Thứ Hai, 1 tháng 11, 2010

Ý Nghĩa Của Tháng Các Linh Hồn

Ý NGHĨA CỦA THÁNG CÁC LINH HỒN
Tháng mười một vẫn được dành riêng cho các linh hồn. Người Công Giáo nói chung rất quan tâm đến những ai đã ra đi, mong rằng người thân quá cố của mình được chia sẻ hạnh phúc với Thiên Chúa tình yêu. Đây là một ước muốn rất đẹp, rất tình người.

Người Công Giáo được khuyến khích thực hiện những điều thiết thực, ví dụ như xin Lễ, đọc kinh cầu nguyện, làm việc lành phúc đức,… để “an ủi” những người đã ra đi mà còn đang vướng mắc một vài trở ngại nào đó khiến họ chưa hoàn toàn chia sẻ vinh quang và hạnh phúc với Chúa. Có một vài điều cần được lưu ý khi thực hiện những việc bác ái này.

Thứ nhất, việc xin Lễ không phải để “mua phần rỗi” cho những người đã qua đời. Thiên Chúa không cần tiền của con người. Vả lại, hãy nghe Chúa Giêsu “Nếu anh em vốn là những kẻ xấu mà còn biết cho con cái mình những của tốt lành, phương chi Cha anh em, Đấng ngự trên trời, lại không ban những của tốt lành cho những kẻ kêu xin người sao?” (Mt 7:11). Tấm lòng của Thiên Chúa bao la đến nỗi không ngôn từ nào có thể diễn tả hết được, làm sao lại có thể chịu thua tấm lòng của con người?! Những đóng góp vẫn được gọi là “xin Lễ” là một chia sẻ thiết thực để các Thừa tác viên trong Hội Thánh có phương tiện để mục vụ. Đó là một nghĩa cử rất đẹp, rất tình người vì nó diễn tả tình liên đới trong cộng đoàn con cái Chúa và cộng đồng nhân loại.

Thứ hai, “Luyện Ngục”, như cách dịch chữ purgatorium hay purgatories từ Tiếng La Tinh, không phải để chỉ một tình trạng đau khổ bị hành hạ đau đớn như có nhiều người vẫn tưởng. “Luyện Ngục” không phải là một nơi chốn của đau khổ, mà là một tình trạng chưa trọn vẹn kết hợp trong vinh quang và hạnh phúc với Thiên Chúa. Những người trong tình trạng này đã hưởng vinh quang và hạnh phúc của Thiên Chúa rồi, nhưng một cách nào đó vẫn chưa trọn vẹn vì một lý do bất toàn nào đó (ví dụ như: những việc làm tiêu cực của họ khi còn sống trên trần gian này đang để lại hay gây ra những hậu quả tiêu cực cho anh chị em). Họ sống trong vui mừng vì biết chắc chắn rằng họ sẽ kết hợp với Chúa trọn vẹn một lúc nào đó.

Thứ ba, về vấn đề “Hoả Ngục”, Giáo Hội Công Giáo chưa bao giờ khẳng định có một ai cụ thể đang ở trong Hoả ngục. Giáo Hội luôn cảnh giác và thúc giục con cái mình sống trong tinh thần tỉnh thức để lúc nào Chúa đến thì hân hoan chào đón Người để Người đem mình vào hạnh phúc viên mãn. Như vậy, luôn luôn có chỗ cho hy vọng, ngay cả đối với tội nhân xấu xa nhất. Và như thế, không ai có quyền lên án và kết luận về vận mệnh của người khác. Tiếng nói cuối cùng thuộc về Thiên Chúa, Đấng đã nói một cách rất rõ ràng nơi Đức Giêsu: “Ai trong các ngươi không có tội thì hãy giơ tay ném đá trước đi.” (Ga 8:7)

