng hôn nhân đồng giới sẽ ảnh hưởng đến sự bền vững của xã hội, độc giả Nguyễn Văn Hưng lo ngại: "Nếu tất cả những nước trên thế giới này công nhận hôn nhân đồng giới thì hỏi thử nhân loại sẽ đi đến đâu trong quá trình phát triển? Một gia đình không có kết tinh của tình yêu là con cái thì đó là gia đình kiểu gì? Hai người đồng giới kết hôn họ sẽ sống với nhau vì điều gì? Mọi người phải xem xét kỹ lưỡng trước những sự thay đổi trái với quy luật tự nhiên này".

Hôn nhân đồng giới không bền

Phản đối chuyện kết hôn đồng giới, nhiều độc giả đưa ra lý lẽ rằng rất ít cặp đồng giới sống với nhau hạnh phúc đến đầu bạc răng long.

Độc giả Minh Khang bày tỏ: "Tôi dám cược cặp này sống với nhau không quá 2 năm, sau đó vì lý do này nọ thì tự động tiêu tan. Cái đích cuối cùng của hôn nhân đồng tính là tình dục dị biệt. Trên thế giới này nhiều cặp đồng tính nhưng hiếm có cặp nào trọn đời bên nhau, nó ngược với hôn nhân bình thường. Các bạn đồng tính thì đó là quyền của các bạn, đừng có lôi kéo người bình thường vào cuộc chơi đồng tính".

Độc giả Anh Khoa thì chia sẻ câu chuyện: "Tôi có biết một nhóm les khoảng 7 người, trong đó có bạn tôi. Không phải bản chất của cô ấy là les, chỉ vì bố mẹ ly dị mà ăn chơi theo đám bạn này, cặp hết les này đến les khác trong một thời gian dài. Bẵng đi một thời gian thì cô ấy lại lấy chồng và theo tôi biết thì có 2 cô nữa trong nhóm này cũng lập gia đình. Điều đó chứng tỏ không phải bản chất họ như vậy mà bị lôi kéo nên không thoát ra được".

"Thích nhau thì cứ yêu nhau đi, có ai cấm đâu, làm đám cưới làm gì cơ chứ, mà có cưới thì lôi nhau đi chỗ khác, ngang nhiên như vậy khác nào thách thức người không bệnh. Lạ là có những kẻ bênh vực, lại còn đòi bình đẳng này nọ. Thà cổ hủ mà duy trì giống nòi hơn là hiện đại mà tha hóa", độc giả Nguyễn Hưng bày tỏ.


K. Minh (tổng hợp
Nguồn: http://vietnamnet.vn/vn/doi-song/74645/thong-cam-chu-dung-co-suy-hon-nhan-dong-tinh.html



*
**


30/5/2012 06:00

Xử phạt đám cưới đồng tính: Biểu hiện của sự kỳ thị


- “Yêu và được yêu không phải là đặc quyền của bất cứ giới nào. Quyền được mưu cầu hạnh phúc là quyền cơ bản của tất cả mọi người. Việc 2 bạn tổ chức tiệc cưới không phải là vi phạm Luật Hôn nhân gia đình, vì theo pháp luật, 2 bạn chưa từng đăng ký kết hôn”, anh Thảo nói.


Xung quanh chuyện gia đình và cặp đồng tính tổ chức đám cưới ở Hà Tiên bị chính quyền gọi lên để “giáo dục và xử phạt hành chính” có rất nhiều thông tin trái chiều.
Anh Huỳnh Minh Thảo, Giám đốc truyền thông trung tâm ICS (tổ chức của những người đồng tính, lưỡng tính và chuyển giới (LGBT) tại Việt Nam có sứ mệnh liên kết và xây dựng cộng đồng LGBT sống tích cực, vận động và bảo vệ quyền của cộng đồng LGBT) cho biết cách hành xử của chính quyền và người dân địa phương là biểu hiện cụ thể nhất của việc kỳ thị người đồng tính.
Anh Huỳnh Minh Thảo, Giám đốc truyền thông trung tâm ICS.
Anh Thảo bày tỏ: “Tôi ủng hộ việc hai bạn ở Hà Tiên đã vượt qua sự định kiến và kỳ thị của xã hội để sống thực với chính mình và quyết định hạnh phúc cho chính mình. Yêu và được yêu là không phải là đặc quyền của bất cứ giới nào. Quyền được mưu cầu hạnh phúc là quyền cơ bản của tất cả mọi người. Việc 2 bạn tổ chức tiệc cưới không phải là vi phạm Luật Hôn nhân gia đình, vì theo pháp luật, 2 bạn chưa từng đăng ký kết hôn”.
Cho rằng việc kỳ thị người đồng tính là do thiếu kiến thức về giới, tình dục học, anh Thảo mong muốn truyền thông sẽ góp phần đưa vấn đề này đến gần với mọi người hơn: “Việc chưa truyền thông rộng rãi các thông tin về người đồng tính đã góp phần làm cho xã hội thiếu hụt kiến thức về mảng đề tài này, khiến nó trở nên xa lạ, "bất bình thường" trong mắt người dân và từ đó dẫn đến sự kỳ thị, bạo hành. Thiết nghĩ đã đến lúc cần phải nói nhiều hơn thông tin về người đồng tính trong cuộc sống. Vì ở đâu đấy xung quanh chúng ta, người đồng tính, song tính, chuyển giới vẫn hiện diện”.
Anh Thảo cho biết, tại Việt Nam, chưa có luật dành riêng cho người đồng tính. Tuy nhiên, nếu xét theo quyền công dân thì các nạn nhân đều đã bị vi phạm quyền công dân nghiêm trọng. “Như vụ việc lễ cưới thì họ bị xúc phạm về tinh thần, nhân cách, bị trục xuất khỏi nơi ở, bị giáo dục - mà tôi cũng chẳng hiểu là giáo dục gì”, anh Thảo nói.
“Xã hội Việt Nam rất hiếu kỳ, khi thấy 1 việc gì đó lạ hơn bình thường, họ liền xì xào bàn tán, thậm chí tẩy chay. Như việc 2 bạn trẻ Hà Tiên, theo nhiều nguồn tin là họ bị trục xuất khỏi quê hương mình, đây không còn là vi phạm về quyền công dân mà thể hiện sự thiếu tính nhân văn của người quản lý.
Người dân mình cần hiểu nhiều hơn và biết tôn trọng sự khác biệt, từ đó sẽ có cái nhìn rộng mở hơn với nhiều trường hợp khác nhau của cuộc sống. Mặt khác, pháp luật Việt Nam cũng cần nhanh chóng có luật về hôn nhân đồng tính để tránh tối thiểu những đáng tiếc có thể xảy ra về sau”, anh Thảo nói thêm.
Anh mong muốn sớm có luật dành riêng cho người đồng tính. Ở đó, người đồng tính vẫn sẽ có những quyền hạn và nghĩa vụ giống với tất cả những người khác trong xã hội, và tất nhiên, họ vẫn sẽ được kết hôn, xin con nuôi, không bị kỳ thị, định kiến, bạo hành như bất cứ người dân nào trên đất nước Việt Nam mình.
“Hiện nay đã có 10 nước trên thế giới chính thức công nhận hôn nhân đồng tính cũng như có luật bảo vệ người đồng tính. Thật ra, người đồng tính cũng không đòi hỏi đặc quyền gì quá lớn lao, tất cả chỉ để đáp ứng mưu cầu được hạnh phúc, sống tích cực và đóng góp cho xã hội”, anh Thảo chia sẻ.
Luật sư Trần Việt Hùng, Trưởng Văn phòng Luật sư Trí Việt: Công nhận đám cưới đồng tính không có lợi cho sự phát triển bình thường của xã hội


Thưa Luật sư, xin ông cho biết việc tổ chức đám cưới cho người đồng giới có vi phạm pháp luật hay không và nếu có thì mức độ vi phạm như thế nào?


- Theo quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình thì Nhà nước cấm kết hôn đồng giới. Những người cùng giới tính không được kết hôn với nhau và không được pháp luật công nhận là vợ chồng. Theo quy định tại Điều 8 Nghị định 87/2001/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình thì hành vi kết hôn đồng giới có thể bị phạt từ 100 đến 500 nghìn đồng và buộc phải chấm dứt quan hệ “hôn nhân” trái pháp luật này.


Như vậy, việc kết hôn của những người cùng giới tính là trái pháp luật, thuộc trường hợp bị xử lý hành chính. Người bị xử lý hành chính là “đương sự” trong cuộc hôn nhân không hợp pháp đó.

Hiện nay có quan điểm cho rằng, pháp luật cần phải tôn trọng sự khác biệt của người đồng tính và cho họ được quyền chung sống hợp pháp với “người yêu” bằng việc công nhận hôn nhân đồng tính, quan điểm của ông về vấn đề này như thế nào?



- Tình yêu đồng tính là một vấn đề xã hội nhưng hôn nhân đồng tính là vấn đề pháp lý. Từ chỗ là một hiện tượng xã hội đến sự công nhận của pháp luật đối với hiện tượng xã hội đó thì cần phải xem xét đến các hệ quả của việc công nhận đó đối với sự phát triển bình thường của xã hội.


Tôi không đồng tình với việc công nhận hôn nhân đồng giới và tôi cũng tin rằng, hầu hết chúng ta không đồng ý với đòi hỏi này. Vì, trên phương diện tình yêu hay tình dục thì đồng tính cũng là hiện tượng không lành mạnh. Với sự tôn trọng tự do cá nhân thì “đồng tính” không bị Nhà nước lên án bằng các chế tài pháp lý. Song, để công nhận nó đồng nghĩa với việc khuyến khích sự lệch chuẩn phát triển và điều đó sẽ không có lợi cho việc phát triển bình thường của xã hội.


