Thứ Bảy, 25 tháng 12, 2010

Sứ Điệp Giáng Sinh Của Đức Thánh Cha


Sứ điệp Giáng Sinh của Đức Thánh Cha qua đài BBC
VietCatholic News (24 Dec 2010 11:21)
VATICAN - Hôm 24-12-2010, ĐTC Biển Đức 16 đã gửi sứ điệp qua đài BBC và mời gọi mọi người hãy loan Tin Vui giải thoát của Thiên Chúa cho những người xung quanh.

Trong sứ điệp được truyền đi qua mục “Tư tưởng cho ngày” (Though for the Day) của đài phát thanh BBC 4 lúc 7.45 phút sáng, ngày 24-12-2010, ĐTC nhắc đến cuộc viếng thăm 4 ngày của ngài hồi tháng 9 năm nay tại Vương quốc Anh và ngài gửi lời chào, lời cầu chúc tới các thích giả ở khắp nơi trong lúc chuẩn bị cử hành lễ Giáng Sinh của Chúa Kitô.

Ngài nhận xét rằng thời Chúa Giêsu, ”người ta mong đợi Đấng Messia mà Thiên Chúa đã hứa sai đến, và họ mô tả Người như một đại lãnh tụ sẽ giải thoát họ khỏi ách thống trị của ngoại bang và tái lập tự do cho họ.”

”Thiên Chúa luôn trung tín với lời hứa, nhưng nhiều khi Ngài làm cho chúng ta ngạc nhiên về cách thức chu toàn lời hứa ấy. Hài nhi sinh ra tại Bethlehem đã mang lại sự giải thoát, không những cho những người thời ấy và tại miền ấy, nhưng Ngài còn là Đấng Cứu Độ tất cả mọi người, mọi nơi và mọi thời trong lịch sử. Cuộc giải thoát mà Chúa mang đến không có tính chất chính trị, được thực hiện bằng những biện pháp quân sự: trái lại, Chúa Kitô đã vĩnh viễn tiêu diệt sự chết và canh tân sự sống bằng cái chết ô nhục của Ngài trên thập giá.”

”Mặc dù sinh ra trong cảnh nghèo và âm thầm, xa những trung tâm quyền lực của trần thế, nhưng Người chính là Con Thiên Chúa. Vì yêu thương chúng ta, Người đã mang lấy thân phận phàm nhân, sự mong manh, dễ bị tổn thương của chúngta, và đã mở cho chúng ta con đường dẫn đến cuộc sống sung mãn, đến sự tham dự vào chính đời sống của Thiên Chúa”.

Và ĐTC nhắn nhủ các thính giả rằng: ”Trong khi suy niệm mầu nhiệm cao cả ấy trong lễ Giáng Sinh, chúng ta hãy cảm tạ Thiên Chúa vì lòng từ nhân của ngài đối với chúng ta và hãy vui mừng loan truyền cho những người xung quanh, Tin Vui rằng Thiên Chúa trao tặng chúng ta tự do, khỏi tất cả những gì đè nén chúng ta: Ngài ban cho chúng ta hy vọng, sự sống”.

”Các bạn thân mến ở xứ Scotland, Anh và Wales, cũng như ở các nơi trong thế giới nói tiếng Anh, tôi muốn các bạn biết rằng tôi nghĩ đến tất cả các bạn trong kinh nguyện mùa thánh thiêng này. Tôi cầu nguyện cho gia đình, con cái của các bạn, cho các bệnh nhân, cho tất cả những người đang chịu đau khổ vì bất kỳ khó khăn nào thời nay. Tôi đặc biệt cầu nguyện cho những người già và những người đang sắp kết thúc cuộc sống của mình. Tôi cầu xin Chúa Kitô, Ánh sáng muôn dân, đẩy xa mọi đen tối ra khỏi cuộc sống các bạn và ban cho mỗi người trong các bạn ân phúc một lễ Giáng Sinh an bình và vui trơi. Xin Chúa chúc lành cho tất cả các bạn” (SD 23-12-2010)
LM Trần Đức Anh OP
Nguồn: vietcatholic.org

Thư Thiếu Nhi Gởi Chúa Hài Đồng

CHÚA ƠI, CHÚA THẤY THẾ NÀO?
(Thư gửi Chúa Hài Đồng của một em thiếu nhi 8 tuổi)

Bố con bảo là năm nay Chúa đã 2010 tuổi rồi, nên chắc Chúa rất bận vì có nhiều việc phải làm, nhưng bố nói con cứ viết thư cho Chúa. Con mong Chúa cố dành ít thời gian đọc thư của con nhe.
Con hỏi mẹ : “ Chúa nói tiếng gì ? ”, mẹ trả lời tiếng Do Thái .Con không biết tiếng Do Thái, con chỉ biết tiếng Việt thôi, nên Chúa ráng đọc tiếng Việt nhe, chắc không khó lắm đâu Chúa ạ.
Con chỉ viết cho Chúa những gì con được nhìn thấy, được nghe thấy theo suy nghĩ của con thôi.
Con là thiếu nhi lớp Chiên Non giáo xứ Bình An Thượng; giáo hạt Bình An; ở khu hang đá đường Phạm Thế Hiển, quận 8, Sài Gòn.
Con rất vui vì được thấy các bác, các chú, các anh chị và các hội đoàn, khu họ … trong các giáo xứ đã chuẩn bị trang trí hang đá để đón Chúa rất sớm, ngay từ những ngày giữa tháng 11.
Con nghĩ là Chúa sẽ rất vui.
Con thật cảm động vì biết rằng để làm một hang đá là bao nhiêu công sức của rất nhiều người. Nhìn thấy các giọt mồ hôi của các bác, các chú …chảy dài giữa trưa nắng để hoàn thành các hang đá đẹp cho chúng con chiêm ngưỡng, con mới thấy các hang đá đẹp làm sao, đẹp không chỉ ở ánh đèn màu nhấp nháy, các ngôi sao lấp lánh, thác nước đổ từ cao xuống… mà còn đẹp ở những giọt mồ hôi, những nụ cười hy sinh…
Chúa có thấy vậy không, Chúa ơi ?
Con thật vui vì thấy rằng không khí thật nhộn nhịp, những ngày này mọi người như càng xích lại gần nhau hơn: Các hội đoàn tập hát, tập văn nghệ, các khu họ lo việc trang trí hang đá … mọi người như vui hơn, như gần hơn …
Chúa có thấy vui không, Chúa ơi ?
Con cũng thấy Cha xứ và các vị trong hội đồng giáo xứ, đã âm thầm lo lắng nhiều việc: Ngồi tòa giải tội, nhắc mọi người chuẩn bị tâm hồn đón Chúa, chuẩn bị chương trình văn nghệ, lễ đêm, lo quà cho người nghèo, cho thiếu nhi chúng con …con biết là Cha và các vị, rất mệt, nhưng có lẽ cũng rất vui.
Chúa có nghĩ giống con không, Chúa ơi ?
Con không thể kể hết cho Chúa, nhưng cha xứ luôn dạy chúng con biết rằng là có rất nhiều người hy sinh thầm lặng, những quí vị ân nhân xa gần đã đóng góp để chúng con có được những ngày vui này.
Xin Chúa trả công bội hậu cho họ, Chúa nhe!
Con cũng cảm ơn Chúa đã cho chúng con một cung đường đẹp và thẳng dài – đường Phạm Thế Hiển với năm giáo xứ liên tiếp : Gx. Bình Thái, Gx. Bình An, Gx. Bình An Thượng, Gx. Bình Thuận và Gx. Bình Sơn để trang trí Giáng sinh, giới thiệu Chúa với mọi người. Mỗi giáo xứ đều đẹp với những sắc nét riêng của mình.
Con cũng rất vui vì biết rằng các bạn thiếu nhi khác trên các xứ đạo khắp nơi, cũng đón Chúa với nhiều niềm vui, theo truyền thống tại giáo xứ mình.
Nhưng con cũng có vài nỗi buồn Chúa ạ.
Bên cạnh những cố gắng của mọi người để tạo nên vẻ đẹp, con buồn vì thấy một số các anh chị lớn tập trung xe trên cầu Bà Tàng (cầu Đỏ), để đua xe. Các anh chị làm chúng con phát khiếp vì phóng xe bạt mạng, gây hoảng loạn cho người đi đường, đôi khi chúng con phải nhảy nhanh vào lề đường để tránh cuộc đua “ rất đáng ghét “ của các anh chị này.
Những tai nạn thương tâm đã xảy ra làm bao nhiêu gia đình phải đau khổ, nhưng có lẽ không đủ làm cho các anh chị này phải bận tâm.
Con nghĩ là Chúa cũng rất buồn vì việc này.
Con thấy một số ít khách tham quan dừng xe ngay giữa đường để chụp hình, xem hang đá … gây cản trở giao thông cho mọi người. Ngoài ra, cũng có người khi chụp hình, còn ngồi cả vào nơi Chúa nằm. Con thấy Thánh Giuse hiền thật, sẵn gậy trong tay mà Ngài không quật cho một cái cho biết (hi hi).
Chắc Chúa cũng không thích việc này ?
Khi quan sát, con cũng thấy một số ít người bán hàng rong cố bày biện hàng hóa ra lề đường, choáng hết cả lối đi của người đi bộ. Dù rằng, bác của con giải thích cho con, đó là kế sinh nhai của họ.
Xin Chúa giúp họ bán buôn thuận lợi và biết để mắt đến những người xung quanh.
Chúa ơi, vậy là con đã kể cho Chúa về khu hang đá quận 8 của chúng con. Chúng con rất mong Chúa ghé thăm dù có bị kẹt xe.
Con không biết địa chỉ của Chúa nên không ghi vào phong bì được. Bác con bảo là sẽ giúp con gửi qua Internet.
Con kính chúc Chúa và mọi người một giáng sinh an lành!