Cuối cùng, những ai quan tâm đến “luyện ngục” sẽ thắc mắc không biết ý nghĩa của Tháng Các Linh Hồn là gì. Những việc mình đang làm như xin Lễ, cầu nguyện, làm việc bái ái,… sẽ có lợi gì cho những người đã qua đời? Câu trả lời rất đơn giản nếu tất cả các việc trên được đặt trong chiều kích hiệp thông và nhập thể. Tất cả công trình tạo dựng của Thiên Chúa hiệp thông sâu xa trong Người. Đây chính là ý nghĩa rất đẹp, rất tuyệt vời của mối dây liên kết nhân loại mà Giáo hội vẫn gọi là “mầu nhiệm Các Thánh thông công”. Tất cả mọi người được nối kết và chia sẻ với nhau trong chính sự sống của Thiên Chúa nơi cuộc đời của mình và của anh chị em mình. Cho nên khi người này làm một việc tốt, đóng góp một hy sinh, tất cả mọi người trong cộng đồng hiệp thông ấy đều được chia sẻ. Chính Thiên Chúa đã đích thân khẳng định điều ấy qua Ngôi Lời nhập thể là Chúa Giêsu: “Mỗi lần các ngươi làm [điều tốt] cho một trong những anh chị em bé mọn nhất của Ta đây, là các ngươi đã làm cho chính ta vậy.”(Mt 25:40) Ngược lại, khi một ai đó trong cộng đồng hiệp thông ấy làm một việc gây tổn thương đến người khác, mọi người đều bị ảnh hưởng ít nhiều. Cho nên, việc làm thiết thực nhất cho những ai đã qua đời là giúp họ khôi phục lại những gì họ đã làm tổn thương, và giúp họ làm những gì họ chưa làm được khi còn sống ở đời này. Làm như thế ta sẽ giúp xoa dịu nỗi dằn vặt, nỗi trăn trở họ vẫn còn đang mang vác. Làm như thế ta sẽ giúp họ đi vào hạnh phúc với bình an trọn vẹn trong Thiên Chúa, Đấng đã dùng phương thế nhập thể để dạy con người về ý nghĩa của hiệp thông.
Lm Giuse Tuấn Việt, O.Carm
Nguồn: VietCatholic News