Trong khi đó, pháp luật có chức năng duy trì sự phát triển bình thường và lành mạnh của xã hội. Vì thế không thể công nhận hôn nhân đồng tính bằng pháp luật.


Hiện có một số quốc gia công nhận hôn nhân đồng tính, ông cắt nghĩa như thế nào về việc công nhận sự “lệch chuẩn” của các quốc gia này, thưa ông?
- Trong tư duy lập pháp thì công nhận quyền của công dân đồng nghĩa với việc xác định nghĩa vụ của Nhà nước. Vì thế, nhiều quốc gia cho rằng, người đồng tính có quyền tự do cá nhân trong biểu lộ xúc cảm và tự do về tình dục nên để tránh cho việc tự do của công nhân bị xâm phạm (như kỳ thị hoặc bị coi là bất hợp pháp), Nhà nước phải ban hành luật để bảo vệ sự tự do đó.


Trong tư duy lập pháp của chúng ta thì tự do cá nhân cũng rất quan trọng, song tự do cá nhân cũng có những giới hạn nhất định để bảo vệ lợi ích chung của cộng đồng và sự phát triển bình thường của xã hội. Vì thế, những người đồng tính vẫn có sự tự do về tình cảm, thậm chí là tình dục đồng giới nhưng rõ ràng là không được khuyến khích nên pháp luật không công nhận quan hệ chính thức của họ.


Xin cảm ơn ông! (Báo PLVN) 
La Hoàn
Nguồn: http://vietnamnet.vn/vn/doi-song/74234/xu-phat-dam-cuoi-dong-tinh--bieu-hien-cua-su-ky-thi.html


*
**



Đức giáo hoàng tái khẳng định việc cấm hôn nhân đồng tính
Phụng Nghi5/20/2008


Vatican (Reuters) – Lên tiếng một ngày sau khi tòa án ở California ra phán quyết ủng hộ hôn nhân đồng tính, Đức giáo hoàng Bênêđictô tái khẳng định rằng lập trường của giáo hội Công giáo là chỉ có những kết hợp giữa một người nam và một người nữ mới hợp với luân lý.

ĐGH Bênêđictô không đả động gì đến phán quyết ở California trong diễn từ của ngài đọc trước đại diện các nhóm gia đình đến từ khắp Âu châu, nhưng nhấn mạnh nhiều lần đến lập trường của Giáo hội. 

Ngài nói: “Kết hợp của tình yêu thương, dựa trên hôn phối của một người nam và một người nữ để tạo thành gia đình, là biểu hiện điều thiện hảo đối với mọi xã hội, và không thể được thay thế bằng, bị lầm lẫn với, hoặc so sánh cùng các loại kết hợp khác.”

Đức giáo hoàng cũng nói về các quyền không thể tước đoạt của gia đình truyền thống “tạo lập trên hôn nhân giữa một người nam và một người nữ, là cái nôi thiên nhiên của cuộc sống con người.”

Hôm thứ Năm tuần qua, Tối cao Pháp viện California đã lật ngược điều luật cấm những cuộc hôn nhân đồng tính; đó là một chiến thắng lớn của nhóm người cổ võ quyền cho người gay, sẽ cho phép các cặp đồng tính được “kết hôn” với nhau trong một bang dân cư đông đảo nhất nước Mỹ. 

Năm ngoái, giáo hội Công giáo rất có uy thế tại Ý đã thành công trong chiến dịch chống đối một đạo luật cung ứng cho người gay và các cặp chưa lấy nhau được nhiều quyền hạn hơn. Đạo luật này do chính phủ tả phái đưa ra.

Giáo hội Công giáo dạy rằng tình trạng đồng tính không phải là một tội, nhưng hành động đồng tính là tội, và chống đối việc cho phép người đồng tính được nhận con nuôi.

Tòa án tại California cho rằng các đạo luật giới hạn hôn nhân chỉ áp dụng cho người khác phái là không phù hợp với các quyền được hiến pháp tiểu bang bảo đảm.

Tổng thống Hoa kỳ cũng chống hôn nhân đồng tính; ông đã cùng với Đức giáo hoàng cầu nguyện “cho gia đình” tại tòa Bạch ốc tháng trước khi ngài đến viếng thăm.

Năm ngoái, Hồng y Angelo Bagnasco, chủ tịch Hội đồng Giám mục Ý đã được báo chí nói đến nhiều vì những lời bình luận được giới phê bình cho hay là đã coi ngang đồng tính như loạn luân và ấu dâm.

Sau lời bình luận của ngài – tuy Hồng y Bagnasco nói rằng đã bị hiểu lầm – trên cánh của nhà thờ chính tòa ở vùng bắc Genoa nơi ngài làm tổng giám mục, có những hàng chữ “Đáng xấu hổ!” và “Bagnasco hãy coi chừng!”

Đức giáo hoàng cũng ủng hộ Hồng y Bagnasco, dịp cuối tuần vừa qua đã đến thăm viếng Genoa. 

Những người phản đối hôn nhân đồng tính tại Hoa kỳ cương quyết chống phán quyết của tòa án bằng biện pháp yêu cầu bỏ phiếu toàn tiểu bang để tu chính hiếp pháp nhằm cấm những cuộc hôn nhân đồng tính.

Nguồn: Philip Pullella/Reuters

*
**


Những hoang mang tiếp theo việc Obama tuyên bố ủng hộ “hôn nhân đồng tính”
J.B. Đặng Minh An 5/11/2012
Hôm thứ Tư, Obama, người đã từng viện dẫn Kinh Thánh để chống lại việc coi “hôn nhân đồng tính” ngang hàng với hôn nhân truyền thống - giữa một người nam và một người nữ - trong cuộc tranh cử tổng thống 4 năm về trước, thì nay lại cũng viện dẫn Kinh Thánh để ủng hộ cho “hôn nhân đồng tính”.

Giải thích cho lập trường bất nhất này của mình, Obama nói rằng tư duy của mình đã “tiến hóa”. Obama đã nói với một giọng điệu thương cảm rất điêu luyện về kịch nghệ, chỉ chút xíu nữa là rơi nước mắt.

Trước diễn biến này, Đức Hồng y Timothy Dolan, chủ tịch Hội Đồng Giám Mục Hoa Kỳ, đã ra tuyên bố chỉ trích lập trường của Tổng thống Barack Obama về hôn nhân đồng tính. Ngài nói rằng ngài cầu nguyện cho tổng thống và chính quyền của ông "hành động một cách đúng đắn để duy trì và bảo vệ hôn nhân như sự hợp nhất của một người đàn ông và một người nữ."

Đức Hồng Y cho rằng ý kiến của tổng thống về hôn nhân đồng tính "theo sau những hành động khác đã được thực hiện bởi chính quyền Hoa Kỳ đang làm xói mòn hoặc xem thường ý nghĩa độc đáo của hôn nhân."

Ngài nói, "Chúng ta không thể im lặng khi đối mặt với những lời nói hay hành động làm suy yếu định chế hôn nhân, là nền tảng của xã hội chúng ta”

Tuy nhiên, quan điểm của Đức Hồng Y nhanh chóng bị “chết ngộp” trong vô số những bài tường thuật trên thế giới về quan điểm liên quan đến vấn đề này của ba “thần học gia Công Giáo” đang giảng dạy tại các học viện thần học của Dòng Tên tại Hoa Kỳ.

Theo Catholic World News, ba nhà thần học Paul Lakeland của Fairfield University, Daniel Maguire trường đại học Marquette, và Frank Parella của Đại học Santa Clara - đã nhanh chóng lên án quan điểm về “hôn nhân đồng tính” của Đức Hồng Y Dolan và Hội Đồng Giám Mục Hoa Kỳ.

Daniel Maguire nói: "[Đức Hồng y Timothy] Dolan và Hội nghị Công giáo Hoa Kỳ đang giải thích sai lạc giáo huấn Công giáo, và đang cố gắng để trình bày quan điểm thiểu số mang phong cách riêng của họ như là quan điểm của Giáo Hội Công Giáo."

"Các giám mục chắc chắn sẽ đứng về phía [Đức Hồng y Timothy] Dolan và Hội Đồng Giám Mục Hoa Kỳ. Nhưng về vấn đề này, họ đang ly giáo về luân lý trong một Giáo Hội đã thay đổi theo chiều hướng có một cái nhìn nhân đạo hơn về quyền của những người mà Thiên Chúa đã làm cho đồng tính."

Daniel Maguire, một cựu linh mục Dòng Tên, đã xuất ra để lập gia đình nói tiếp: "Hầu hết các nhà thần học Công giáo chấp nhận hôn nhân đồng tính và người Công giáo nói chung không có quan điểm khác biệt với những người khác về vấn đề này". Maguire cũng là một người bảo vệ kiên quyết phá thai hợp pháp.

Trong khi đó, “thần học gia” Parella cho biết ông thấy "không tìm thấy gì trong các sách Tin Mừng" là cơ sở hướng dẫn Giáo Hội phản đối “hôn nhân đồng tính”.

Trong khi đó, “thần học gia” Lakeland nói rằng “chẳng có cơ sở thần học nào biện minh cho lập trường của các giám mục Hoa Kỳ phản đối ‘hôn nhân đồng tính’” 

Từ Vatican, Đức Tổng Giám Mục Thomas Wenski đang trong chương trình adlimina cho biết ngài tin rằng Obama hỗ trợ cho hôn nhân đồng tính là một động thái chính trị cố ý gây ra một sự phân tâm trong chiến dịch bầu cử năm nay.