Chiên con 8 tuổi của Chúa

Gx Bình An Thượng

Giáo Hạt Bình An – Quận 8.

TB: Con cảm ơn bác con vì đã hướng dẫn con viết thư này
Nguồn: dunglac.org

Thứ Sáu, 24 tháng 12, 2010

Bài Hát "Nửa Đêm Mừng Chúa Ra Đời"


Về một bản thánh ca Giáng Sinh ''Nửa đêm mừng Chúa ra đời''
Cho đến nay thời điểm xuất hiện của nền tân nhạc Việt Nam vẫn còn chưa được giới nghiên cứu lịch sử âm nhạc xác định một cách rõ rệt. Có người cho rằng nguồn gốc ấy bắt nguồn từ bản vọng cổ nổi tiếng có tên Dạ Cổ Hoài Lang của ông Sáu Lầu viết từ năm 1916. Theo cố nhạc sĩ Lê Thương chủ trương - năm chính thức xuất hiện của phong trào âm nhạc mới là tháng 3-1938 khi nhạc sĩ Nguyễn Văn Tuyên từ Sài Gòn ra hô hào tại đất Bắc qua việc ông được Thống đốc Nam Kỳ thời đó là Rivoal trợ cấp để đi diễn thuyết về âm nhạc cải cách tại Bắc hà. Tuy nhiên vẫn có người như giáo sư nhạc sĩ Tô Vũ thì “tân nhạc viết solfège đầu tiên xuất hiện ở Sài Gòn do một tu sĩ Công giáo người Việt Nam viết những bài hát ca ngợi Đức Mẹ từ năm 1911”. [1]
Nghe bài hát:
Nửa Đêm Mừng Chúa Ra Đời. Tác giả: Phaolô Đạt.
Biểu diễn: Liên ca đoàn CĐCGVN/GP/Orange nhóm B.
Điều Khiển: Ca trưởng Hồng Trang - Organist: Phan Đắc Khải.
Đến trang tải lời nhạc bài hát (định dạng PDF): BẤM VÀO ĐÂY
Trong thập niên đầu của thế kỷ 20 trước đây, phong trào thánh nhạc Việt Nam ra đời với sự xuất hiện của nhiều bài ca Công Giáo vốn được coi là những tư liệu để chứng minh rằng có thể đây là khởi nguyên của nền âm nhạc Việt Nam chăng? Vào thời điểm đó, một bản thánh ca bất hủ được coi là một sáng tác kiệt xuất mà nhiều giáo xứ trước đây ở Trung, Nam hay Bắc mỗi khi mùa Giáng Sinh về cũng đều chọn làm bài hát chính trong thánh lễ hoặc trong các hoạt cảnh văn nghệ, đó là bài “Nửa Đêm Mừng Chúa Ra Đời”, do hai linh mục Phaolồ Đoàn Quang Đạt (1877-1956) và Gabriel Long là đồng tác giả. Về cuộc đời của cha Gabriel Long chúng tôi chưa có tư liệu để trình bày về tiểu sử của ngài chỉ biết cha Gabriel Long là một vị nhạc sư có lẽ dạy ở trong Tiểu chủng viện Sài Gòn trong những năm đầu của thế kỷ 20 và Linh mục Phaolồ Đoàn Quang Đạt là học trò của ngài.
Nếu trong cả một rừng nhạc xuân của Miền Nam trước năm 1975, bản Ly Rượu Mừng của nhạc sĩ Phạm Đình Chương được nhà văn Trần Doãn Nho gọi là bản quốc ca [2] nghĩa là không thể thiếu nó trong tất cả các buổi văn nghệ mừng Xuân, và nếu không hát bài đó thì mất đi nửa cuộc vui thì bài “Nửa Đêm Mừng Chúa Ra Đời” của cha Gabriel Long và cha Phaolồ Đạt là đỉnh cao của nền thánh nhạc Việt Nam mùa Giáng sinh, cũng mang một ý nghĩa từa tựa như vậy mà không thể bất cứ một bản nhạc do nhạc sĩ Công Giáo Việt Nam nào sáng tác sau này chiếm cứ hay xô ngã được chỗ đứng trọng yếu của nó trong lòng những người say mê nhạc giáng sinh.
Thuở nhỏ sống tại giáo xứ Tam Tòa Đồng Hới (Quảng Bình) những năm trước khi có hiệp định Genève chia đôi đất nước năm 1954, mỗi dịp lễ Giáng Sinh vào thời tiết rất lạnh, tôi thường theo gia đình đi dự lễ nửa đêm và vẫn được nghe bản thánh nhạc tuyệt vời này...
1.- Chân dung vị linh mục nhạc sĩ ở đầu nguồn suối nhạc thánh ca.
Nói rằng hai linh mục Phaolồ Đạt và Gabriel Long là những nhạc sĩ tiên khởi của nền âm nhạc Việt Nam nói chung và thánh nhạc nói riêng là một lời nói không ngoa chút nào. Chắc chắn sáng kiến sử dụng nhạc lý và ký âm pháp của nền âm nhạcTây phương vốn được dạy trong các trường dòng, chủng viện và dòng tu Việt Nam đã ảnh hưởng không ít đến các nhạc sĩ Việt Nam và dòng nhạc mệnh danh là nhạc tiền chiến. Điều này cũng chứng minh rằng trong lãnh vực văn hóa đạo Công Giáo đã đóng góp nhiều công sức của mình vào kho tàng tinh thần quý giá của Dân tộc trong hành trình đức tin.
Theo nhà sử học Lê Ngọc Bích (1937-2009), “Linh mục Phaolô Đoàn Quang Đạt sinh năm 1877 tại làng Bình Sơn (Lái Thiêu) ngày nay thuộc xã An Sơn, huyện Thuận An, tỉnh Bình Dương. Tuy sinh quán tại Bình Sơn – Lái Thiêu nhưng quê quán tổ phụ gốc từ Thừa Thiên, di dân vào Nam cuối triều Gia Long hoặc đầu triều Minh Mệnh. Dòng họ Đoàn của cha Phaolô Đạt theo đạo Công Giáo từ lâu đời và có người làm quan trong triều đình Huế. Có lẽ vào đầu triều Minh Mạng, nhà vua gay gắt với đạo Công Giáo, cho nên nhiều người dòng họ Đoàn đã theo dòng người Công Giáo chạy vào Nam trốn tránh cơn bắt đạo, tìm cuộc sống tự do để giữ đạo, cuộc sống tự do trong muôn vàn gian khổ có thể bỏ xác ở những vùng chướng khí, ác địa, những vùng gò nỗng cây cối um tùm đầy rắn dữ, cọp beo ma thiêng nước đôc...” [3] Ở Thừa Thiên, tại làng An Truyền cũng gọi làng Chuồn có dòng họ Đoàn với hai anh em nổi tiếng qua biến cố Giặc Chày Vôi ở Huế thời Tự Đức với người anh tên Đoàn Hữu Trưng và em là Đoàn Hữu Trực cũng gọi Đoàn Tư Trực. Họ Đoàn này có gốc ở tỉnh Quảng Bình gọi Chuồn gốc và họ Đoàn ở làng An Truyền gọi là Chuồn ngọn. Nếu tư liệu của Lê Ngọc Bích cho rằng dòng họ Đoàn của linh mục Đoàn Quang Đạt có người làm quan ở Huế thì biết đâu trong số những vị đó lại có bà con liên hệ với hai anh em Đoàn Hữu Trưng – Đoàn Hữu Trực. Và vì biến cố Giặc Chày Vôi mà nhiều người bị án tru di tam tộc trong đó có dòng họ Đoàn nên họ phải tìm cách trốn vào Miền Nam?