Thứ Sáu, 15 tháng 10, 2010

Thắc Mắc Về Hôn Nhân Tự Nhiên và Hôn Nhân Bí Tích


HÔN NHÂN TỰ NHIÊN và HÔN NHÂN BÍ TÍCH
Thưa cha, đối với người có đạo Công Giáo thì hôn nhân là một bí tích vì thế có tính bất khả phân ly. Còn với những người lương thì hôn nhân có bị ràng buộc gì không và khi họ đã li dị họ có thể kết hôn với người Công Giáo không ?
Con nhận thấy có nhiều người ngoại giáo bỏ vợ ( hoặc chồng) rồi theo đạo lại được phép lập gia đình với người Công Giáo như vậy người ta có thể trách đạo mình là phá vỡ hạnh phúc gia đình người khác. Xin cha cho biết ý kiến ? Cám ơn cha !
Phương Thanh ( Hóc Môn).
Trả lời:
Chị Thanh thân mến,
Hôn nhân là một định chế lâu đời nhất có từ khi con người biết kết ước với nhau để cùng nhau chung sống thành một cộng đồng. Vì thế mà hôn nhân không chỉ tồn tại hay có giá trị từ khi có Kitô Giáo mà theo Kinh Thánh, đã có từ lúc thuở Thiên Chúa tạo dựng con người. Như vậy hôn nhân là việc Thiên Chúa liên kết hai người nam và nữ để họ nên vợ nên chồng. Chúa Giêsu cũng đã tái khẳng định điều này khi tuyên bố : thuở ban đầu Đấng tạo hóa đã làm ra con người có nam có nữ…Vì thế người ta sẽ lìa bỏ cha mẹ mà gắn bó với vợ mình, và cả hai sẽ thành một xương một thịt….Vậy sự gì Thiên Chúa đã phối hợp ,loài người không được phân ly ( Mt 19, 5-6). Điều Chúa Giêsu nói không chỉ dành cho hôn nhân Công Giáo mà cho tất cả mọi cuộc hôn nhân. Như vậy tất cả các cuộc hôn nhân dù là hôn nhân ngoại giáo cũng đều mang những đặc tính chính yếu là đơn nhất tức là một vợ một chồng và bất khả phân ly như Công Đồng Tridentino đã định tín : “Mọi hôn nhân hợp pháp do luật tự nhiên và thiên định đều vĩnh viễn và bất khả phân ly”. Tức là hôn nhân của những người lương nếu không có ngăn trở theo luật tự nhiên và thiên luật thì được coi là thành sự.
Giáo Luật mới đã trình bày ở điều 1056 :
Những đặc tính chính yếu của hôn nhân là sự đơn nhất và bất khả phân ly…
Điều Giáo Luật này còn thêm :
…những đặc tính này có sự bền vững đặc biệt trong hôn nhân Kitô giáo vì có tính cách bí tích.
Như vậy, những đặc tính mà ta vừa nói trong hôn nhân Kitô giáo được củng cố bền vững nhờ tính bí tích chứ không phải là đặc tính riêng của hôn nhân Công Giáo và các cuộc hôn nhân khác dù là hôn nhân tự nhiên cũng bị ràng buộc bởi những đặc tính đơn nhất và bất khả phân ly nên người ta không có quyền tự do li hôn hoặc hoặc tự do quan hệ ngoài hôn nhân.