Đức Cha Thomas Wenski cho rằng Obama đã cố ý hướng dư luận chú ý đến vấn đề “hôn nhân đồng tính” mà quên đi những thảm hại về kinh tế trong 4 năm cầm quyền của mình.

Ngài nói: "Cần lưu ý đến thời điểm cụ thể mà tổng thống nêu lên lập trường này. Tuần trước, báo chí đã nói rằng trọng tâm của cuộc bầu cử này sẽ là nền kinh tế. Và tôi nghĩ rằng nền kinh tế đã không được cải thiện theo chiều hướng mà mọi người đã hy vọng.” 

Giáo Hội đang đứng trước những khó khăn nhất định khi những lập trường đứng đắn của mình lại bị chính các “thần học gia” phê phán là “bảo thủ” và “phi nhân bản”.

Chúng tôi xin trích thuật dưới đây tài liệu chính thức của các Giám Mục Hoa Kỳ về các kết hiệp đồng tính.

Dẫn Nhập

Ngày nay một trào lưu đang lớn mạnh muốn đưa những mối quan hệ thường được gọi là sống chung đồng tính lên ngang hàng về mặt luật pháp với hôn nhân. Tình trạng này thách đố những người Công Giáo - và tất cả những ai tìm kiếm sự thật - phải nghĩ sâu xa về ý nghĩa của hôn nhân, mục đích của nó và giá trị của nó đối với những cá nhân, gia đình và xã hội. Suy niệm về vấn đề này, qua sự vận dụng cả lý trí và đức tin, là một khởi đầu thích hợp và là khuôn khổ cho sự bàn bạc hiện nay. 

Chúng tôi, các Đức Giám Mục Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ, xin được đưa ra nơi đây những sự thật căn bản để giúp hiểu biết giáo huấn Công Giáo về hôn nhân và giúp đề cao hôn nhân cũng như tính chất thánh thiêng của nó.

1. Hôn nhân là gì? 

Hôn nhân, như đã được thiết lập bởi Thiên Chúa, là một sự kết hiệp trung tín, độc quyền và suốt đời giữa một người nam và một người nữ được kết hiệp trong một một cộng đoàn mật thiết của đời sống và tình yêu. Họ dâng hiến hoàn toàn chính họ cho nhau và cho bổn phận diệu kỳ là đem con cái của họ vào trong thế gian này và nuôi dưỡng chúng. Ơn gọi hôn nhân được đan sâu trong tâm trí con người. Nam cũng như nữ. Tuy nhiên, như đã được tạo dựng, họ tuy khác biệt nhưng đã được tạo ra cho nhau. Sự bổ túc lẫn nhau này, bao gồm cả sự khác biệt về giới tính, lôi kéo họ lại với nhau trong một sự kết hiệp yêu thương lẫn nhau và luôn mở ngõ cho sự sản sinh con cái (x. Sách Giáo Lý Công Giáo - SGLCG- số 1602-1605). 

Những sự thật về hôn nhân này hiện hữu theo trật tự tự nhiên và có thể lĩnh hội dưới ánh sáng của lý trí con người. Những sự thật này đã được xác nhận trong Mạc Khải Thánh Thiện của Thánh Kinh.

2. Đức tin nói với chúng ta điều gì về hôn nhân?

Hôn nhân xuất phát từ bàn tay từ ái của Thiên Chúa, Đấng đã tạo nên cả người nam và người nữ giống hình ảnh thánh thiện của Ngài (x. Kn 1:27). Người đàn ông "lìa cha mẹ mà gắn bó với vợ mình, và cả hai thành một xương một thịt" (Kn 2:24). Người đàn ông nhận người đàn bà như là "xương bởi xương tôi, thịt bởi thịt tôi!" (Kn 2:23). Thiên Chúa chúc phúc cho hai người nam nữ và ra lệnh cho họ "Hãy sinh sôi nảy nở thật nhiều" (Kn 1:28). Chúa Giêsu cũng đã lập lại những lời dạy trong Sách Khởi Nguyên khi nói: "Thiên Chúa đã làm nên con người có nam có nữ; vì thế, người đàn ông sẽ lìa cha mẹ mà gắn bó với vợ mình, và cả hai sẽ thành một xương một thịt. Như vậy, họ không còn là hai, nhưng chỉ là một xương một thịt." (Mc 10:6-8).

Những đoạn Thánh Kinh này giúp chúng ta hiểu chương trình của Thiên Chúa dành cho hôn nhân. Đó là một sự kết hiệp mật thiết trong đó những người phối ngẫu, như những con người bình đẳng với nhau, ban tặng chính mình cho nhau hoàn toàn và đầy thương yêu. Qua món quà trao tặng nhau là chính mình, họ hợp tác với Thiên Chúa trong việc sinh sản con cái và chăm sóc cho chúng. 

Hôn nhân vừa là một cơ chế tự nhiên, vừa là một sự kết hiệp thánh thiêng bởi vì nó bắt rễ từ chương trình tạo dựng thánh thiện của Thiên Chúa. Thêm vào đó, Giáo Hội dạy rằng hôn nhân hợp pháp của những người đã chịu phép Rửa Tội là một bí tích - một thực tại cứu độ. Đức Giêsu Kitô đã biến hôn nhân thành một biểu tượng cho tình yêu của Ngài đối với Giáo Hội (x. Eph 5:25-33). Điều này nghĩa là một cuộc hôn nhân bí tích làm cho thế giới thấy, theo khía cạnh nhân loại, những điều gì đó về tình yêu trung tín, sáng tạo, phong phú và cho đi của Đức Kitô. Một hôn nhân chân thật trong Chúa với ơn sủng của Ngài sẽ mang đến sự thánh thiện cho những người phối ngẫu. Tình yêu của họ một khi được diễn tả nơi sự trung tín, nhiệt thành, sinh sản, quảng đại, hy sinh, tha thứ, và chữa lành sẽ đem tình yêu của Thiên Chúa đến cho gia đình, cộng đoàn và xã hội của họ. Ý nghĩa Kitô Giáo này xác nhận và củng cố giá trị nhân bản của sự kết hiệp hôn nhân (SGLCG số 1612-1617; 1641-1642). 

3. Tại sao hôn nhân chỉ tồn tại giữa người nam và người nữ?

Cấu trúc tự nhiên của tính dục con người khiến cho người nam và người nữ trở nên những đối tác bổ túc lẫn nhau trong việc di truyền sự sống con người. Chỉ có sự kết hiệp giữa người nam và người nữ mới diễn tả sự bổ khuyết tính dục theo ý Chúa định cho hôn nhân. Cam kết vĩnh viễn và độc quyền của hôn nhân là bối cảnh cần thiết cho sự thể hiện tình yêu đôi lứa mà Thiên Chúa đã định nhằm di truyền sự sống con người và xây đắp mối giây ràng buộc giữa người chồng và người vợ. (x SGLCG số 1639-1640). 

Trong hôn nhân, người chồng và người vợ ban tặng hoàn toàn chính họ cho nhau trong nam tính và nữ tính của họ (SGLCG số 1643). Họ bình đẳng như những con người, nhưng khác biệt nam và nữ để bổ sung lẫn nhau qua sự khác biệt tự nhiên này. Sự bổ khuyết độc đáo này khiến cho mối giây ràng buộc hôn nhân, là trung tâm điểm của đời sống hôn nhân, có thể thực hiện được 

4. Tại sao kết hiệp đồng tính không thể so sánh với hôn nhân?

Có những lý do cho thấy kết hiệp đồng tính trái ngược với bản chất của hôn nhân: nó không dựa trên sự bổ khuyết tự nhiên của người nam và người nữ; nó không hợp tác với Thiên Chúa trong việc tạo dựng sự sống mới; và mục đích tự nhiên của kết hiệp lứa đôi không thể đạt được qua hôn nhân đồng tính. Những người trong mối liên hệ đồng tính không thể tiến vào một sự kết hiệp hôn nhân phu phụ. Do đó, là sai lầm khi đánh đồng quan hệ của họ với hôn nhân. 

5. Tại sao đối với xã hội điều quan trọng là phải bảo tồn hôn nhân như một kết hiệp duy nhất giữa một người nam và một người nữ? 

Vượt trên thời gian, và những khác biệt rất xa về văn hóa và tín ngưỡng, hôn nhân luôn là căn bản của gia đình. Đến lượt mình, gia đình là đơn vị căn bản của xã hội. Vì vậy, tuy hôn nhân là một quan hệ riêng tư, nó có một ý nghĩa đại chúng.

Hôn nhân là khuôn mẫu căn bản cho những mối quan hệ nam nữ. Nó đóng góp cho xã hội bởi vì nó tạo ra khuôn mẫu theo đó những người nam nữ sống phụ thuộc vào nhau và cam kết tìm kiếm điều tốt đẹp cho nhau trong suốt cuộc đời. 

Kết hiệp hôn nhân cũng đem lại những điều kiện tốt nhất để nuôi dạy trẻ em: chẳng hạn, quan hệ vững bền và yêu thương của một người mẹ và một người cha chỉ hiện hữu trong hôn nhân. Nhà nước đúng đắn khi nhìn nhận mối quan hệ này như là một định chế công cộng trong luật của mình bởi vì quan hệ này tạo ra một đóng góp độc đáo và thiết yếu cho thiện ích chung.

Luật pháp đóng một vai trò giáo dục vì chúng hình thành khuôn mẫu tư duy và hành vi, đặc biệt về những điều mà xã hội cho phép và được chấp nhận. Thành thử, khi ban cho những kết hiệp đồng tính một tình trạng pháp lý ngang bằng với hôn nhân nó cũng công khai ban một sự chuẩn thuận cho hành vi đồng tính luyến ái và coi đó như một điều vô thưởng vô phạt về mặt luân lý. 