Cũng theo nhà sử học Lê Ngọc Bích, “Người họ Đoàn chạy vào Miền Nam có thể số đông, cho nên lúc đầu định cư khai khẩn ở vùng Lái Thiêu, sau đó trong thời bắt đạo quá gay gắt thì phân tán ra các vùng phía Đông phía Tây của đất Nam Kỳ Lục tỉnh. Điều này, ta có thể thấy rõ nét: Linh mục Đoàn Công Quí (Thánh Tử Đạo) sinh tại Búng (Thuận An, Sông Bé ngày nay), còn người cháu gọi bằng chú là linh mục Đoàn Công Triệu thì sinh tại Bình Sơn. Còn linh mục Đoàn Thanh Xuân thì sinh quán tại Lương Hòa (Long An). Qua vài nét về dòng họ Đoàn như trên, còn cho ta thấy gia tộc của cha Phaolô Đạt có được nhiều người làm linh mục, là một gia tộc có một nền móng đạo hạnh Công Giáo sâu xa bền vững, có được một vị hiển thánh linh mục Tử Đạo: Thánh Đoàn Công Quí.”[4] Giống tốt thì sinh cây tốt cho nên tất cả tinh hoa đạo hạnh của các bậc tiền bối đã quy tụ vào tài năng của vị linh mục tác giả bài thánh ca bất hủ “Nửa đêm mừng Chúa ra đời” mà chúng ta sẽ đề cập đến sau nhưng trước tiên cần biết qua quá trình tu đức, công tác mục vụ và sáng tác thánh nhạc của cha Phaolô Đạt.
Thuở nhỏ, cậu Phaolô Đạt đã đáp lại ơn gọi khi được nhận vào Tiểu Chủng Viện Sài Gòn và đã tỏ ra có tư chất thông minh nhất là có năng khiếu về âm nhạc trong những năm theo học các lớp nhỏ. Lúc bấy giờ linh mục Phaolô Nguyễn Văn Qui là cha giáo tại Tiểu chủng viện, một vị giáo sư thông minh và có năng khiếu âm nhạc, đã lưu ý đến kỹ năng âm nhạc của cậu Đạt nên tận tình hướng dẫn nhạc lý, kỹ thuật hòa âm, cách sử dụng một số nhạc khí căn bản của Tây Phương như Harminium, Piano, Violon v.v... cho cậu. Cha Qui cũng giúp cậu dịch các bài ca vịnh Trái Tim Chúa Giêsu và ca vịnh Đức Mẹ từ tiếng La Tinh sang Việt ngữ ngắn gọn và phổ nhạc theo nhịp điệu riêng biệt, làm thành hai quyển: một quyển “Ca Vịnh Trái Tim” và một quyển “Ca Vịnh Đức Mẹ”. Năm 1913, nhà in Tân Định xuất bản cả hai quyển nói trên, có in cả nốt nhạc. Nhà in Tân Định vốn có tên Imprimerie de la Mission là cơ quan xuất bản kỳ cựu nhất Việt Nam của Địa phận Sài Gòn vốn đã in rất nhiều sách báo về tôn giáo và văn hóa, có cơ sở ấn loát tại nhà thờ Tân Định đường Hai Bà Trưng, Sài Gòn.
Nghe những bài hát ca vịnh của Thầy Phaolô Đạt, linh mục Bề Trên Chủng viện Ernest vốn là một người giỏi dương cầm cũng phải khen ngợi: “Một lối nhạc vừa Đạo đức vừa Dân tộc.” Cha Gabriel Long, một nhạc sư lúc bấy giờ ở Sài Gòn cũng khen rằng: “Nhạc của Phaolô Đạt thật ngọt ngào say mến, đi sát với tinh thần của mỗi bài hát...” Có lẽ câu nói được thường xuyên nhắc tới “ Hát bằng hai lần cầu nguyện” cũng là lời khích lệ mọi người tu sĩ, giáo dân trong cuộc sống tinh thần hằng ngày.
Ngày 23-9-1911, Thầy Phaolô Đoàn Quang Đạt được Đức Giám Mục Lucien Mossard (tên VN là Mão) truyền chức linh mục tại nhà thờ Đức Bà Chính Tòa Sài Gòn. Sau khi được thụ phong chức thánh, linh mục Phaolô dạy học tại Tiểu chủng viện Sài Gòn trong gần hai thập niên, đem kiến thức truyền thụ lại cho các thế hệ đàn em, nhất là phát triển kỹ năng sáng tác thánh nhạc của mình. [5] Theo tư liệu của Trần Nhật Vy, sau khi chịu chức, linh mục Đạt làm Thư ký Tòa Tổng giám mục Sài Gòn, rồi linh mục phụ tá nhà thờ Tân Định từ năm 1920-1933 và về phụ trách nhà thờ Bà Rịa từ 1933-1949.
Năm 1933 làm cha sở giáo xứ Đất Đỏ (Bà Rịa, 1933-1949), linh mục Phaolô đã có sáng kiến tổ chức sinh hoạt giáo xứ rất ngoạn mục và có nhiều ý nghĩa sâu xa như tổ chức hoạt cảnh giáng sinh với cuộc rước tượng Chúa Hài Đồng vòng quanh nhà thờ, hát những bài ca giáng sinh La tinh rồi sau cùng ca đoàn cử lên bài hợp xướng “Nửa đêm mừng Chúa ra đời” do ngài sáng tác và tập dượt với phần thánh lễ kết thúc. Có tư liệu cho rằng khi làm cha sở Bà Rịa, cha Phaolô Đạt thường xuyên đích thân tổ chức các buổi học giáo lý vào mỗi chiều Chúa Nhật, giải thích các lễ nghi, ý nghĩa các phép bí tích và kinh đọc hằng ngày. Cha xây dựng thói quen đánh chuông “Truyền tin” – gọi là “Nhật một” mỗi ngày sáng, trưa, tối. Ngài cũng lập thói quen tốt giật chuông “báo tử” đọc kinh cầu cho linh hồng người vừa qua đời trong họ đạo. [6]. Thật ra lối đọc kinh Truyền Tin (Angelus) có từ lâu bên Âu châu nếu ta theo dõi một bức danh họa của Rembrand vẽ hai cặp vợ chồng của một nông dân đang làm việc ngoài đồng đang giữa trưa nghe tiếng chuông nhà thờ đã đứng lên kính cẩn đọc kinh nhớ về Thiên Chúa, thì sáng kiến của cha Phaolô cũng chỉ là tuân thủ theo một tập quán tôn giáo lâu đời ở Việt Nam rất đáng phục hoạt mà thôi.