Thiết tưởng cũng phải lưu ý thêm rằng hôn nhân ngoài Kitô giáo dù không phải là bí tích cũng mang tính thánh thiêng vì đã được Thiên Chúa chúc lành từ ban đầu ( Sáng thế 1, 28). Những hôn nhân này được gọi là hôn nhân tự nhiên.
Một người ngoại giáo dù đã li dị về mặt dân sự thì giây ràng buộc hôn nhân tự nhiên vẫn tồn tại nên không thể kết hôn thành sự với người Công Giáo được.
Khi người ngoại trở lại đạo thì thánh Phaolô cũng như Giáo Hội không khuyên họ bỏ vợ hay bỏ chồng mà phải tiếp tục chung sống với người bạn đời sau khi rửa tội và giúp người này nhận biết Chúa nếu người này không muốn bỏ họ.
“Thiên Chúa đã kêu gọi anh em sống bình an với nhau ! Chị là vợ, biết đâu chị chẳng cứu được chồng ? Hay anh là chồng, biết đâu anh chẳng cứu được vợ”.(1Co 7, 16).
Nếu chủ tâm ly dị người bạn đời để tái hôn, người tân tòng cố tình vi phạm lệnh của Chúa và không được tái hôn trong Giáo hội. Người Công giáo nào cố tình làm phân rẽ đôi vợ chồng này, là phạm tội phá hoại gia cang người khác và cố tình vi phạm lệnh của Chúa.
Còn trường hợp bên không rửa tội tự ý chia tay thì theo Thánh Phaolô, người tân tòng sẽ không bị ràng buộc nữa và nếu người tân tòng không thể sống độc thân được họ có thể xin đặc ân thánh Phaolô để tái kết hôn nhưng cần có những điều kiện để có thể hưởng đặc ân này. Đây là một đặc ân phải xin và nếu đủ điều kiện mới đựơc ban chứ không phải là quyền tái hôn của người tân tòng.
- Để người tân tòng được hưởng đặc ân Thánh Phaolô thì việc người bạn đời ngoại đạo tự ý chia tay là yếu tố quyết định, bắt buộc phải có, ( X. Giáo Luật 1143). Người không chịu phép rửa tội được kể là chia tay nếu không muốn sống chung với người tân tòng hay không muốn sống chung hoà thuận mà không xúc phạm đến Đấng Tạo Hoá.
- Điều kiện tiếp theo là chất vấn người không chịu phép rửa tội để biết :
1/ người này có muốn được rửa tội hay không;
2/ người này có muốn tiếp tục chung sống hòa thuận mà không xúc phạm đến Thiên Chúa không (x. Giáo Luật 1144);
Nếu người ngoại giáo trả lời đồng ý một trong hai câu hỏi trên thì đặc ân Thánh Phaolô không thể được ban cấp và người tân tòng không thể tái hôn.
Qua những điều trình bày ở trên chị cũng đã nhận thấy rằng việc người ngoại bỏ vợ hay chồng rồi theo đạo để kết hôn với người Công Giáo không phải là điều được Giáo Hội chấp nhận mà chỉ trong những trường hợp đã chia tay dứt khoát không còn cứu vãn được thì mới ban đặc ân này vì lợi ích đức tin của người tân tòng.
Có lẽ vì không thật sự biết rõ những trường hợp người tân tòng được tái hôn nên đã có những ngộ nhận như thắc mắc chị đã nêu lên.