Khi hôn nhân được tái định nghĩa sao cho những quan hệ khác được ngang bằng với nó, định chế hôn nhân bị hạ giá và bị suy yếu hơn nữa. Việc làm suy yếu định chế căn bản này ở mọi cấp độ và bởi các thế lực khác nhau đã khiến cho xã hội phải trả một giá quá đắt.

6. Có phải từ chối hôn nhân của những người đồng tính là thể hiện một sự phân biệt bất công và một sự thiếu tôn trọng họ như những con người không?

Việc phủ nhận tình trạng pháp lý của các kết hiệp đồng tính không phải là bất công bởi vì hôn nhân và các kết hiệp đồng tính là những thực tại khác biệt nghiêm trọng. Thực ra, chính công lý đòi hỏi xã hội phải hành động như thế. Để giữ ý định của Thiên Chúa dành cho hôn nhân, trong đó quan hệ tính dục có vị trí đúng đắn và độc quyền, không phải là xúc phạm đến phẩm giá của những người đồng tính. Những người Kitô hữu cần phải là chứng tá cho toàn bộ sự thật luân lý và chống lại, như một điều vô luân, cả những hành vi đồng tính luyến ái lẫn việc kỳ thị bất công những người đồng tính. 

Sách Giáo Lý của Giáo Hội Công Giáo khuyến khích những người đồng tính luyến ái "được chấp nhận với sự tôn trọng, lòng thương yêu, và sự tế nhị" (số 2358). Sách Giáo Lý cũng khuyến khích tình bằng hữu thanh sạch "Sự khiết tịnh được biểu lộ cách cao thượng nơi tình bằng hữu với tha nhân. Dù nó được nảy nở giữa những người cùng giới hay khác giới, tình bằng hữu đem lại một sự tốt đẹp cao cả cho mọi người". (số 2347). 

7. Những người đang sống trong các mối quan hệ đồng tính có đáng được hưởng những phúc lợi xã hội và kinh tế dành cho các cặp vợ chồng không?

Nhà nước có trách nhiệm đề cao gia đình, bắt rễ từ hôn nhân. Do đó, nhà nước đúng đắn khi chỉ cấp cho những cặp vợ chồng các quyền lợi và phúc lợi mà không nới rộng cho những kết hiệp khác. Nói cho cùng, sự ổn định và phát triển của xã hội tùy thuộc vào sự ổn định và phát triển của đời sống gia đình lành mạnh.

Việc nhìn nhận hợp pháp hôn nhân, bao gồm cả những phúc lợi đi liền với nó không chỉ là vì chuyện riêng tư cá nhân, nhưng còn là vì sự cam kết xã hội của vợ chồng trong việc làm thăng tiến xã hội. Sẽ là sai lầm khi định nghĩa lại hôn nhân vì muốn cung ứng các phúc lợi cho những ai không thể chính đáng bước vào đời sống hôn nhân.

Nhiều phúc lợi hiện nay những người sống trong các loại kết hiệp đồng tính đã có thể nhận được bất kể tình trạng hôn nhân. Chẳng hạn, các cá nhân có thể đồng ý sở hữu tài sản chung với người khác, và họ có thể chỉ định ai là người thừa kế di chúc hay ai là người có quyền quyết định trong việc chăm sóc sức khoẻ cho họ một khi họ đau yếu liệt lào. 

8. Dưới ánh sáng của giáo huấn Công Giáo về sự thật và vẻ đẹp của hôn nhân, người Công Giáo nên làm gì?

Không thể có sự tách biệt giữa đức tin của ta với đời sống dù là trong phạm vi riêng tư hay công cộng. Tất cả mọi người Công Giáo phải hành động theo đức tin của họ với một lương tâm trưởng thành theo Thánh Kinh và Thánh Truyền. Qua tiếng nói và lá phiếu của họ, họ nên đóng góp cho sự hưng thịnh của xã hội, cũng như phê phán đời sống xã hội qua những tiêu chí của lý trí đúng đắn và sự thật Tin Mừng. Thi hành bổn phận công dân có trách nhiệm là một nhân đức. Dự phần trong tiến trình xã hội là một bổn phận luân lý. Đây là một điều cấp thiết dưới ánh sáng của nhu cầu cần phải bảo vệ hôn nhân và chống lại việc đánh đồng về mặt luật pháp giữa hôn nhân và các loại kết hiệp đồng tính. 

Chính những cặp vợ chồng, qua chứng tá của tình yêu trung tín và cho đi, là những trạng sư tốt nhất cho hôn nhân. Qua gương sáng của họ, họ là những nhà giáo đầu tiên của thế hệ tiếp theo về thế giá của hôn nhân và nhu cầu phải bảo vệ nó. Như những nhà lãnh đạo của gia đình - mà Công Đồng Vaticanô II đã gọi là "một giáo hội tại gia" (Hiến Chế Ánh Sánh Muôn Dân số 11), các cặp vợ chồng nên đem những ơn huệ cùng như những nhu cầu của họ đến với Giáo Hội rộng lớn hơn. Nơi đó, với sự trợ lực của những cặp vợ chồng khác và những mục tử cũng như những cộng tác viên, họ có thể củng cố cam kết của họ và nuôi dưỡng bí tích hôn nhân của họ suốt đời. 

Kết luận

Hôn nhân là một định chế căn bản của loài người và xã hội. Dù hôn nhân bị chi phối bởi luật dân sự và Giáo Luật, hôn nhân không xuất phát từ Giáo Hội hay nhà nước, nhưng từ Thiên Chúa. Do đó, cả Giáo Hội lẫn nhà nước đều không có quyền thay đổi ý nghĩa và cấu trúc cơ bản của hôn nhân. 

Hôn nhân, với bản chất và những mục đích được thiết lập bởi Thiên Chúa, chỉ có thể là sự kết hiệp giữa một người nam và một người nữ và phải được giữ nguyên như thế trong luật pháp. Trong một thể thức không giống bất kỳ một thứ quan hệ nào khác, hôn nhân tạo ra một sự đóng góp độc đáo và không thể thay thế được cho thiện ích chung của xã hội, đặc biệt thông qua việc sinh sản và giáo dưỡng con cái. Sự kết hiệp suốt đời giữa một người nam và một người nữ trở thành một điều tốt cho chính họ, gia đình, cộng đoàn và xã hội của họ. Hôn nhân là một ơn sủng phải được tán dương và bảo vệ. 

Đức Ông. William P. Fay 

Tổng Thư Ký Hội Đồng Giám Mục Hoa Kỳ


Xem Thêm

Second Vatican Council. Pastoral Constitution on the Church in the Modern World (Gaudium et Spes), nos. 47-52. December 1965. Available online at www.vatican.va.

Catechism of the Catholic Church, nos. 369-373, nos. 1601-1666, and nos. 2331-2400. Washington, DC: United States Conference of Catholic Bishops-Libreria Editrice Vaticana, 2000.

Pope John Paul II. On the Family (Familiaris Consortio). Washington, DC: United States Conference of Catholic Bishops, 1982.

Congregation for the Doctrine of the Faith. Considerations Regarding Proposals to Give Legal Recognition to Unions Between Homosexual Persons. July 2003. Available online at www.vatican.va. 

United States Conference of Catholic Bishops. Follow the Way of Love: A Pastoral Message of the U.S. Catholic Bishops to Families. Washington, DC: United States Conference of Catholic Bishops, 1993.

United States Conference of Catholic Bishops. Faithful Citizenship: A Catholic Call to Political Responsibility. Washington, DC: United States Conference of Catholic Bishops, 2003

Thứ Sáu, 1 tháng 6, 2012

Một Linh Đạo Cho Giáo Dân

Vũ Văn An4/16/2012

Lý do ủng hộ hay chống đối một linh đạo chuyên biệt cho giáo dân cho ta thấy nhiều yếu tố chung quan trọng trong mọi lối sống của Kitô hữu. 


Năm 1959, Linh mục Yves Congar bắt đầu công trình nghiên cứu lâu dài và thận trọng của ngài về giáo dân bằng nhận xét cho rằng hạn từlaikos trong Hy Ngữ, tức giáo dân trong tiếng Việt, không hề có trong toàn bộ Thánh Kinh (1). Tuy nhiên, trong Tân Ước, danh từ laos vốn đã được sử dụng nhiều lần để chỉ chung về “dân”. Trong Cựu Ước, một chữ tương tự cũng đã được sử dụng để chỉ Dân Chúa theo nghĩa tương phản với dân ngoại. Đối với các cộng đồng Do Thái Giáo và Kitô Giáo tiên khởi, các hạn từ ấy bao hàm khía cạnh thánh thiêng, chỉ những người có liên hệ với Thiên Chúa, khác với những người ở bên ngoài giao ước. 



Dần dà trong Kitô Giáo, hạn từ giáo dân đã được sử dụng theo nghĩa tương phản với các nhà lãnh đạo Dân Chúa, nghĩa là với các linh mục, giám mục. Giáo dân là thành phần trong Giáo Hội chịu sự lãnh đạo và kiểm soát của hàng giáo phẩm (2). Nửa đầu thế kỷ thứ hai, trong thư gửi cộng đoàn Côrintô, Thánh Clêmentô Thành Rôma phân biệt một bên là “vị trí đặc biệt” và “các thừa tác vụ đặc biệt” của linh mục, một bên là bổn đạo thường “bị trói buộc bởi các luật lệ được đặt ra cho hàng ngũ giáo dân”. Nghĩa này nay đã trở thành phổ biến và bị coi là gây trở ngại cho khá nhiều người trong cộng đồng Kitô Giáo. 