Ngày 22-11-1933, khi 56 tuổi, cha Đoàn Quang Đạt được thuyên chuyển về giáo xứ Bà Rịa với cái đầu bạc trắng và bệnh hen suyễn khá nặng. Cha phải theo chế độ ăn uống kiêng cử nhiệm nhặt để tránh cơn bệnh hành hạ cha suốt ngày đêm. Tuy bệnh tình nhưng cha vẫn không bao giờ bỏ việc dâng Thánh lễ và các công tác mục vụ khác. Tháng 8 năm 1949, Đức Cha Địa phận Sài Gòn Jean Cassaigne đưa cha về Chủng viện để dưỡng bệnh. Sau đó linh mục Giuse Thiên, cha sở Chí Hòa xin bề trên cho cha Đạt về nhà hưu dưỡng các linh mục ở Chí Hòa.
Sáng ngày 21 tháng 2 năm 1956, Cha Đạt dâng thánh lễ sáng, đến trưa cơn suyễn nổi lên quá mạnh khiến ngài không chịu nổi, đã tắt thở lúc 13 giờ trưa, thọ 79 tuổi, sau 45 năm phục vụ Chúa và dâng hiến những công trình tim óc cho nền Thánh nhạc Công giáo. [7]
2.- Về bản thánh ca giáng sinh bất hủ “Nửa đêm mừng Chúa ra đời”. ..
Linh mục Phaolô Đoàn Quang Đạt có một nếp sống rất khắc khổ, đạo đức, bị hen suyễn thường xuyên. Vốn là người đa tài thuộc nhiều lãnh vực như âm nhạc, hội họa, kiến trúc, linh mục Đạt được coi là tác giả thiết kế nhà thờ Biên Hòa hiện nay. [6] Những sáng tác của cha Phaolô Đạt để lại tuy ít nhưng đều là những bài hát có chất lượng cao, kỹ thuật phong phú, điêu luyện có lẽ đã được sáng tác trong thời gian làm giáo sư Tiểu chủng viện Sài gòn giai đoạn 1911-1933. Đó là 3 bài thánh ca:
- Nửa đêm mừng Chúa ra đời,
- Kinh nguyện Chúa Thánh Thần,
- Tôi kính lạy Chúa Giêsu.
Các bài thánh ca này hòa âm ba phần, tiết tấu dịu dàng, êm ái, không cầu kỳ, đúng tinh thần thánh nhạc. Các bài ca ngợi Chúa Giêsu và ca ngợi Đức Mẹ được khắp nơi trong các nhà thờ giáo phận Sài Gòn hát lên trong thánh lễ.
Theo ông Nguyễn Văn Quí, “sở dĩ linh mục Đoàn Quang Đạt viết nhạc là vì những tác phẩm ca hát trong nhà thờ trước đây đều là nhạc nước ngoài và bằng tiếng La tinh, số đông giáo dân hát không được. Chính vì vậy, ông Đạt liền nghĩ ra cách dịch lại những bài hát này cho giáo dân hát. Nhưng những bài hát nhạc ngoại bằng tiếng Việt này vẫn khó hát. Cuối cùng, ông nghĩ viết hẳn những bài hát bằng tiếng Việt ký âm theo nhạc lý phương Tây. Còn linh mục Nguyễn Hữu Tấn – giám đốc Đại chủng viện Sài Gòn – cho biết những bài hát của linh mục Đạt rất khác với nhạc Tây, mà giống với vọng cổ của miền Nam hơn. Còn linh mục Đỗ Xuân Quế, đặc trách về thánh nhạc của giáo phận Sài Gòn, cũng thừa nhận linh mục Đạt “rất giỏi nhạc” và “bài hát Nửa đêm mừng Chúa ra đời của ông đến nay vẫn còn dùng”. Linh mục Quế còn cho biết ông được nghe kể linh mục Đạt đã nghiên cứu từng bước chân trâu bò đi trên đường để viết phần nhạc trong bài Nửa đêm mừng Chúa ra đời và bài ca này ông đã nghe từ những năm 1930 khi còn ở miền Bắc... Thế nhưng cha Đạt viết những bài hát ấy từ lúc nào? Theo tài liệu hiện có thì ít nhất ông đã viết những bài hát bằng tiếng Việt từ trước năm 1913. Trong tập nhạc Ca ngợi rất thánh trái tim đức Chúa Giêsu in tại nhà in Imprimerie de la Mission (nhà in trong nhà thờ Tân Định) số 289 rue Paul Blanchy (nay là đường Hai Bà Trưng) năm 1942 có ghi lời bạt của linh mục Phaolô Qui vào ngày 1-5-1913. Linh mục Qui mất vào năm 1914. Một tài liệu khác là cuốn kinh Mục lục Sài Gòn in năm 1899 có chép toàn bộ phần lời của bài ca Nửa đêm mừng Chúa ra đời, nhưng không có phần nhạc...” [8] Như vậy bài thánh ca bất hủ Nửa đêm mừng Chúa ra đời chính là bản tân nhạc đầu tiên của Việt Nam, xuất hiện ít nhất cũng từ năm 1899, do một linh mục sáng tác để ca tụng Thiên Chúa đã giáng sinh làm người và ở cùng chúng ta (Emmanuel).
Cũng theo Lê Ngọc Bích, “Anh Lê Đình Bảng, nhà thơ, nhà nghiên cứu thi ca, âm nhạc Công Giáo Việt Nam có ý kiến rằng: “(...) Theo nhận định của những nhà nghiên cứu về nhạc sử thì ngay từ năm 1910 ở Nam Bộ đã có những linh mục, thầy giảng, nữ tu và bổn đạo người Việt hát hoặc điều khiển được những bài hát 2, 3 bè khá thành thạo. Có người đã sử dụng nhuần nhuyễn các loại nhạc cụ như harmonium, piano, violon (...) Chúng tôi dựa vào một chứng từ cụ thể của nhà in Tân Định (Imprimerie de la Mission) năm 1942. Đó là 2 tập sách hát mang tên “Ca ngợi Rất thánh Trái tim Đức Chúa Giêsu” và “Ca ngợi Đức Bà Maria”. Có thể xác định thời điểm xuất hiện và tác giả của những bài thánh ca VN đầu tiên ấy qua phần giới thiệu do “linh mục bổn quốc” Phaolô Qui (1855-1914) cha sở họ đạo Cầu Bông viết ngày 1-5-1913 cho cả 2 tập sách này: “... Nguyên những bài ca trong sách nàyu đã rút ra bởi những kinh (Latinh) Hội thánh quen đọc (...). Những ca ngợi ấy là của cha Tôma Đoan, cha ở Huế và cha Phaolô Đạt.”
“Nổi tiếng nhất trong đó có bài “Nửa đêm mừng Chúa ra đời” của cha Phaolô Đoàn Quang Đạt (1877-1956). Đã có dư luận cho rằng bài này là bản thánh ca mang dáng dấp hợp xướng đầu tiên trong lịch sử Thánh nhạc Thánh ca Việt Nam? Chúng tôi chưa dám đoan quyết như thế, bởi chưa có đủ chứng cứ cụ thể. Chỉ trộm nghĩ, có lẽ cảm hứng từ những ca khúc về Giáng sinh như “Il est né le Divin Enfant”, “Les Anges dans nos campagnes”, “Puer natus est”, “Gloria in excelcis Deo”và đặc biệt xuất phát từ tâm tình vồn vã, sốt sắng và nhạy cảm của một người con Chúa ở quê hương miệt vườn xứi Búng, tác giả Đoàn Quang Đạt (...)”.