Lm. Giuse Nguyễn Ngọc Bích DCCT

Thứ Tư, 22 tháng 9, 2010

Thắc Mắc Về Tiêu Hôn

THẮC MẮC VỀ TIÊU HÔN TRONG GIÁO HỘI
Kính chào Cha Giuse Nguyễn Ngọc Bích, DCCT,
Con tên là Ngọc Hiệp.
Con có câu hỏi về bí tich hôn nhân. Trong phần trả lời của Cha về câu hỏi hôn nhân hỗn hợp( giữa một người Công Giáo và một người đã rửa tội ngoài Công Giáo) và hôn nhân khác đạo( giữa một người Công Giáo và một người lương) Cha có trả lời như sau:
- Hôn nhân hỗn hợp, vì là bí tích, nên không thể tháo gỡ.Trong khi hôn nhân khác đạo có phép chuẩn là hôn nhân tự nhiên nên có thể được tháo gỡ nhờ đặc ân Thánh Phaolô vì lợi ích đức tin.
Nhưng theo con được biết thì hôn nhân bí tích có thể gỡ được.Con xin gửi file đính kèm (attachment).
Rất mong nhận được hồi âm trả lời của Cha về những câu hỏi đáp trong phần attachment.
Trả lời:
Ngọc Hiệp thân mến.
Tơi đã nhận được file đính kèm gồm những câu hỏi đáp về vấn đề tiêu hôn và tôi chỉ trích dẫn ra đây hai câu cần thiết để trình bày vấn đề mà Ngọc Hiệp thắc mắc.
( Trích dẫn file đính kèm) What is an Annulment?
An annulment in the Catholic Church is a declaration by the Church that a valid marriage did not exist between a couple, even though there was both a legal marriage in accord with state law and, to initial appearances, what seemed like a valid marriage. Technically, an annulment is a declaration of invalidity in the Catholic Church.
How can the Church declare marriages null if marriage is indissoluble?
An annulment does not dissolve a marriage. A Declaration of Invalidity means that a particular marriage did not constitute a permanent bond between the parties.
Chúng ta biết là tại các Giáo Phận có toà án hôn phối để giải quyết tình trạng hôn nhân của những thể nhân trong các vụ kiện hôn phối. Có những cuộc hôn nhân sau khi xét xử được tuyên bố là bất thành và những người liên hệ được thong dong kết hôn sau đó.
Việc tiêu hôn ( annulment) như được định nghĩa trong tài liệu là việc tuyên bố bởi Giáo Hội rằng hôn nhân thành sự đã không hề có giữa hai người dù cuộc hôn nhân của họ vẫn hợp pháp theo luật dân sự, và bề ngoài ban đầu xem ra là một hôn phối thành sự theo giáo luật. Theo nghĩa chuyên môn, tiêu hôn là sự tuyên bố hôn nhân vô hiệu trong Giáo Hội Công Giáo.
Hôn nhân được tuyên bố bất thành không dựa vào tình trạng xảy ra sau khi kết hôn mà là trước hoặc trong khi kết hôn đã thiếu những yếu tố để hôn nhân thành sự bao gồm :
1. Những ngăn trở tiêu hôn như chưa đủ tuổi,bất lực, đã kết hôn, khác đạo, có chức thánh, đã khấn trọn đời trong dòng tu, bắt cóc, giết người phối ngẫu, họ máu hàng dọc hay hàng ngang 4 bậc, họ kết bạn, công hạnh, họ pháp lý ( xem Giáo Luật từ 1083-1094).
2. Thiếu sự ưng thuận vì không đủ trí khôn, thiếu phán đoán nghiêm trọng về nghĩa vụ và quyền lợi trong hôn nhân,vì nguyên nhân tâm lý không thể đảm nhận những nghĩa vụ trong hôn nhân. Ngoài ra còn một số yếu tố ảnh hưởng đến sự ưng thuận như thiếu hiểu biết, lầm lẫn, bị lừa gạt, giả vờ ưng thuận, ưng thuận có điều kiện về tương lai, sợ hãi, bạo lực… Tùy theo mức độ nghiêm trọng mà tòa án ra phán quyết ( x. giáo Luật từ 1095-1107).
3. Thiếu thể thức giáo luật vì vị chứng hôn không có thẩm quyền, chứng hôn ngoài địa hạt của mình, thiếu nhân chứng… (x. giáo Luật từ 1108-1123)
Tất cả những yếu tố này phải do tòa án hôn phối thâu thập dữ kiện, cân nhắc, xét xử và đưa ra phán quyết.
Như vậy, theo như tài liệu đã trình bày, việc tiêu hôn không tháo gỡ (dissolve) mà chỉ tuyên bố tính bất thành hiệu của hôn nhân vì đã không tạo nên một dây liên kết vĩnh viễn cho các bên kết ước
An annulment does not dissolve a marriage. A Declaration of invalidity means that a particular marriage did not constitute a permanent bond between the parties.
Vì thế, một khi hôn nhân Kitô giáo đã thành sự rồi thì mang tính bí tích và không thể tháo gỡ như đã được qui định trong điều giáo luật 1141 :
Hôn nhân thành nhận và hồn hợp không thể được tháo gỡ do bất cứ quyền bính nhân loại nào và vì bất cứ lý do nào, trừ lý do tử vong.
Hi vọng câu trả lời làm cho Ngọc Hiệp hiểu rõ hơn tính bất khả phân ly của hôn nhân bí tích.