Công đồng Vatican II đã đem lại nhiều tiến bộ trong phạm vi này. Từ đó, người ta càng ngày càng nhấn mạnh tới tinh thần cởi mở và đối thoại trong mọi khía cạnh của cuộc sống nhân bản, và điều này gây ra một ảnh hưởng tích cực đối với linh đạo giáo dân. Hiến chế mục vụ Giáo Hội Trong Thế Giới Hiện Đại đã nhấn mạnh tới tình liên đới giữa mọi người và đã chi tiết hóa cả một nền thần học nhập thể nhằm nối kết chặt chẽ giữa việc làm Kitô hữu với việc trở thành nhân bản trọn vẹn (3). Tuy thế, hình ảnh giáo dân như “người giúp việc” thì vẫn còn đó (4). Rất may, hình ảnh ấy không còn nổi bật trong các văn kiện của ta hiện nay nữa, nhưng thiển nghĩ nó vẫn còn lẩn khuất đâu đó trong tâm trí phần lớn giáo dân hiện nay và trong bầu khí trầm lặng của Giáo Hội. Và điều ấy khiến cho việc thay đổi trở thành khó khăn và đầy thách thức. Nhưng những phát biểu như sau đang cho thấy có sự thay đổi về cách nhìn đối với sự thánh thiện: 



“Ðời sống kết hiệp mật thiết với Chúa Kitô trong Giáo Hội được nuôi dưỡng bằng sự phù giúp thiêng liêng chung cho mọi tín hữu, nhất là bằng việc tham dự tích cực vào Phụng Vụ. Người giáo dân phải làm thế nào để nhờ những phương tiện ấy mà chu toàn nhiệm vụ trần thế trong những hoàn cảnh thường xuyên của cuộc sống mà vẫn không tách khỏi đời sống mình sự kết hiệp với Chúa Kitô, nhưng càng kết hiệp mật thiết hơn chính khi thi hành công việc của mình theo ý Thiên Chúa” (Sắc lệnh Về Tông Đồ Giáo Dân, chương 1, số 4) 



Ở đây, chúng tôi không có ý định trình bày khía cạnh lịch sử và nhận thức học của hạn từ giáo dân. Chỉ xin thưa là hạn từ này đã xuất hiện dưới một hình thức nào đó ngay từ buổi đầu của truyền thống Kitô giáo và hiện nay, nó vẫn còn ở đó. Và theo thiển ý, bất kể chủ trương lý thuyết cũng như cảm quan của ta ra sao, hạn từ này vẫn tiếp tục được sử dụng cách nào đó để chỉ nhóm người đã rửa tội hợp thành đại đa số Dân Chúa, những người “ngồi ở hàng ghế dài” (person in the pew), hàng ngũ giáo dân (5). Thành thử, nêu câu hỏi về việc có cần khai triển một nền thần học linh đạo chuyên biệt cho hàng ngũ giáo dân hay không, thiết nghĩ, vẫn là điều thích hợp. 



Các thái độ trong quá khứ đối với giáo dân



Ở những nơi, Kitô giáo từng có mặt lâu đời như Anh Quốc, không thiếu các vị giáo phẩm công khai tỏ ý khinh miệt hàng ngũ giáo dân. Đức Hồng Y Gasquet (1846-1929) mô tả như sau về họ: “Người giáo dân quì trước bàn thờ, ngồi dưới tòa giảng, và thò tay vào túi tiền” (6). Đối với đề nghị của Tiến Sĩ Newman muốn tham khảo hàng ngũ giáo dân trong các vấn đề tín lý, Đức Ông George Talbot đã phát biểu như sau: “Lãnh vực hoạt động của giáo dân là gì? Là săn, là bắn, là vui chơi. Các vấn đề đó, họ hiểu rất rõ, nhưng còn việc pha mình và các vấn đề giáo hội học, họ không hề có quyền, mà việc của Newman là vấn đề thuộc giáo hội học… Tiến sĩ Newman là người nguy hiểm nhất tại Anh Quốc” (7). 



Qua thập niên 1950, vẫn còn những người như C.A. Bouman tỏ thái độ tiêu cực đối với hàng ngũ giáo dân. Trong một bài báo tựa là “Is There A Lay Spirituality?" (Có chăng một nền linh đạo giáo dân?), ông cho rằng: linh đạo tu sĩ là mẫu mực cho mọi người, chỉ cần thích ứng nền linh đạo này cho những ai sống “giữa thế gian mà thôi”. Bouman không hoàn toàn vô lý, khi cho rằng các yếu tố hàng đầu của đời sống thiêng liêng là chung cho mọi người, như tôn vinh Thiên Chúa và mô phỏng Chúa Kitô (8). Điều đáng lưu ý là tác giả này cho biết điểm khác biệt chủ yếu giữa người giáo dân và tu sĩ là việc các tu sĩ và linh mục triệt để sử dụng các phương thế nên thánh, tức việc “tận hiến” của họ dưới hình thức lời tuyên khấn trước mặt Giáo Hội (9). Nhưng ông cho hay các lời tuyên khấn này vẫn có thể áp dụng cho những người sống ở bên ngoài ngữ cảnh tu trì như một sự thiện hạng nhì, hay một hình thức linh đạo “pha loãng”. Chủ trương coi cuộc sống tu trì như trổi vượt và cuộc sống “giữa thế gian” gây trở ngại cho đời sống thiêng liêng này đã dẫn Bouman tới nhiều kết luận sai lầm và thu hẹp phạm vi các trợ cụ thiêng liêng dành cho họ. Ông bảo: “Người giáo dân nên nhớ điều các bậc thầy linh đạo từng nói về tội ‘acedia’, tức tội làm biếng thiêng liêng, một cái tội mà phần lớn giáo dân khó lòng tránh khỏi” (10). Như thế, người giáo dân rõ ràng lười biếng và ít đại lượng đối với Chúa, nên các phương thế thiêng liêng của họ xem ra chỉ quanh quẩn ở Mùa Chay, các Chúa Nhật, các lễ trọng, các kỳ tĩnh tâm. 



Trích dẫn bài báo trên, chúng tôi không ngụ ý cho rằng mọi quan điểm về vấn đề này đều tiêu cực như thế cả. Và, từ Công Đồng Vatican II trở đi, cục diện đã có nhiều thay đổi đáng kể. Tuy thế, thái độ tiêu cực như vậy vẫn còn hiện diện một cách tiềm ẩn đâu đó trong Giáo Hội, khiến nhiều người vẫn làm ngơ kinh nghiệm của người giáo dân về Thiên Chúa và do đó gây hại cho sự tiến triển thiêng liêng của họ. Các giáo dân đang nắm các chức vụ có tính thừa tác hiện nay trong Giáo Hội hiển nhiên là những người cảm nhận rõ nhất các thái độ tiêu cực tiềm ẩn hay vô thức này. Chúng chưa chết. 



Điều ấy không có nghĩa: hàng ngũ giáo dân chưa bao giờ được coi trọng trong lịch sử Giáo Hội. Dù là số nhỏ, nhưng suốt truyền thống Công Giáo vẫn có những lời ca ngợi tính đa dạng của các vai trò trong Giáo Hội (11). Chương 12 Thư thứ nhất của Thánh Phaolô gửi tín hữu Côrintô là công bố quen thuộc hơn cả, trong đó Thánh Tông Đồ Dân Ngoại nói tới đặc sủng tuy nhiều nhưng chung một gốc. Thánh Ambrôsiô Thành Milan (chết năm 397) nhắc đến Công Vụ 6 và nhu cầu phải có đa dạng tính về chức năng trong Giáo Hội. Ngài nhận định rằng tuy các Tông Đồ bỏ việc phục vụ bàn ăn để chuyên chăm cầu nguyện và lắng nghe Lời Chúa, nhưng chính Thánh Stêphanô, người được chọn để phục vụ bàn ăn, đã được đầy tràn Chúa Thánh Thần (12). Còn Thánh Grêgôriô Cả, khi bình giải truyện Maria và Mácta, đã cho rằng việc phục dịch của Mácta là bước cần thiết nếu ta muốn tiến đến sự chiêm ngắm của Maria. Ngài nhấn mạnh rằng những giờ phút dành cho chiêm niệm chỉ ngắn ngủi và bao giờ cũng phải dẫn ta trở lại với cuộc sống phục vụ (13). Và trong thập niên 1950, đã có những người muốn được thấy trong Giáo Hội các ông bà thánh vợ chồng, các ông thánh luật sư, vốn không phải là ơn mưa móc rơi rớt từ nền linh đạo tu sĩ (14). Mơ ước này, nửa thế kỷ sau, đã thành sự thật, đó là cặp vợ chồng hai chân phúc Luigi Beltrame Quattrocchi (1880-1951) và Maria Corsini (1884-1965). Luigi là một luật sư và công chức; Maria giữ vai nội trợ và hoạt động bác ái, là người từ khước phá thai dù là để cứu người mẹ. Họ được Đức Hồng Y José Saraiva Martins, Bộ Trưởng Bộ Phong Thánh, tuyên dương là đã “tạo nên một giáo hội tại gia đúng nghĩa ngay trong gia đình họ, một gia đình sẵn sàng chào đón sự sống, cầu nguyện, tông đồ xã hội, liên đới với người nghèo và tình bằng hữu”. Cuộc sống gia đình của họ diễn ra y hệt muôn vàn gia đình khác thuộc hế hệ họ: cũng có giờ cho thể thao, cho những ngày nghỉ bên bãi biển và tại các vùng cao… nhưng không bao giờ quên cầu nguyện và chào đón người nghèo. Ngày 21 tháng 10 năm 2001, Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II chính thức phong chân phúc cho ông bà. 