“Bên cạnh giá trị về giai điệu và cung bậc mang âm hưởng dân tộc, còn phải kể tới giá trị về lời ca là toàn văn của bài kinh vãn cùng tên trong Sách kinh Mục lục của địa phận Sài Gòn, một pho bách khoa toàn thư đậm đặc thứ ngôn ngữ giàu hình tượng rất riêng của những người con Chúa ở phương Nam.” [9]
Trong đêm Thánh ca Giáng sinh tổ chức tại Trung Tâm Mục Vụ Tổng Giáo phận Sài Gòn tối 12-12-2010, ca đoàn giáo xứ Thị Nghè đã trình bày bản thánh ca Nửa đêm mừng Chúa ra đời cùng với dàn nhạc dân tộc của các nghệ sĩ Nhạc viện Thành phố với sự điều khiển của linh mục Sỹ Tùng. Bản thánh ca này với giai điệu du dương, cung bậc dịu dàng mang âm hưởng dân tộc và lời hát tuy cổ xưa nhưng được sử dụng đúng chỗ, đúng cách đã mang đến cho tác phẩm giá trị vượt cả không gian xen lẫn thời gian cũng đáng được thưởng thức và chiêm nghiệm lại nguyên tác như sau:
Nửa đêm mừng Chúa ra đời. Bức khăn sạch vấn để nơi hang lừa. Nửa đêm mừng Chúa ra đời. Cỏ rơm trải lót bơ thờ. Chút cỏ rơm bơ thờ. Cỏ rơm trải lót bơ thờ. Mượn ấm bò lừa quỳ thở dâng hơi, quỳ thở dâng hơi. Kiểng tinh soi sáng thâu đêm. (Soi thâu đêm) Kiểng tinh soi sáng thâu đêm.(Soi thâu đêm). Chói lói giữa trời, nhỏ xuống Bê-Linh. Thiên thần chín đấng chầu quanh, thiên thần chính đấng chầu quanh. Tấu nhạc rập ràng, đờn hát, đờn hát xướng ca. Vậy có ca rằng, rằng ca Thiên Chúa, rằng ca Thiên Chúa. Ớ loài người ấy phúc lành bình an cho người vì cửa Thiên Đàng rộng mở, Tang tình tình tang Thiên Đàng rộng mở. Tang tình tình tang Thiên Đàng rộng mở. Chúa cả ra ơn, ơn cả chữa đời. Rằng: Hỡi chúng dân (Kìa trong hang đá nọ), tới xem điềm lạ. Kìa trong hang đá, nọ trước lều tranh. Rằng tính tình tang, Thánh Tiểu Hài sinh. Thật ngôi linh tính tang tình là tình Thiên Chúa. Nằm trong !máng cỏ bó bức khăn đơn. Rằng: Bớ chúng ngươi! tới xem điềm lạ !(Bay xem thì biết), Kìa trong hang đá, nọ trước lều tranh rằng tinh tình tinh Thánh Tiểu Hài sinh. Thật ngôi linh tính thất tinh là tình Thiên Chúa. Thiên thần vô số. Nhạc thổi rân. Thiên thần vô số. Nhạc thổi tung hô.”
Với một số danh từ cổ được sử dụng nơi đây như kiểng tinh (sao sáng, rất sáng), bơ thờ có nghĩa đơn sơ, hèn mọn, tình tang âm hưởng của những làn điệu dân ca, ớ, bớ là những tán thán từ đậm nét dân tộc cùng với những luồng nhạc khi mạnh mẽ như sóng gió để biểu lộ sự vui mừng, lúc chậm rãi kêu mời như tơ vàng óng ánh, bản thánh ca Nửa đêm mừng Chúa ra đời với ba phần hòa âm nhịp nhàng, gắn bó, quyện khúc, nâng đỡ, tung hứng trong những tiết điệu say sưa, hấp dẫn bộc lộ cả cung lòng mến yêu diệu vợi như không thể nào nói lên hết được tâm tình của một người tín hữu mà nhà thơ Hàn Mặc Tử từng từng thống thiết say mơ:
Cho tôi thắp hai hàng cây bạch lạp
Khói nghiêm trang sẽ dâng lên tràn ngập
Cả Hàn giang, cả màu sắc thinh không
Lút trí khôn và ám ảnh hương lòng
Cho sốt sắng, cho đê mê nguyền ước...
Trước khi tôi viết bài này thì cũng được biết chị Ngọc-Diếu vốn là một ca đoàn trưởng nhiều kinh nghiệm từng đóng góp lời ca tiếng hát của mình suốt gần 60 năm từ những ngày còn ở xứ đạo Tam Tòa, Đồng Hới, Quảng Bình năm 1949-1950 cho đến giáo xứ Tam Tòa, Đà Nẵng năm 1954 và sau năm 1975 đến nay còn tiếp tục giúp cho các ca đoàn của Giáo xứ Tân Hòa, Đa-Minh, Tổng Giáo Phận Sài Gòn hiện cũng đang đóng góp phần kỹ thuật cho các ca viên hát lại bản thánh ca bất hủ này. Đây là một nét trổi bật trong nghệ thuật thánh về nguồn thông qua suối nhạc mà công sức của hai linh mục Gabriel Long và Phao lô Đạt cần được hậu thế ghi nhớ.
Ước mong hằng năm vào dip lễ Giáng sinh, bài thánh ca Nửa đêm mừng Chúa ra đời dù khó hát, khó tập vì đòi hỏi nhiều kỹ thuật và cố gắng của ca viên, sẽ được các ca đoàn trong mọi giáo xứ trên khắp miền đất nước Việt Nam cùng các cộng đoàn hải ngoại hát lên để nhớ về một bản thánh ca tuyệt tác của nền thánh nhạc Việt Nam tiên phong đi vào vườn hoa nghệ thuật của Dân Tộc, mở đường cho nền tân nhạc Việt Nam tiến lên, đồng thời cũng là để dâng lên Chúa Hài Nhi một tác phẩm xứng đáng là đại diện của nền thánh nhạc Việt nam có khả năng chen vai thích cánh với các bài ca bất hủ như Silent Night của Âu châu và Bắc Mỹ, Il est né le Divin Enfant của Pháp, bài Adeste Fideles của văn chương La tinh, bản Hội nhạc Thiên quốc của Thánh Alphonso, bài Feliz Navidad của các giáo hội Trung và Nam Mỹ...
Jersey City 19 -12- 2010, Mùa Giáng Sinh 2010
Nguyễn Đức Cung
CHÚ THÍCH:
1.- Trần Nhật Vy, Tân nhạc Việt Nam từ năm 1911?, Tuổi Trẻ Xuân Canh Thìn, 2000, trang 30.
2.- Trần Doãn Nho, Nhạc Xuân, Tạp chí Thế Kỷ 21, số Xuân năm 2005.
3.- Lê Ngọc Bích, Nhân Vật Công Giáo Việt Nam, Thế kỷ XVIII-XIX-XX, tài liệu lưu hành nội bộ, 2006, trang 501.
4.-Lê Ngọc Bích, Sđd, trang 502].
5.- Lê Ngọc Bích, Sđd, trang 502.
6.- Lê Ngọc Bích, Sđd, trang 503
7.-Lê Ngọc Bích, Sđd, trang 505.
8.-Trần Nhật Vy, bài đã dẫn.
9.-Lê Ngọc Bích, Sđd, trang 504.
Tác giả bài viết: Nguyễn Đức Cung PX55