Lm. Giuse Nguyễn Ngọc Bích DCCT

Thứ Ba, 24 tháng 8, 2010

Cha Hoàng Cẩn Về Quản Xứ Đốc Sơ


Chủ nhật, 22 Tháng 8 2010 18:14
In
Sáng 20.8.2010, cơn mưa nặng hạt làm người dân Thành phố Huế ngại ra đường, nhưng ở Đốc Sơ, giáo dân tề tựu đông đảo trong các lớp giáo lý, hai hàng hiên Nhà thờ, nô nức đón mừng cha Tân Quản xứ.
8 giờ, trời bỗng ngừng mưa. Đức Tổng Giám Mục đưa cha Giuse Hoàng Cẩn đến nhậm chức Tân Quản xứ Đốc Sơ. Hai ngài được các thành viên Hội đồng Giáo xứ đón mừng tại cửa chính, dâng hoa và rước lên Cung thánh, trong tiếng đàn ca hân hoan của cộng đoàn. Đức Tổng hân hạnh giới thiệu cha Tân Quản xứ với mọi người và cất cao lời kinh Cầu xin Chúa Thánh Thần.
Dù thời tiết không thuận tiện, các giáo hữu ở Truồi, nơi cha Giuse vừa chấm dứt nhiệm vụ, các chủng sinh và giáo dân gốc Thuận Nhơn, nơi ngài đã thi hành nhiệm vụ mục tử trước đây trong vòng 27 năm, và 30 linh mục trong Giáo phận về tham dự Lễ Nhậm Chức của cha Giuse. Mọi người đều chăm chú tham dự diễn tiến nghi lễ Nhậm Chức theo lời dẫn lễ của chaGiô-gi-ô Nguyễn Thành Phương, và lắng nghe lời giảng dạy trầm ấm chứa chan tình cảm và sâu lắng thần học tu đức của Đức Tổng Giám Mục.
Vị Đại diện Giáo xứ cho biết Giáo sở Đốc Sơ gồm Giáo xứ Đốc sơ, hai giáo họ Tri Lễ và Triều Sơn Trung, tổng cộng khoảng 1000 giáo dân, tham gia vào các đoàn thể khác nhau. Tất cả đều vui mừng và nguyện vâng lời và cộng tác với cha Sở mới để xây dựng Giáo sở ngày càng phát triển.
Đức Tổng cũng như cha Tân Quản xứ đều ca ngợi nét văn hóa cao quý của ngôi Nhà thờ, vì đây là một trong vài ngôi Nhà thờ quý hiếm còn tồn tại trên đất Thần Kinh với lối kiến trúc cổ của dân tộc Việt Nam.
Giáo xứ Đốc Sơ chuẩn bị thật chu đáo. Ngoài cờ phướn biểu ngữ treo trong khuôn viên, tất cả đèn Nhà thờ được bật sáng, mọi quạt trần đều mở hết công suất, âm thanh tốt hảo, hoa mới và nến mới chưng bày rất mỹ thuật. Tuy lòng thương nhớ cha cựu không thể chóng vơi, nhưng các chuẩn bị chu đáo đó nói lên đức tin thâm sâu và lòng tôn kính đối với sự chăm sóc quan phòng của Chúa qua tiếng nói của Đấng Chủ Chăn Giáo phận.
Thiên Phước
Nguồn: http://tonggiaophanhue.net

Thứ Hai, 9 tháng 8, 2010

Cáo Phó: Quỳnh Trâm, Thiên Ân, Thiên An

Nếu chúng ta tin rằng Đức Giêsu đã chết và đã sống lại,
thì chúng ta cũng tin rằng những người đã an giấc trong Đức Giêsu,
cũng sẽ được Thiên Chúa đưa về cùng Đức Giêsu (1Tx 4,14)

Trong niềm tin vào Chúa Kitô Phục Sinh

Đại gia đình Nguyễn Tộc - An Du Bắc thương tiếc báo tin:

Anna Hoàng Thị Quỳnh Trâm (con Ông Thương)
Giacôbê Lê Hoàng Thiên Ân (con Bà Thu)
Phêrô Lê Hoàng Thiên An (con Bà Nhớ)

là cháu nội ngoại của Bà Năm - Ông Ngọc, hiện ở tại Đà Lạt, thuộc chi Bà Nghị - Ông Liệu

đã được Chúa gọi về lúc 14 giờ chiều 8.8. 2010, tại bãi biển Đồi Dương, Phan Thiết, Bình Thuận.

Thánh lễ an táng sẽ được cử hành vào ngày thứ năm, 12.08.2010, tại giáo xứ Tạo Tác, Đà Lạt.

Xin quý bà con trong Đại gia đình Nguyễn Tộc hiệp dâng lời cầu nguyện
xin Thiên Chúa đưa linh hồn các cháu về hưởng hạnh phúc với Ngài trên thiên đàng.

Thành Hôn: Linh Như - Quốc Bình

Đại gia đình NGUYỄN TỘC
chúc mừng lễ thành hôn
của Hoàng Linh Như và Vũ Quốc Bình
(Linh Như là cháu nội Bà Tri - Ông Đức)


Thứ Năm, 15 tháng 7, 2010

Cha Mẹ: Chủ Chăn - Mục Tử Đầu Tiên Của Con

Ngày 03/05/2010, Cha Mẹ được Chúa giao phó cho một con chiên bé bỏng là An Thiên. Dù Cha Mẹ không xin Chúa, nhưng khi Chúa trao phó, Cha Mẹ và anh chị con rất hoan hỷ chờ đón con chào đời, và ngày ấy đã đến…