Và dù nhiều yếu tố trong công trình của mình cần được cập nhật hóa, Cha Yves Congar đã có tầm nhìn hết sức thông sáng về giáo dân, khi khẳng định rằng: “… Nếu mạnh bạo mở tung cánh cửa chào đón hoạt động của giáo dân, Giáo Hội chắc chắn sẽ cảm nhận được một mùa xuân bừng nở chưa từng có” (15). 



Chúa Thánh Thần quả đang hoạt động một cách rõ ràng trong cộng đồng giáo dân hiện nay. Cho nên đây là lúc người ta cảm thấy sự thôi thúc phải có một nền linh đạo có ý nghĩa hơn dành cho hàng ngũ giáo dân. Nhưng vấn đề là có cần một nền linh đạo chuyên biệt cho giáo dân hay không? Câu trả lời dường như cả có lẫn không. 



Các lý chứng có và không



Trong các cuộc thảo luận giữa các linh mục, tu sĩ và giáo dân về việc cần có một nền linh đạo giáo dân, các thành viên của ba nhóm này đưa ra một số lý do nghiêm túc cho thấy tại sao không cần phải có một nền linh đạo như thế. Tuy nhiên, cường độ trình bày thì có khác nhau. Các tu sĩ và linh mục rất xác tín trong việc nói tới các điểm chung giữa họ và các giáo dân họ gặp, như trong các thừa tác vụ tại giáo xứ chẳng hạn. Phần các giáo dân, tuy nhấn mạnh tới các yếu tố chung, nhưng vẫn bày tỏ sự lo ngại đối với các lạm dụng trong quá khứ và muốn được thấy Giáo Hội quan tâm hơn đối với các kinh nghiệm đặc thù của họ trong ngữ cảnh cuộc sống thiêng liêng. 



Lý do của sự khác biệt trong nhấn mạnh trên quả là khó nắm. Tuy nhiên, theo thiển nghĩ, có thể vì là thành phần chính trong lịch sử của Giáo Hội và được mọi người nhìn nhận là nghiêm chỉnh dấn thân vào cuộc sống thiêng liêng bằng chính việc quyết định theo ơn gọi của mình, nên các tu sĩ và linh mục sẵn sàng và cương quyết tự đồng hóa mình với hàng ngũ giáo dân hơn là tự tách mình ra để tương phản với hàng ngũ này. Ngược lại, hàng ngũ giáo dân thấy mình chỉ như lớp đất thiêng liêng ở trên mặt (spiritual turf) lúc nào cũng cảm thấy mình mỏng dòn, nên muốn được chuyển tới nền đất cứng cáp hơn, nghĩa là đi tìm một nền linh đạo có tính chuyên biệt dành cho kinh nghiệm của mình hơn. 



Tại sao không cần một nền linh đạo giáo dân (16)



Một luận chứng chống lại việc thừa nhận và khai triển nền linh đạo giáo dân là người ta sợ kéo dài những chia rẽ tai hại từng xuất hiện trong quá khứ. Tạo ra các nền linh đạo riêng biệt là vô tình nhấn mạnh tới các dị biệt gây hại cho các điểm chung, như thế là khích lệ khuynh hướng của con người lúc nào cũng muốn tôn một nền linh đạo lên trên các nền linh đạo khác. Gán tư cách trổi vượt nội tại cho bất cứ nền linh đạo nào cũng là điều tai hại, y hệt xu hướng độc tôn (exclusism) vậy. Nếu linh đạo giáo dân có hiệu quả khiến cho các linh đạo khác thấy mình bị loại trừ, thì tốt nhất là đừng tạo ra nó, dù trong quá khứ, mọi nền linh đạo đều đã loại trừ giáo dân. Sứ điệp Tin Mừng là sứ điệp bao gồm, nó không chấp nhận việc đổi chác một thứ độc tôn này để lấy một thứ độc tôn kia. 



Có người nghĩ rằng không thể nào có được một nền linh đạo giáo dân duy nhất. Và điều lý thú là cũng không thể có được nhiều nền linh đạo giáo dân vì cộng đồng giáo dân không có những đặc sủng nhất định hay những khuôn mặt sáng lập như nơi các tu sĩ Đa Minh, Phan Xi Cô, Cát Minh, Augustianô, Basilianô hay Dòng Tên. Quan điểm này cho thấy nhiều khó khăn đặc biệt khi phải giáp mặt với tính đa dạng nơi hàng ngũ giáo dân. Vậy mà tập chú ở đây lại là một nền linh đạo chung cho mọi Kitô hữu được phát biểu một cách cụ thể qua nhiều cách thế khác nhau. 



Ta cũng có thể nói đến sự thay đổi gần đây trong các nhân tố vốn được dùng để phân biệt hàng tu sĩ/linh mục với hàng giáo dân. Đứng đầu các nhân tố này là sự kiện hàng giáo dân ở “giữa thế gian”. Ngoài quan điểm mới mẻ về “thế gian” ra, càng ngày người ta càng cho rằng cả các linh mục và tu sĩ nữa cũng không ở ngoài thế gian. Trong một số trường hợp, các ngài còn ở “giữa thế gian” đến tận xương tủy nữa. Ta chỉ cần nhớ tới các nhóm nấu cháo và cung cấp cháo tại Trung Mỹ. Chính các vị tự đóng khung trong các đan viện chiêm niệm hiện cũng đang gắn bó với “thế gian” một cách chặt chẽ. Thomas Merton là một điển hình hiển nhiên. Người ta có thể nhận ra các khác biệt giữa việc làm một người bán giầy hay một thảo chương viên điện toán, và một nhà giảng thuyết hay một giáo lý viên. Nhưng hơi khó nếu phải hiểu thoả đáng sự dị biệt giữa các cách hiện diện “giữa thế gian” của các nền linh đạo khác nhau. Phải chăng đây là tập chú hàng đầu?



Một phương thức khác có lẽ là phải xác định lại ý nghĩa của các hạn từ như “linh mục” và “giáo dân” dựa trên truyền thống sơ khai. Trong cái hiểu của Thánh Kinh về “laos” (dân), tư tế hay linh mục “được lấy ra từ dân”, không theo nghĩa tách biệt khỏi họ, mà là giống như họ. Trong Thư gửi tín hữu Do Thái, chức tư tế của Chúa Giêsu cho thấy Người kết hợp với ta một cách hết sức gần gũi, nhờ thế, Người hiểu tận tường số phận của ta. Theo chiều hướng này, ta có thể nói rằng bậc sống giáo dân làm nền cho mọi cấp bậc trong Giáo Hội, và các giáo sĩ cũng như tu sĩ đều là các giáo dân nhưng đảm nhiệm các chức năng khác trong Giáo Hội. Hiểu như thế, thì mọi nền linh đạo đều trước hết phải là linh đạo giáo dân. 



Một chủ trương tương tự khác thì đề cập tới tính phổ quát của ơn gọi giáo dân. Người nào ít nhất cũng phải trải qua một phần tư đời mình làm giáo dân, và dù sau đó có chọn ơn gọi làm linh mục hay tu sĩ đi nữa, thì cái gốc linh đạo và hệ thống giá trị của con người ấy vẫn phải quay về với môi trường giáo dân của gia đình. Một cái nhìn như thế đương nhiên đã đặt linh đạo giáo dân làm nền đệ nhất đẳng cho mọi người. 



Luận chứng sau cùng chống lại việc khai triển một nền linh đạo chuyên biệt cho giáo dân nhấn mạnh tới các yếu tố căn bản chung cho mọi người, bất kể bậc sống, phái tính và hệ phái. Các yếu tố này hầu như phổ quát trong truyền thống Kitô Giáo và xuất hiện một cách nhất quán trong mọi ghi chép của lịch sử linh đạo. Chúng liên quan tới mối liên hệ nhân thần căn bản và do đó, bàng quan đối với các phạm trù đặc thù như giáo dân, giáo sĩ, tu sĩ. 



Các yếu tố đó là: lấy việc biết mình làm khởi điểm cho đời sống thiêng liêng, khao khát Thiên Chúa, nuôi dưỡng mối liên hệ của ta với Thiên Chúa bằng cầu nguyện, nhận biết tội lỗi mình, thực hành nhân đức, thương yêu người lân cận. Danh sách ấy còn dài. Ít ai có thể chối bỏ được rằng bất cứ người nào muốn thực hiện cuộc hành trình tiến tới thánh thiện đều phải quan tâm tới các vấn đề ấy, như thế đâu cần phải có một nền linh đạo chuyên biệt giáo dân, hay tu sĩ hoặc linh mục! Trong Thư gửi tín hữu Galát (3:27-29), Thánh Phaolô cho ta thoáng thấy cuộc sống của những người được rửa tội và mặc lấy Chúa Kitô phải như thế nào. Cuộc sống ấy phải loại bỏ mọi phân biệt giữa Do Thái và Hy Lạp, giữa nô lệ và tự do, giữa nam và nữ, tất cả phải nhường bước cho việc hợp nhất trong Chúa Giêsu Kitô.



Thế còn câu trả lời có thì sao, tại sao ta lại cần phải có riêng một nền linh đạo cho giáo dân, dựa vào căn bản nào để quả quyết như thế?



Tại sao cần một nền linh đạo riêng cho giáo dân? 