Nguồn tin: Gia đình Cựu Chủng sinh Huế

Thứ Tư, 22 tháng 12, 2010

Người Cắm Lều Ở Giữa Chúng Ta

NGƯỜI CẮM LỀU Ở GIỮA CHÚNG TA. (GA 1, 14)

Thánh Grêgôriô áp dụng cái lều là thân xác của con người đã bị rệu rã yếu đuối, u buồn đau khổ dưới ách tội lỗi và cũng vậy đối với thế giới đang bị đào bới bởi lòng tham và rách nát trong hưởng thụ của một số người.
Giáng Sinh, Chúa mang đến sứ điệp gì trong căn lều tả tơi ? Chính Người cũng sinh hạ trong nơi cơ hàn.
Chiếc lều con người.
Chúa hạ sinh trong thân xác con người, dù không được sinh ra một chỗ đàng hoàng nhưng là một sự sống quý giá. Sự sống được tôn trọng bởi người cha, người mẹ thánh thiện, nâng niu bảo vệ cho sự sống khởi đầu của con trẻ. Giàu sang, xa hoa, nhưng không bảo vệ từng sự sống của những đứa con của họ, làm sao có thể nói đó là chiếc nôi cần thiết cho đứa trẻ ra đời? Tình yêu của cha mẹ là chiếc nôi êm ái nhất cho đứa con; bởi vì đơn giản, con trẻ cũng chỉ cần bấy nhiêu. Chúng không quan tâm đến nhà cao cửa rộng, bao bọc bằng mọi thứ sang trọng của vật chất, mà chính chúng lại trở thành nỗi bất an cho cha mẹ để khiến cha mẹ chúng loại bỏ chúng khi vừa thụ thai hay vài tuần tuổi hoặc vứt bỏ nó khi vừa sinh ra.
Chúa mang lấy thân phận đau khổ của con người, đón nhận sinh hạ trong nghèo khó để rồi đón lấy thập giá để ra khỏi cõi đời. Con người sẽ nhìn vào đó và suy nghĩ, tại sao Chúa không cứu con người bằng một lời phán, mọi sự đều được cứu rỗi? Chúa đến đón nhận thân phận của con người khổ đau, để tất cả những ai đang khổ đau vì lòng tham sống của kẻ khác, những ai đang chịu bất công dưới bao sự ác đè bẹp, cho tất cả những ai phải mang những hậu quả không do chính họ gây nên, để nói với con người tự coi mình có quyền trên kẻ khác rằng: Sự sống của con người luôn chịu đóng đinh vì lòng tham, sân, si của họ.
Chúa cắm lều giữa nhân loại để nói với con người về mỗi phẩm giá của con người. Con người cần được sinh ra, cần được tôn trọng, mọi sự sống đề cao quý, để cùng nhau sống, cùng chia sẻ một trách nhiệm bảo tồn trái đất, bảo tồn sự sống phát triển. Một chiếc lều thân phận đã bị rách nát, bởi những miền đất nghèo đói, do thiên tai, do bầu khí chính trị, do chiến tranh, do bị tước đoạt tài nguyên…Chúa mặc lấy thân phận con người để nói lên rằng phẩm giá con người cần được tôn trọng.
Chiếc lều thế giới.
Bên cạnh những tòa nhà chọc trời vẫn không thiếu gì những chiếc lều rách nát làm nơi trú ngụ để sinh sống. Lời nguyền của tài nguyên bao giờ cũng đến với người nghèo trước tiên. Cặm cụi trên mảnh đất nhỏ bé bị ô nhiễm bởi chất thải của các nhà máy, khu công nghiệp. Chất thải từ nơi mảnh đất xưa kia mang bao vị thơm ngon của trà và cà phê nay trở thành công trường khai thác. Chất thải đổ ra sông suối, xưa kia tưới mát cánh đồng nay nặng mùi chết chóc. Cứ ở đâu có thể hái ra tiền, con người ích kỷ, tham lam vơ vét không suy xét, rồi bỏ chạy để lại đống hoang tàn, phế thải cho những con người đang sống ở đấy chết dở sống dở. Nhà trọ, chỗ êm ấm, những tòa nhà, biệt thự không là chỗ cho người nghèo, người nghèo chỉ có chiếc lều tả tơi trên mảnh đất đầy ô nhiễm, bên những dòng sông chết. Người nghèo cũng như khuôn mặt nghèo của trái đất đã bị lấy mất hết những gì quý giá, bị tận diệt từ những khu rừng cho đến những khoáng sản nằm dưới lòng đất.
Một thế giới thảm hại trong bão lũ, trong những thiên tai, động đất, đất chuồi, tan băng, tầng Ôzôn bị tàn phá, thiên nhiên bị cày xới… Chiếc lều là những gì còn lại thảm thương do một số người trục lợi quá sức trái đất này, bắt thiên nhiên phục vụ những ý tưởng ngông cuồng của họ, muốn nắm giữ tài nguyên để làm chủ thế giới. Thế giới không cần những vị vua cai quản tham tàn như thế, thế giới cần một vị vua đích thực, một “hoàng tử bình an”, “một ông vua thái bình”, một Đấng tràn đầy chân lý và tình yêu ngự trị cai quản. Từ đó thế giới đã đón nhận Con Thiên Chúa cắm lều ở giữa nhân loại.
Sứ điệp Giáng sinh
Thiên Chúa đã cắm lều vào trong trái đất hoang tàn này, để khởi sự sứ điệp của Isaia đã loan báo: “Phải, Ta sẽ mở một con đường giữa sa mạc, khơi những dòng sông tại vùng đất khô cằn (Is 43, 19)
Sứ điệp của Giáng sinh vẫn là một sứ điệp mừng vui cho con người nghèo khó, đang chịu nhiều áp bức. Sứ điệp bình an cho cả thế giới với những căn lều còn rộng lòng đón tiếp Người.Con đường giữa sa mạc là những quan lộ thẳng băng: “Lẽ chính trực sẽ ở trong sa mạc, và đức công minh trong vườn cây ăn trái.” (Is 32, 16).
Thiên Chúa thực hiện tái tạo công trình của Người từ những gì con người đã vất bỏ, những con người chịu áp bức bất công. Từ sa mạc của trần gian Thiên Chúa mở lối, đó là sứ điệp an ủi biết bao con người đau khổ của trần thế này tìm thấy hy vọng, cho thế giới đang tang thương này thắp sáng một niềm tin khôi phục, “sa mạc trở thành vườn cây ăn trái và vườn cây ăn trái trở thành những khu rừng” (Is 32, 15).
Chúa đến và đã đến xin Người thành sự những gì Người đã khởi đầu, để con người nghèo và thế giới bị tang thương này được mang lấy khuôn mặt tươi vui tràn đầy sức sống.
L.m Giuse Hoàng Kim Toan
Nguồn: dunglac.org