Cha Mẹ cũng hình dung và cảm nhận được những khó khăn thử thách mà Cha Mẹ phải đối diện, những lao tâm khổ tứ mà Cha Mẹ phải vất vả lo toan cho chiên con yêu dấu của mình. Hẳn con không biết là khi nhìn thấy con lần đầu tiên, Cha-Mẹ đã vui mừng và sung sướng như thế nào đâu. Làm sao có thể diễn tả niềm vui sướng lẫn trách nhiệm được tái cộng tác vào công trình kỳ diệu của Thiên chúa.

Cha Mẹ cảm nhận sự mệt mỏi, vất vả của mình càng tăng theo mỗi ngày con dần lớn lên. Ngôn ngữ của con bây giờ là: A,a,a…Cha-Mẹ đã phải lắng nghe và cố hiểu xem con muốn nói điều gì? Có phải con tè ướt tã? hay con ị ra tã? hay con bị đau bụng? v,v,…Cha Mẹ đã phải kiểm tra, tìm hiểu bằng con tim yêu thương không điều kiện, không giới hạn mà Chúa đã trao ban cùng lúc khi Ngài trao phó con cho Cha-Mẹ. Đó là công cụ duy nhất để Cha-Mẹ dò hiểu con, làm cho con yên giấc, làm cho con cảm thấy được bao bọc, chở che, an toàn trước mọi nguy biến. Đó là trách nhiệm, là bổn phận mà Cha Mẹ đã lãnh nhận nơi Chúa.

Hôm nay 10/6/2010, con đã được 38 ngày, cũng có nghĩa là 38 đêm Cha Mẹ mất ngủ vì con. Thường ban ngày con ngủ, chỉ thức khi tắm, đến khuya có khi 11giờ hoặc 11giờ 30, con lại cất tiếng A,a,a. Cha Mẹ bật dậy, bồng con lên ngay như để nói với con rằng: Cha Mẹ đây! Con liền nín được một lúc, rồi con lại : A,a.. Cha Mẹ phải thay đổi cách bồng ẵm, để con được thoải mái. Được một lúc cũng A,a… Hết Mẹ bồng, đến Cha ẵm, rồi lại đến Mẹ ẵm, Cha bồng. Khi thấy con đã ngủ, Cha-Mẹ mừng quá đặt con nằm xuống. Vừa nằm xuống, con như biết liền mình đã rời khỏi vòng tay của Cha Mẹ, con liền cất tiếng A,a…Thế là phải bồng bế con lên, kẻo phiền hàng xóm đang yên giấc. Và cứ như vậy, từ tầm 23 giờ30 cho đến 5giờ 30 sáng hôm sau, mới đặt con xuống được. Dẫu vô cùng mệt mỏi, Cha Mẹ cũng không cáu gắt với con, mà cương quyết chiến đấu với mỏi mệt tới cùng. Chưa hết, đến khoảng 6giờ 30 hơn phải bồng con đi tắm nắng để con khỏi bị bệnh vàng da, để cho con hấp thu vitamin D, khoảng 20 phút đến 30 phút, tuỳ theo nắng gắt hay nắng nhẹ. Đến lúc này thì chân Cha đi không vững lắm vì thiếu ngủ, nhưng Cha không có quyền vấp ngã khi đang bồng bế con trên tay. Có khi tắm nắng về, con ngủ lăn lóc đến chiều, thì Mẹ được nghỉ ngơi đôi chút, vì cứ khoảng hơn một tiếng Mẹ bồng con dậy cho bú, dù đang ngủ con vẫn bú… Cha phải lo cơm nước cho cả nhà, lo làm đồ cho khách, hai lần trong tuần đưa anh chị con đi học giáo lý và còn nhiều công việc không tên khác nữa mà Cha không thể kể hết. Có khi tắm nắng về con không chịu ngủ hay cũng chẳng chịu nằm yên chơi, mà con lại A,a…Cha Mẹ không biết con muốn gì. Lại dò xem có phải con muốn đi ra ngoài nữa phải không? Thế là bồng đi ra ngoài thử, thấy con yên lặng một hồi, rồi lim dim ngủ. Bồng con đi lòng vòng quanh khu phố gần nhà, mà đôi mắt của Cha Mẹ (có khi thì Cha, có khi thì Mẹ) thâm quầng trĩu nặng, tay chân rã rời vì nhiều đêm mất ngủ.Và đã nhiều sáng hôm sau phải như vậy. Cứ ngày lại đêm như thế đã 38 ngày trôi qua và sẽ còn như thế chưa biết đến bao giờ. Nhưng có một điều Cha Mẹ có thể khẳng định dứt khoát là dẫu bao nhiêu ngày, tháng, năm đi nữa Cha-Mẹ cũng không bỏ cuộc, không buông xuôi hay để mặc con khóc la, gào thét,…vì Tình Yêu của Chúa luôn cận kề thúc sau lưng Cha Mẹ.