Phần lớn các lý do bênh vực nền linh đạo riêng dành giáo dân phát sinh từ lịch sử. Phải thành thực nhìn nhận rằng trong lịch sử linh đạo Kitô Giáo, ý nghĩa và việc sử dụng hạn từ “giáo dân” thường có âm hưởng tiêu cực. Hạn từ này không luôn luôn được sử dụng chỉ để phân biệt một nhóm đặc thù trong Giáo Hội, mà thường đem theo nó các ý nghĩa ít hơn, thấp hơn, hạng nhì… Người ta hay cho rằng hàng ngũ giáo dân thiếu khả năng đạt tới sự viên mãn của cuộc sống thiêng liêng, hay thường bị loại khỏi mọi cuộc bàn luận về linh đạo. Việc xuất hiện của phong trào đan viện, việc thiếu giáo dục trong xã hội nói chung, và việc nhấn mạnh tới cấu trúc phẩm trật trong Giáo Hội, tất cả đều đã góp phần tạo nên trạng huống trong đó các trước tác về linh đạo gần như hầu hết chỉ dành cho các tu sĩ và giáo sĩ, khiến người ta có cảm tưởng: chỉ có hai lớp người này mới đáng làm đầu đề bàn luận khi nói về hành trình linh đạo mà thôi (17).



Vì cái thực tại lịch sử đầy sao lãng và xúc phạm ấy đối với hàng ngũ giáo dân, nên hiện nay, nhiều người nghĩ rằng cần phải có một nền linh đạo giáo dân riêng để sửa lại các lỗi lầm của quá khứ. Như trên đã nói, có người đề nghị thích ứng các nền linh đạo vốn dành cho các đan sĩ nam nữ (18) nhưng nhiều người nghĩ phải làm hơn thế nữa, ít nhất cũng suy nghĩ lại các nền tảng nhân học và thần học cho linh đạo. 



Lý do thứ hai thuộc lãnh vực văn hóa lịch sử: vì thời hậu Công Đồng Vatican II vốn được coi là “thời đại giáo dân”. Nền linh đạo cần phải được điều chỉnh để phù hợp với nền văn hóa và kinh nghiệm sống của người ta. Nếu cái hiểu của người ta về linh đạo bị tách biệt khỏi các sinh hoạt hàng ngày thì nền linh đạo ấy khó tồn tại được. Hậu quả chỉ có thể là trạng thái tâm thần phân liệt (schizophrenia) hay chí ít cũng là một sinh hoạt linh đạo đầy giả tạo. Có thể gọi đó là đời giả (pseudo-life) hay một điều gì đó được thêm vào “đời thực”. 



Bất kể khi nào một giáo hội, trong tư cách định chế, tự tách mình ra khỏi nền văn hóa mà nó vốn thuộc về, nó cũng sẽ thoái hóa, tự mặc lấy dáng dấp không thực (unreality) và cuối cùng không còn khả năng ăn nói có tình có lý với dân nữa. Khi đó, các phong trào giáo dân có nghĩa vụ phải tái nối kết kinh nghiệm tôn giáo với xã hội nói chung. Trong thế kỷ 14, một phần để chống lại phong trào kinh viện và việc chỉ dùng chữ La Tinh, người ta đã khởi sự trước tác bằng ngôn ngữ bình dân và dịch thuật các tác phẩm linh đạo sang các ngôn ngữ này để phục vụ cộng đồng giáo dân. Chống lại khuynh hướng dân chủ hóa này chính là Tòa Thẩm Vấn (Inquisition) và các ngăn cấm nhằm giữ cho Thánh Kinh và các tác phẩm linh đạo không lọt vào tay những “tên đần độn” và phụ nữ đầy cảm xúc (19). 



Trong tác phẩm gần đây, tựa là Unquiet Souls, Richard Kieckhefer cho rằng một số thiếu sót trong đời sống và trước tác của Margery Kempe (1373–1438) (20) có thể do việc bà cố gắng sống một cuộc sống linh đạo mà không cần đến sự hỗ trợ của cấu trúc đan viện. Phong trào devotio moderna (21) của thời Trung Cổ cũng là một điển hình khác. Cái nhìn lệch lạc muốn hoàn toàn nối kết sự thánh thiện với phong trào đan viện này sống rất dai: hàng ngũ giáo dân thành thị càng trở nên đạo đức bao nhiêu, nó càng mô phỏng lòng sùng mộ của đan viện bấy nhiêu, và đo đó, khó có thể phân biệt được đâu là não trạng giáo dân, đâu là não trạng giáo sĩ hay tu sĩ. Cái khó là làm thế nào hòa giải được lý tưởng đan viện với cuộc sống của giáo dân (22). 



Một đàng vì thiếu trí tưởng tượng sáng tạo một đàng vì sự chống đối của thẩm quyền, cả hai đã góp phần ngăn cản nền linh đạo giáo dân, không cho nó phát triển đầy đủ. Ngày nay, nơi nào, Giáo Hội vẫn còn đưa ra các quyết định và tuyên bố về ý nghĩa của thánh thiện mà không đại diện đầy đủ cho hàng ngũ giáo dân, không bao gồm tiếng nói và sự ủng hộ của họ, nơi ấy, ta vẫn còn đang phá hoại lời mời gọi mọi người nên thánh. 



Lý do thứ ba, và có lẽ là lý do nền tảng nhất, khiến ta cần một linh đạo riêng cho giáo dân là lịch sử tính của Kitô Giáo. Thiên Chúa của Cựu Ước và của Tân Ước là một Thiên Chúa đã chọn lịch sử làm diễn đàn để tự tỏ mình ra. Theo đề nghị của Rahner (Dòng Tên, 1904-1984) và của nhiều người khác, nếu phải trông chừng Lời Thiên Chúa xuất hiện, thì ta nên để ý tới các điều đặc thù của môi trường lịch sử. Ở Hoa Kỳ, đã có câu nói thường được nhiều người truyền tụng là: Kitô hữu một tay nên có Thánh Kinh, tay kia nên có tờ New York Times. Thế gian quả là diễn đàn để Thiên Chúa hành động. Edward Schillebeeckx (Dòng Đa Minh, 1914-2009) thì nói về một Thiên Chúa luôn mong cứu rỗi ta trong cái toàn vẹn tính của ta, trong chính cái thực tại lịch sử, hiện sinh của đời ta. Thành thử các kinh nghiệm nhân bản và cụ thể của ta chính là các thành tố chủ yếu trong cái hiểu của ta về cuộc sống thiêng liêng. Nếu đúng như thế, thì các điều đặc thù trong lối sống của ta, và do đó, trong kinh nghiệm hàng ngày của ta, đều là những yếu tố then chốt trong phương thức ta nói về linh đạo. 



Theo cái nhìn trên, lối sống quả đã trở thành quan yếu. Đấng Thiên Chúa được tôi khám phá, các hình ảnh được tôi sử dụng, và ngôn ngữ tôi chọn để mô tả kinh nghiệm, tất cả đều lệ thuộc các hoàn cảnh đặc thù của đời tôi. Lối sống trở thành hết sức ý nghĩa bất kể tôi độc thân, có gia đình, bất kể tôi có con, sống hợp đoàn hay sống đơn độc. Dù lớn lên trong nhân đức là một thành tố trong mọi hành trình hướng về Chúa, tính đặc thù lịch sử của việc cảm nhận được sự lớn lên này sẽ thay đổi từ người này qua người nọ tùy các thực tại cụ thể trong đời sống họ. Kinh nghiệm Kitô Giáo luôn được “tư hữu hóa” cách khác nhau bởi các cá nhân và các nhóm khác nhau, cho nên Giáo Hội chỉ có lợi khi bao hàm tất cả mọi chủ thể này vào trong cái hiểu của mình về sinh hoạt linh đạo. 



Cơ cấu phẩm trật của Giáo Hội cũng có thể cho thấy sự cần thiết phải có một nền linh đạo giáo dân. Vì khi nào cơ cấu phẩm trật được sử dụng để loại bỏ hay hạ giá bất cứ nhóm nào trong Giáo Hội, nhóm này đều cảm thấy nhu cầu phải nói lên cách sống thiêng liêng của mình để bảo tồn căn tính và khẳng định ý nghĩa của mình, chống lại nguy cơ bị kỳ thị. 



Cuối cùng, giáo dân thường không có cơ hội được giáo dục và phát triển về linh đạo. Phần lớn các chủng viện và các chương trình huấn luyện dành cho tu sĩ hiện nay bao gồm nhiều cơ hội để người ta lớn lên trong hành trình hướng về Chúa. Vì càng ngày càng có nhiều giáo dân nhận ra nhu cầu này và tìm cách gia tăng nhận thức về linh đạo, nên họ đã tham gia nhiều tổ chức như các nhóm học hỏi Thánh Kinh, các lớp thần học, các nhóm cầu nguyện, các chương trình học hỏi tại giáo xứ, các buổi tĩnh huấn. Trong các sinh hoạt ấy, điều người ta thường khám phá ra hơn cả là cộng đồng giáo dân quả có một nền linh đạo riêng biệt, cộng đồng này quả có phản ảnh tình yêu và nhân đức anh hùng và Thiên Chúa quả có kêu gọi mọi người đạt tới đỉnh cao yêu thương. Vấn đề là các thực tại này chưa được ta ý thức đầy đủ. 



Việc thiếu ý thức ấy phần lớn do các quan niệm hẹp hòi hoặc không thích đáng của ta về đời sống thiêng liêng. Dù truyền thống đem lại cho ta nhiều tài nguyên phong phú, nhưng ta cũng cần một nền thần học sáng tạo biết tích nhập kinh nghiệm giáo dân vào đời sống thiêng liêng của Giáo Hội. Ta nên hiểu ra sao về cầu nguyện, chiêm niệm, nhân đức và việc làm? Ta phải có thái độ nào đối với thân xác, tính dục, thế giới vật chất? Những thực tại ấy nên có dung mạo nào trong hành trình linh đạo? Tài nguyên quí giá nhất của ta trong lãnh vực này là kinh nghiệm của những giáo dân biết chú ý tới các phương cách Thiên Chúa dùng để hiện diện trong cuộc sống hàng ngày của họ. Ta cần đặt câu hỏi xem nguồn dự trữ này nên được mở vòi ở đâu và bằng cách nào: ở bình diện giáo xứ trong các quyết định về thờ phượng và thừa tác; ở bình diện giáo phận, giáo hội quốc gia và giáo hội hoàn cầu trong việc soạn thảo các tuyên bố mục vụ về các vấn đề từ chiến tranh hạch nhân tới kinh tế và địa vị phụ nữ; trong các cuộc gặp gỡ đủ loại từ hội đồng giáo xứ tới công đồng chung. Điều cần không phải chỉ là một tham khảo ngắn ngủi có tính ad hoc (nhất thời, đặc nhiệm), mà phải là một hợp tác hỗ tương thực sự và liên tiếp. 