Thứ Ba, 21 tháng 12, 2010

Tản Mạn Hang Đá

1.

Bắt đầu từ chủ nhật thứ nhất mùa vọng, thì các nhà thờ đã rục rịch làm hang đá, chuẩn bị mừng ngày đại lễ Giáng Sinh của Chúa Giê-su Ki-tô. Phúc Âm của thánh Lu-ca tường thuật rất rõ ràng về cái nôi Chúa Giê-su Ki-tô giáng sinh như sau: “Khi hai người đang ở đó, thì bà Ma-ri-a đã tới ngày mãn nguyệt khai hoa. Bà sinh con trai đầu lòng, lấy tã bọc con, rồi đặt nằm trong máng cỏ, vì hai ông bà không tìm được chỗ trong nhà trọ (Lc 1, 6-7)”.

Máng cỏ là cái máng để cỏ cho lừa ăn, nó hôi hám, xấu xí, nghèo hèn và không có “thân phận” như cái bàn cái ghế, nhưng nó lại được diễm phúc trở thành cái nôi cho Chúa trời đất đặt tấm thân nhỏ bé lạnh lẽo, nó trở thành cái máng cỏ hạnh phúc và vinh dự nhất, hơn cả cung điện lâu đài của các vua chúa ở trần gian. Và chuồng lừa, ôi hạnh phúc thay, nó trở thành cung điện huy hoàng, thiên đàng hạnh phúc, bởi vì Chúa trời đất đang ngự trong nó.

2.

Thế giới ngày càng văn minh hiện đại, mỗi năm khi đại lễ Giáng Sinh sắp đến, thì tất cả các nhà thờ trên thế giới đều có làm hang đá để kỷ niệm Chúa Giê-su Ki-tô giáng sinh trong chuồng lừa máng cỏ, những máng cỏ trở thành hiện đại với những ánh đèn chớp chớp xanh đỏ thật đẹp và thật vui.

Có những nhà thờ, ngoài cái hang đá to lớn lộng lẫy trong nhà thờ, thì cha sở muốn mỗi khu xóm làm một cái hang đá ở trong khuôn viên nhà thờ để thi đua, thế là Chúa Giê-su Hài Đồng được các khu xóm thi đua trang hoàng hang đá cho mình thật đẹp, tốn thật nhiều tiền (trong đó có các gia đình nghèo không đủ ăn), nhưng tâm hồn của họ thì đầy ắp quỷ kiêu ngạo vì hang đá của khu xóm mình đẹp nhất, quỷ ghen tỵ cũng len lõi vào trong tâm hồn họ với những phân bì vì hang đá nhà giàu hang đá nhà nghèo...

3.

Mọi nhà thờ đều làm hang đá, thi đua làm hang đá, giáo dân hăng say nhiệt tình làm hang đá, cha sở vô tư nhắc nhở giáo dân năm nay hang đá phải làm cho thật nổi đình nổi đám, nhưng có mấy cha sở nhắc nhở giáo dân và dạy cho họ biết rằng: hang đá đẹp nhất mà Chúa Giê-su Hài Đồng thích nhất chính là tâm hồn của mỗi người, hãy trang hoàng, dọn dẹp tâm hồn cho đẹp đẽ tráng lệ để cho Ngài sinh ra trong tâm hồn của mình. Hang đá đẹp nhất chính là gia đình của mình, đem yêu thương và phục vụ trang hoàng gia đình cho thật đẹp, để Chúa Giê-su Hài Đồng sinh ra trong gia đình của mình.

Hang đá thật và đẹp nhất chính là tâm hồn của mỗi người Ki-tô hữu, chỉ có hang đá ấy mới xứng đáng để cho Chúa Giê-su Hài Đồng sinh ra. Khi cuộc sống ngày càng tiện nghi tiện dụng, khi đời sống con người ngày càng hưởng thụ vật chất, thì những hang đá cũng phản ảnh lại đời sống của họ, tiên tri I-sai-a đã nói: “Có tiếng người hô trong hoang địa: hãy dọn sẵn con đường cho Đức Chúa, sửa lối cho thẳng để Người đi (Mc 1, 3)”. Dọn tâm hồn để trở thành hang đá cho Chúa ngự đến, đó là sứ điệp mà thánh Gioan Tiền Hô đã tuyên bố trong các mùa vọng.

4.

Máng cỏ là biểu tượng của sự nghèo hèn trong xã hội vật chất hưởng thụ; máng cỏ cũng đồng thời tượng trưng cho những mảnh đời bất hạnh trong xã hội; máng cỏ cũng là những con người vô gia cư sau những trận bảo lụt kinh hoàng ở miền trung, là những em bé mồ côi cha mẹ khi sông nước dâng lên cuốn đi tất cả người thân của mình.

Bớt đi một cái máng cỏ ngoài nhà thờ (chỉ để mà nhìn rồi khen và chê mà thôi) tốn cả trăm triệu, để giúp các người nghèo làm một mái nhà tranh che mưa che nắng, đó chính là giúp cho Chúa Hài Nhi một cái máng cỏ có ý nghĩa; bớt đi một hộp đèn chớp chớp cả mấy trăm ngàn đồng, để mua sách vở tập viết cho các em bị thiên tai bảo lụt đang thiếu thốn trần truồng như Chúa Giê-su ngày xưa trong hang lừa máng cỏ...

Kết.

Hang đá trong nhà thờ mỗi năm mỗi hiện đại và lộng lẫy, nhưng Chúa Giê-su Hài Nhi lại không có nơi để trú ngụ, bởi vì có một vài người nói: lễ giáng sinh mỗi năm chỉ có một lần nên làm cho hoành tráng; bởi vì có một vài môn đệ của Ngài nói: làm cho lớn cho nổi để truyền giáo, để cho mọi người biết Chúa. Chúa Giê-su không thích những lý do “hiện đại” ấy...

Thời nay có rất nhiều người biết lễ Giáng Sinh là lễ Chúa Giê-su của người Công Giáo giáng trần, nhưng có mấy ai tin vào Ngài, bởi vì có những người Ki-tô hữu chưa làm cho tâm hồn của mình trở thành hang đá cho Ngài sinh ra, và bởi vì người Ki-tô hữu chỉ biết làm hang đá trong nhà thờ của mình, mà không biết làm hang đá Chúa trong tâm hồn những người nghèo khổ bất hạnh chung quanh họ...