Trong những đêm tĩnh lặng vừa qua, phải bồng bế làm sao cho con yên giấc, Cha chợt nhớ đến một người Cha. Vâng, cũng có một người Cha đã “bị bệnh mất ngủ” vì đàn con hơn hai năm như thế. Điều này làm Cha thấm thía và cũng thấy ấm lòng. Vậy là Cha đã hiểu tường tận thế nào là “bệnh mất ngủ” vì con chiên hay chiên con - cũng vậy thôi.

Bà nội con kể rằng: khi xưa, Cha chào đời Cha cũng khóc như con bây giờ. Quá mỏi mệt vì mất ngủ, bà nội đã cáu gắt với Cha, bà Cố nghe được liền lên tiếng. Còn Cha Mẹ bây giờ, vì khám phá ra có một Tình Yêu lấp lánh trong suốt như pha lê nên Cha Mẹ muốn truyền và chuyển giao cho con. Đó là Tình Yêu của Chúa Giêsu, vị Chủ chăn, vị Mục tử tối cao đích thực của chúng ta. Chính Tình Yêu của Chúa Giêsu đã làm cho Cha Mẹ không cáu gắt vì mất ngủ, không bỏ mặc buông xuôi mà chiến đấu cho tới cùng. Cho nên con khôn lớn không chỉ nhờ sữa Mẹ, mà còn nhờ Tình yêu của Giêsu thông qua Cha Mẹ.

Cha Mẹ nghĩ rằng cái cảm nghiệm mà Cha Mẹ đã ngang qua này, rất có ý nghĩa cho con trong tương lai. Vì thế Cha phải ghi lại ngay, vì Cha con đã có tuổi rồi. Nếu sau này con phải làm Cha như Cha-Mẹ bây giờ, thì con cũng biết đối xử với con của con như Cha-Mẹ đã hành xử với con bây giờ. Ví như, con được Chúa chọn ra và cất nhắc lên hàng Linh Mục hay Giám Mục để chăm sóc đàn chiên của Chúa, thì con phải nhớ rằng: Khi xưa Cha-Mẹ là Chủ chăn-Mục tử đầu tiên của con đã không hề cáu gắt, dù quá mỏi mệt vì mất ngủ. Dù tiếng nói của con chỉ là: A,a…Cha Mẹ đã phải cố dò hiểu, để làm cho con yên giấc. Dù chân đi không vững, vẫn cố bồng bế con đi tắm nắng, đi dạo như thế nào, thì bây giờ con cũng phải làm như vậy để dân Chúa yên lòng mà nhận ra con là dấu chỉ Tình Yêu của Chúa Giêsu đang hiện diện nơi đàn chiên, con nhé!


Gò Vấp, ngày 10/6/2010 – 4:46PM
Cha Mẹ của con – Chủ chăn-Mục tử đầu tiên của con
Thanh-Phấn

Phêrô Nguyễn Tấn Thanh