Kết luận



Trên đây, ta đã duyệt qua các lý do ủng hộ và chống đối nhu cầu phải có một nền linh đạo riêng cho giáo dân. Giải đáp thứ ba có thể là: vào lúc này đây, ta cần một nền linh đạo riêng cho giáo dân, nhưng ta chờ mong đến ngày việc ấy không còn cần thiết nữa. Nền linh đạo giáo dân này hiện đang được chú trọng nhiều trong Giáo Hội Công Giáo qua rất nhiều cố gắng của các nhà thần học giáo dân, mà con số mỗi ngày một gia tăng trong Giáo Hội. Như vợ chồng James D. và Evelyn E. Whitehead, chẳng hạn, đã mạnh dạn thăm dò nền linh đạo hôn nhân trong tác phẩm “Marrying Well” do nhà Doubleday xuất bản năm 1983 mà chúng tôi có giới thiệu trên trang mạng Vietcatholic cuối năm 2007 đầu năm 2008 (23). Không những thế, huấn quyền cũng mỗi ngày một chú ý tới việc tổng hợp nền linh đạo giáo dân vào dòng sống chung của Giáo Hội hơn. Ngoài việc phong chân phúc cho vợ chồng Quattrocchi của Đức Gioan Phaolô II ra, ta thấy dịp Tuần Thánh năm nay, Đức Bênêđíctô XVI đã mời hai ông bà Danilo và Anna Maria Zanzucchi soạn các bài suy niệm cho các chặng đàng Thánh Giá tại Colosseum. Ông bà Zanzuchi có 5 người con, 12 đứa cháu nội ngoại, là đồng sáng lập viên và người hướng dẫn lâu đời của Phong Trào Gia Đình Mới Focolare, một Phong Trào nối vòng tay lớn với nhiều gia đình bị phân rẽ, ly dị hay bỏ rơi. Họ đưa bất trung hôn nhân và phá thai vào gánh nặng tội lỗi mà Chúa Giêsu từng phải gánh. Ngoài ra, bệnh tật, chết chóc, tài chánh khó khăn, nghèo khổ, phản bội, vô luân, bất hoà với thân nhân và thiên tai cũng được họ coi là các đau khổ Thánh Giá (24).



Tuy nhiên, dù chọn con đường nào, thì mục tiêu vẫn rõ ràng là: phải tôn trọng mọi chi thể của Nhiệm Thể Giáo Hội trong phẩm giá riêng là tạo vật Thiên Chúa của họ và phải khẳng định rằng lời mời gọi mọi người chia sẻ ‘sự viên mãn của mầu nhiệm Thiên Chúa’ là một lời mời phổ quát. Ta cần học hỏi lẫn nhau các cách thế Thiên Chúa hành động trong đời sống ta và tạo ra một ngôn ngữ và các quan niệm của ta về đời sống thiêng liêng có khả năng truyền đạt một cách cởi mở, kính trọng và hỗ tương. Thiên Chúa kêu gọi ai là tùy Người và Chúa Thánh Thần muốn thổi đâu là tùy ý Người, ta phải chấp nhận việc ấy. Sự thánh thiện không được phán định bằng chức vụ, phái tính hay giầu có, mà bằng hoa trái của nó. Tình yêu, công lý, hòa bình, hân hoan, nhẫn nại, các hoa trái này hiện diện trong những con người của mọi lối sống và ngành nghề. 



Chú thích



1. Lay People in the Church: A Study for a Theology of Laity (London: Geoffrey Chapman, 1959)
2. Edward Schillebeeckx, The Layman in the Church (New York: St. Paul Publications, 1963).
3. Preface, 1; Introduction, 11.
4. Xem Sắc Lệnh về Tông Đồ Giáo Dân, Ch.II, 6.
5. Nghiên cứu các văn kiện của Giáo Hội, ta thấy hạn từ này đã trở nên thông dụng và do đó khó có thể mất đi trong truyền thống Công Giáo. Xin xem Leonard Doohan, The Lay-Centered Church (Minneapolis, 1984), và John Paul II and the Laity (Cambridge, Mass., 1984).
6. Trích dẫn trong phần dẫn nhập của John Coulson, On Consulting the Faithful in Matters of Doctrine by John Henry Newman (New York: Sheed & Ward, 1961), p. 17.
7. Ibid., p. 41.
8. Worship 27 (1952-53): 279.
9. Ibid., p. 280.
10. Ibid., p. 282.
11. Một điển hình tương tự là phong trào duy nữ hiện nay. Trong suốt lịch sử, vẫn có những tài liệu nói tới phong trào đòi bình đẳng cho phụ nữ, nhưng các phong trào này không làm sao tiến sâu vào cấu trúc xã hội để biến sự bình đẳng này thành qui luật. Điều này cho thấy thói quen quả là khó thay đổi. 
12. Exposition of the Gospel of Luke, VII, 86. Sources chrétiennes 52, 1958, tr. 37.
13. Homilies on Ezechiel, I, 3, 9.
14. The Layman in the Church của Michael de la Bedoyère (Chicago: Henry Regnery Co., 1955) và We Are Men của John M. Todd (London: Sheed & Ward, 1955), giới thiệu bởi D.J.G., Worship 10 (Tháng 11, 1955): 591.
15. Lay People in the Church, p. xxx.
16. Phần này và phần sau dựa vào các ý kiến trong các cuộc hội thảo của các sinh viên cao học tại Đại Học Công Giáo và Washington Theological Union. 
17. Một điển hình rõ ràng nữa là danh sách các vị được phong hiển thánh. Căn cứ vào đó, người ta thấy có sự liên hệ qua lại giữa lối sống của những người ra quyết định sau cùng về tư cách thánh nhân và những người được coi là thánh thiện vượt bậc. Nam giới, giáo sĩ độc thân là những vị trổi vượt hơn mọi nhóm khác. 
18. Một trong các cố gắng tương đối thành công là cuốn của Dolores Lecky, The Ordinary Way (New York, 1982), trong đó, bà thích ứng các yếu tố của luật Biển Đức vào đời sống gia đình. 
19. Ciriaco Moron-Arroyo, "'I Will Give You A Living Book': Spiritual Currents At Work At the Time of St. Teresa of Jesus," Carmelite Studies: Centenary of St. Teresa, John Sullivan chủ biên (Washington, D.C.: ICS Publications, 1984), tr. 97.
20. Người nổi tiếng đã đọc cho người khác viết cuốn The Book of Margery Kempe, được coi là cuốn tự truyện đầu tiên của nền văn chương Anh. Cuốn này ghi lại ngày tháng các cuộc hành hương của bà tới các nơi thánh tại Âu Châu và Á Châu, cũng như các cuộc đàm đạo huyền nhiệm của bà với Thiên Chúa. Bà rất được Hiệp Thông Anh Giáo sùng mộ. 
21. Một phong trào tôn giáo thế kỷ 14 do Gerard Groote khởi xướng hàng đầu. Trong số những người khởi xướng khác, ta thấy có Thomas à Kempis, được coi là tác giả Sách Gương Phúc (The Imitation of Christ). Thoạt đầu, Groote chú tâm khám phá lại các thực hành đạo đức chân chính và tìm cách khuyên các giáo sĩ nguội lạnh hồi tâm, do đó, ông bị các giáo sĩ chống đối. Nhưng với thời gian, nhất là sau khi ông qua đời, sự chống đối này đã giảm dần. Hình thức đạo đức này phát triển mạnh trong hai thế kỷ 14 và 15, nhưng suy thoái dưới thời Cải Cách Thệ Phản. Tuy nhiên, các phương pháp “cầu nguyện theo phương pháp” do phong trào này khởi xướng và nhất là các kỹ thuật “tự phóng chiếu” (self-projection) theo hình ảnh Thánh Kinh (để dự phần vào cuộc đời Chúa Cứu Thế) thì vẫn tiếp tục ảnh hưởng mạnh mẽ trên các phương thức suy niệm Kitô giáo của thế kỷ 16 và sau đó. Các phương pháp này đã được Thánh Ignatius thành Loyola thích ứng trong tập Linh Thao, kim chỉ nam của các tu sĩ Dòng Tên hiện nay. 
22. Richard Kieckhefer, Unquiet Souls: Fourteenth Century Saints and Their Religious Milieu (Chicago: University of Chicago Press, 1984), tr. 195.
23. Vũ Văn An, Linh Đạo Hôn Nhân Hiện Đại, Vietcatholic, các ngày 4/12/07, 14/12/07/ 9/1/08, 22/1/08 và 17/2/08.
24. Vũ Văn An, Chặng Đàng Thánh Giá, Vietcatholic, ngày 5/4/12



Viết theo Elizabeth A. Dreyer, Spirituality Today, Mùa Thu, 1986, Bộ 38, các tr. 197-208. Tiến sĩ Dreyer là giáo sư thần học tại Washington Theological Union. Luận án tiến sĩ của bà viết về nền linh đạo của Thánh Bonaventura.