“Đêm đông lạnh lẽo Chúa sinh ra đời nằm trong háng đá nơi máng lừa...”



Giáng Sinh 2010


---------------------

http://www.vietcatholic.net/nhantai

http://vn.360plus.yahoo.com/jmtaiby

jmtaiby@yahoo.com taibytw@hotmail.com

Lm. Giuse Maria Nhân Tài, csjb.

Thứ Hai, 20 tháng 12, 2010

MỪNG CHÚA GIÁNG SINH

KÍNH CHÚC TOÀN THỂ ĐẠI GIA ĐÌNH NGUYỄN TỘC - AN DU BẮC
MỘT MÙA GIÁNG SINH 2010
VÀ MỘT NĂM 2011
TRÀN ĐẦY ƠN THÁNH
*

Giáng Sinh Trong Tâm Thức Người Việt

GIÁNG SINH TRONG TÂM THỨC NGƯỜI VIỆT
Từ lâu, Giáng Sinh đã trở thành ngày đại lễ có ý nghĩa đặc biệt trong tâm thức người Việt nói chung. Cứ mỗi độ Giáng Sinh về, những người dân Việt Nam dù khác biệt niềm tin tôn giáo vẫn hòa chung trong niềm vui Giáng Sinh.

1. Liên đới trong đời sống cộng đồng
Tính cộng đồng là một nét tinh hoa trong bản sắc văn hóa Việt Nam. Có nhiều người đã đặt vấn đề “đâu là hồn Việt, và đâu là nét tinh túy nhất của con cháu Lạc Hồng ?”, thì chúng ta không thể không nói đến tính cố kết cộng đồng. Đây là điểm giao thoa giữa văn hóa Việt Nam với Kitô giáo trong diễn trình Đạo Công Giáo phát triển trên đất Việt Nam. Lễ Giáng Sinh là dịp tốt để người Việt nói chung có thể gặp gỡ giao lưu và phát huy đời sống cộng đồng ngày một tốt đẹp hơn. Sức sống ấy đang được biểu tỏ mỗi lần Giáng Sinh về. Đông đảo những người lương dân xa gần thích được về các xứ đạo, muốn được đến các Nhà thờ trong đêm Giáng Sinh, vừa để chứng kiến và trong sâu thẳm, họ muốn được sẻ chia tình liên đới với cộng đoàn Kitô hữu.
Hiện nay, khi các sinh hoạt văn hóa mang đậm tính cộng đồng tại những làng quê Việt ngày một phai nhạt và bị xem nhẹ, rất đông người dân cảm thấy hụt hẫng và họ cần được lấp đầy khoảng trống ấy. Trong đêm Giáng Sinh, dù rất bận rộn, nhiều người trong số họ đã đến với bà con giáo dân để cảm nghiệm bầu khí của một đại gia đình thực sự, điều mà họ khó nghiệm thấy trong cuộc sống thường nhật. Họ có thể không thuộc những lời kinh, lời thánh ca nào đó, nhưng chính những lời tâm tình ấy đã nói thay ước nguyện của họ, muốn được vươn ra khỏi cái tôi tầm thường để hòa nhập vào giữa cộng đoàn yêu thương, vị tha. Họ muốn được đến cùng người Kitô hữu trong đêm Giáng Sinh như dấu chỉ hy vọng khơi dậy tương quan mật thiết giữa những con người vốn cùng chịu thương chịu khó trước những biến động của lịch sử xã hội.
Thật vui biết bao khi những người lương dân lại đến với các gia đình Công giáo để thăm hỏi, chia vui và cầu chúc cho nhau những điều tốt lành trong ngày lễ Giáng Sinh. Bầu khí tại các gia đình và những làng quê trở nên ấp áp, thân thiết và cố kết hơn khi tất cả cùng hướng về Hài Nhi Giêsu như biểu tượng tối thượng của yêu thương, hòa bình.
2. Liên đới trong giá trị đạo đức
Người Việt còn có truyền thống tương thân tương ái, vị tha. Tính cố kết trong đời sống cộng đồng đã tạo cho tâm thức của đồng bào ta biết quan tâm đến nhau, giúp đỡ nhau trong vui buồn cuộc sống. Những con người dù không cùng niềm tin tôn giáo nhưng vẫn đến tham dự lễ Giáng Sinh với thiện chí muốn kết chặt hơn liên đới các giá trị đạo đức ấy. Họ nhận thấy nơi Đấng Cứu Thế một mẫu gương tuyệt hảo về lòng vị tha nhân ái, điều mà họ không được thỏa mãn nơi những thần tượng lãnh tụ hay một anh hùng dân tộc nào đó. Họ tìm thấy nơi Hài Nhi Giêsu điểm tuơng đồng, dễ gần với cuộc sống của những người dân nghèo nàn, phải vất vả một nắng hai sương kinh qua đêm trường tăm tối của thời cuộc. Chính sứ điệp Giáng Sinh đã lay động họ hơn bất cứ học thuyết chính trị xã hội nào. Truớc nền giáo dục đang có biểu hiện suy đồi trầm trọng, họ ý thức sâu xa hơn bài học đạo đức mà Ngôi Hai Thiên Chúa đang gửi trao cho muôn người, cho dù niềm tin ấy đối với họ có thể còn rất mơ hồ. Với thái độ thành kính trước hang đá nhỏ, những con người dù chưa “rửa tội” vẫn có thể hiểu được Đấng Cứu Chúa sinh ra nơi máng cỏ đơn hèn đã từng sống kiếp phàm nhân cách triệt để, chỉ vì minh chứng cho Tình Yêu – Nơi Ngài, giá trị của tình yêu tự hiến trở thành điểm tựa cho những tâm hồn muốn hy sinh xả kỷ vì hạnh phúc đồng bào, quê hương mình.
3. Liên đới trong nhu cầu tâm linh.
Đại lễ Giáng Sinh thu hút đông đảo những người trẻ khác biệt niềm tin không chỉ vì đáp ứng một niềm vui thuần túy. Hơn thế nữa, yếu tố tâm linh là nhu cầu cấp thiết cho người trẻ trong bối cảnh xã hội hôm nay. Họ đến với Hài Nhi Giêsu để có thế lấp đầy khoảng trống tâm hồn trước một xã hội, một nền giáo dục mất định hướng. “Đêm Thánh Vô Cùng” mở ra cho họ tương lai tối hậu để sống đúng phẩm giá của những con người đích thực. Chúng ta dễ dàng gặp thấy những người trẻ lương dân đứng cầu nguyện thành khẩn bên hang đá nhỏ trong đêm Giáng Sinh. Sự thành khẩn ấy cho ta thấy dấu hiệu khả quan của sứ điệp cứu độ.
Việt Nam, mảnh đất màu mỡ cho việc vun trồng những hạt mầm đức tin đang cựa mình nơi những tâm hồn trẻ. Đã đến lúc, chúng ta cần ưu tiên việc thực thi sứ vụ rao giảng Tin Mừng trong việc thấu hiểu và dấn thân hiện thực hóa dấu hiệu khả quan ấy theo lời mời gọi của Ngôi Hai giáng sinh làm người.
J.B. Nguyễn Quốc Tuấn
(ĐCV Vinh Thanh)
Nguồn: dunglac.org